TIN TỨC

Cảm hứng miền núi qua một số bài thơ trong chương trình Ngữ văn mới

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-15 01:22:16
mail facebook google pos stwis
2889 lượt xem

Nguyễn Quỳnh Anh

Cảm hứng miền núi trong chương trình Ngữ văn phổ thông đã được các nhà soạn SGK quan tâm từ nhiều năm trước đây và được thể hiện rõ qua việc giới thiệu những tác phẩm về đề tài miền núi từ văn học dân gian đến văn học viết.

Đó là truyện thơ Tiễn dặn người yêu (dân tộc Thái), Sử thi Đẻ đất đẻ nước (dân tộc Mường), Đăm Săn (dân tộc Ê đê) … rồi đến các tác phẩm của các nhà thơ dân tộc như Nông Quốc Chấn, Y Phương hay những nhà văn miền xuôi có sáng tác về miền núi như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng… Kế thừa những thành tựu đó, SGK Ngữ văn theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tiếp tục giới thiệu được những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ miền núi với những tác phẩm lấy cảm hứng từ miền núi gắn với nền văn học đương đại đang diễn ra vô  cùng phong phú. Trong phạm vi bài viết nhỏ này, chúng tôi xin được giới thiệu một số bài thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số trong SGK Ngữ văn mới (theo chương trình GDPT 2018).

1. Nhà thơ Mai Liễu (1949 – 2020): là nhà thơ dân tộc Tày, tên thật là Ma Văn Liễu, sinh tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang. Mai Liễu nổi tiếng với những vần thơ thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt là những vần thơ về cuộc sống, văn hóa phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, biên giới. Với khoảng 50 năm sáng tác, ông đã để lại các tập thơ đã xuất bản như: “Suối làng” (1994), “Mây vẫn bay về núi” (1995), “Lời then ai buộc” (1996), “Tìm tuổi” (1998), “Giấc mơ của núi” (2001), “Đầu nguồn mây trắng” (2004), “Bếp lửa nhà sàn” (2005), “Núi vẫn còn mưa” (2013), tuyển tập “Thơ Mai Liễu” cùng nhiều bài viết khác. Bài thơ Nếu mai em về Chiêm Hóa (in trong tập Thơ Mai Liễu) được nhà thơ sáng tác năm 1995, được đưa vào SGK Ngữ văn 8 (bộ Cánh diều) là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của ông. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ với cảnh săc thiên nhiên mùa xuân cùng con người và những phong tục tập quán, những nét đẹp trong lễ hội mùa xuân ở vùng quê chiêm hóa thân thương, qua đoa nhà thơ bộc lộ tình yêu tha thiết với cảnh sắc và con người nơi đây.

Nhan đề bài thơ như một giả thiết đồng thời như lời mời gọi nhân vật trữ tình về với quê hương Chiêm Hóa, từ đó mạch cảm xúc tuôn trào với bao cung bậc. Trước hết là khung cảnh thiên nhiên mùa xuân Chiêm Hóa hiện ra với mưa xuân lất phất, rét lộc, măng đang vào mùa, đôi bờ sông Gâm cát trắng, núi non xanh ngát một màu. Với cách dùng từ đầy sáng tạo (mưa tơ rét lộc) cùng biên pháp nhân hóa nhà thơ đã phác họa khung cảnh thiên nhiên mùa xuân Chiêm Hóa đầy thơ mộng, căng tràn sự sống, ngút ngát màu xanh đem đến cho bài thơ sức hấp dẫn, quyến rũ và thúc giục sự trở về.

Nếu mai em về Chiêm Hóa

Cho ta gửi nỗi nhớ cùng

Tháng giêng mưa tơ rét lộc

Em về vừa kịp mùa măng.

Sông Gâm đôi bờ cát trắng

Đá ngồi dưới bến trông nhau

Non Thần hình như trẻ lại

Xanh lên ngút ngát một màu.

Cùng với khung cảnh thiên nhiên thơ mộng là vẻ đẹp con người Chiêm Hóa trong lễ hội mùa xuân, nhà thơ khéo léo lấy cảnh đẹp mùa xuân  làm nền để tôn vẻ đẹp con người, các cô gái Tày, Dao duyên dáng, xúng xính trong sắc màu thổ cẩm, sắc chàm đặc trưng của cô gái Tày như cũng  pha hương, vòng bạc lấp lánh, ngù hoa mơn mởn, nụ cười môi mọng… tất cả như rạng ngời trong buổi sớm mùa xuân. Thiên nhiên và con người cùng trong vẻ đẹp hài hòa, tình tứ, quyến rũ, không cần tả nhiều mà vẫn gợi vẻ đẹp rất riêng của các thiếu nữ dân tộc vùng cao, vẻ đẹp ấy e mùa xuân cũng lạc đường.

Phố đông cứ mải tìm nhau

Cô gái Dao nào cũng đẹp

Vòng bạc rung rinh cổ tay

Ngù hoa mơn mởn ngực đầy.

Con gái bản Tày duyên quá

Sắc chàm như cũng pha hương

Chỉ riêng nụ cười môi mọng

Mùa xuân e cũng lạc đường.

Khổ kết bài thơ một lần nữa được điệp lại như một điệp khúc ngân vang mãi, về Chiêm Hóa vào dịp tháng Giêng với những lễ tết của đồng bào dân tộc, những trò chơi dân gian gắn kết cộng đồng, là trở về nguồn cội thân thương. Lời thơ như nhắc nhở mỗi người con xa quê không quên nguồn cội của mình và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống. Chính nhà thơ Mai Liễu từng bày tỏ quan niệm của mình về thơ: “Làm thơ là tìm cho được cái riêng trong giọng tâm tình của mình. Hô hào là điều xa lạ với tôi. Thơ nhất thiết phải chân thành, giản dị, có cảm xúc và ý tưởng mở ra nhờ óc suy tưởng từ người đọc. Thơ tối kỵ sự đơn nghĩa, nông cạn, hời hợt và giả tạo”.

Nếu mai em về Chiêm Hóa

Đầu xuân đi hội lùng tùng

Quả còn chạm vai thì nhặt

Ngày lành duyên tốt mừng nhau.

Nếu mai em về Chiêm Hóa là bài thơ trữ tình đặc sắc của Mai Liễu, với cảm xúc chân thành, ngôn từ mộc mạc, giản dị, không nhiều dụng công về nghệ thuật nhưng vẫn để lại ấn tượng trong lòng người đọc. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng của một nhà thơ gắn bó với quê hương.

3. Nhà thơ Lý Hữu Lương – dân tộc Dao, sinh năm 1988 tại  Trấn Yên- Yên Bái, hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm đã xuất bản: Người đàn bà cõng trăng đỉnh Cô-san (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2013); Bình nguyên đỏ (Trường ca, NXB Lao động, 2016); Mùa biển lặng (Bút ký, NXB Quân đội Nhân dân, 2020); Yao (Thơ, NXB Hội Nhà văn, 2021). Nhà thơ Lý Hữu Lương từng đạt Giải thưởng Văn học, nghệ thuật, báo chí 5 năm (2014-2019) của Bộ Quốc phòng, Giải thưởng tác giả trẻ lần I năm 2001 của Hội nhà văn Việt Nam. Lý Hữu Lương là nhà thơ dân tộc có tuổi đời khá trẻ nhưng luôn trăn trở, nặng lòng với quê hương, luôn ý thức viết về nguồn cội , bản sắc, tâm hồn, văn hóa dân tộc mình. Nhà thơ từng chia sẻ: “Tôi viết cho chính đồng bào Dao của tôi, trước những chân giá trị của tổ tiên, trước biến đổi to lớn về mọi mặt đời sống, văn hoá, tư tưởng để chúng tôi không bị mờ nhạt trước thời đại”.  Bài thơ Chái bếp (in trong tập Yao) của nhà thơ Lý Hữu Lương được chọn đưa vào SGK Ngữ văn 8 (bộ Chân trời sáng tạo), đây cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho điệu trữ tình thơ Lý Hữu Lương.

Nhan đề Chái bếp gợi ra bao xúc cảm cho người đọc, đó là không gian gần gũi, thân thuộc với bất cứ ai, hơn nữa trái bếp còn gợi bao kỷ niệm về tuổi thơ, về người thân, gợi sự sum họp gia đình, gợi sự trở về nguồn cội, gợi nỗi nhớ quê hương, bản quán của mình. Chái bếp với đồng bào các dân tộc lại càng quan trọng, đó là không gian văn hóa gắn với bao bản sắc của đồng bào, nhà thơ chọn hình ảnh thân thuộc mà giàu giá trị văn hóa đó để giãi bày cảm xúc.  Hai khổ thơ đầu nhà thơ bày tỏ khao khát trở về chái bếp nhà mình, trở về chái bếp là trở về những gì bình dị mà thân thương, nơi ấy còn lưu giữ bao hình ảnh, bao kỷ niệm của những tháng ngày đã qua. Cảm xúc ấy như được trào dâng khi nhà thơ nhắc đến với ngọn khói cong, nồi cám đun dở của mẹ,  cánh nỏ của cha, những đêm mưa nằng nặng, tất cả như dâng trào cảm xúc nhớ thương, gợi hình ảnh tảo tần, lam lũ vất vả của người mẹ, người cha. Với thủ pháp nhân hóa (ngọn khói ngủ, chái bếp nằm nghe, chái bếp thõng mình) tác giả đã tạo dựng hình ảnh một chái bếp vừa sinh động vừa gần gũi như một sinh thể ngộ nghĩnh:

Cho tôi về chái bếp nhà tôi
Ngọn khói cong ngủ rồi chưa dậy
Nồi cám bao năm mẹ đun dở
Chái bếp nằm nghe nằng nặng đêm

Chái bếp vườn nhà cha gọi tên
Cho cánh nỏ cong hình lưỡi hái
Cho tuổi mình là hòa là trái
Chái bếp thõng mình xình xịch mưa

Hai khổ thơ 3 và 4, tác giả tiếp tục điệp lại câu thơ Cho tôi về chái bếp của tôi  để thêm một lần gợi nhắc về hình ảnh chái bếp cùng những kí ức thân thương. Đối với người Dao nói riêng và các dân tộc thiếu số khác nói chung, chái bếp có vai trò hết sức quan trọng, đó không chỉ là nơi nấu nướng thức ăn hàng ngày mà còn chứa đựng bao gí trị văn hóa tinh thần của các dân tộc. Căn bếp thường đỏ lửa suốt ngày đêm bởi nơi đó thần bếp ngự, tổ tiên về phù hộ con cháu, sưởi ấm trong tiết trời giá lạnh vùng cao, nơi trẻ con nô đùa, nơi tụ họp gia đình. Chái bếp thường được làm liền hồi nhà, nhà ba gian quá giang một chái, mái lợp bằng tranh, bằng lá cọ và có máng nước dẫn từ nguồn về để dùng.  Bởi vậy, trở về chái bếp là trở về với bao giá trị tinh thần, nhà thơ đã nhắc lại những hình ảnh, những kỷ niệm thiêng liêng đó để giãi bày khao khát được trở về chái bếp, trở về với quê hương, nguồn cội:

Cho tôi về chái bếp của tôi
Nhà ba gian quá giang một chái
Có thần bếp ngụ trong than cùi
Có mặt người dợm nắng dợm sương

Có tiếng cười tiếng khóc trên nôi
Hồn người chờ thuyền về quê cũ
Chái nhà tôi bao lần vàng cọ
Nước đầu nguồn về máng rong chơi

Khổ kết bài thơ có tới  2/4 dòng thơ điệp lại câu thơ mở đầu bài thơ khiến cảm xúc như dâng trào, mỗi dòng thơ như một nốt láy, như một điệp khúc trong một bản nhạc du dương, êm đềm về quê hương, nguồn cội, về với chái bếp là về với những gì thân thương nhất, về với người mẹ thân yêu, với tiếng cười giòn của mẹ. Đó là niềm hạnh phúc nhất của người con xa mỗi dịp trở về, trở về chái bếp là trở về với bao giá trị tinh thần đã nuôi dưỡng tâm hồn nhân vật trữ tình:

Cho tôi về chái bếp nhà tôi
Củi lửa non đêm đầy sương giá
Tiếng ngô giòn tiếng mẹ giòn hơn
Cho tôi về chái bếp nhà tôi…

Chái bếp là bài thơ bảy chữ có kết cấu đơn giản mà chặt chẽ, ngôn từ mộc mạc mà lắng sâu, bài thơ thể hiện tình yêu gia đình, quê hương sâu nặng của nhà thơ trẻ dân tộc Dao.  Bài thơ Chái bếp cùng những sáng tác khác của Lý Hữu Lương đã góp phần làm phong phú nền văn học đương đại của các dân tộc thiểu số.

4. Nhà thơ Chu Thùy Liên, tên khai sinh là Chu Tá Nộ, dân tộc Hà Nhì, còn có các bút danh khác: Ha Ni, Thanh Thùy, Nang Bua Khưa. Chu Thùy Liên sinh năm 1966 tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Chu Thùy Liên là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, các tác phẩm:Lửa Sàn Hoa, Tập thơ,  NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003, Thuyền đuôi én, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2009, Truyện cổ Hà Nhì, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2002. Thơ Chu Thùy Liên nhìn chung đều nhẹ nhàng, trong sáng, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc vùng cao Tây Bắc cũng như những đặc trưng của sắc tộc Hà Nhì.  Bài thơ Mùa hoa mận được sáng tác vào tháng Chạp năm 2006, in trong tập Thuyền đuôi én, đây là bài thơ tiêu biểu cho bút pháp Chu Thùy Liên, bài thơ được đưa vào SGK Ngữ văn 10 (bộ Cánh diều). Mùa hoa mận là một bài thơ có tuổi đời khá trẻ nhưng nhanh chóng được bạn đọc yêu thích bởi sự gần gũi, giản dị mà gợi bao đặc trưng miền núi Tây Bắc với hoa mận trắng muốt mỗi dịp xuân về, với những phong tục lễ tết quen thuộc của đồng bào các dân tộc, là nhà trình tường, là hương nếp nương, là bếp lửa hồng để gợi trong lòng mỗi người con đi xa háo hức trở về.

Bài thơ gồm ba khổ,mở đầu mỗi khổ thơ đều bằng Cành mận bung cánh muốt như một tín hiệu thẩm mỹ để nhà thơ bộc lộ cảm xúc của mình. Thời điểm cành mận nở hoa trắng muốt là lúc núi rừng Tây Bắc nhộn nhịp tết đến xuân về, sự háo hức biểu hiện rõ nhất qua hình ảnh những đứa trẻ trên các bản làng, con trai chơi cù, con gái chuẩn bị khăn áo chơi xuân, những đứa trẻ háo hức với bóng bay. Tất cả gợi ra không khí vui tươi, rộn ràng cùng sự hồn nhiên, ngộ nghĩnh, đáng yêu của những đứa trẻ.

Cành mận bung cánh muốt
Lũ con trai háo hức chơi cù
Lũ con gái rộn ràng khăn áo
Bóng bay nâng ước mơ con trẻ

Đến khổ thơ thứ hai, khi cảnh mận bung cánh muốt cũng là lúc những người lớn trong bản khẩn trương, tất bật với những công việc của mình để đón tết, mừng xuân. Mẹ chuẩn bị lá, gạo gói bánh, đồ xôi dâng cúng thần núi, thần rừng, tổ tiên cầu mong no ấm bình an, mùa màng tươi tốt, cha căng cánh nỏ cho hội thi bắn ngày xuân, các cụ già hối hả làm đu cho kịp chơi xuân. Chỉ với ba câu thơ nhưng tác giả đã làm nổi bật sự nhộn nhịp, rộn ràng trong các gia đình cũng như bản làng. Mỗi người mỗi việc đều hối hả, khẩn trương nhưng cũng rạng ngời niềm vui của cuộc sống yên bình, no đủ, tất cả như đang hòa cùng sắc xuân trắng muốt nơi cành mận để đón một mùa xuân mới ấm áp, vui tươi.

 
Cành mận bung cánh muốt
Giục mẹ xôn xang lá, gạo
Giục cha vui lòng căng cánh nỏ
Giục người già bản hối hả làm đu

Khổ thơ kết bài tái hiện những ngôi nhà trình tường truyền thống của đồng bào dân tộc nhưng ngôi nhà ấy mùa xuân cũng như được ủ nếp hương, đó là hương xôi bánh, hương men rượu, hương quả hoa rừng… trong lành, dịu ngọt. Cùng với đó là căn bếp với ngọn lửa hồng như nở hoa, tất cả gợi sự sum họp quây quần, đầm ấm khiến ai đi xa mà chẳng nhớ mong trở về. Mùa xuân đất trời khiến cảm xúc của nhân vật trữ tình dâng trào, đó là những tình cảm về gia đình, về nguồn cội, về quê hương Đất nước. 
Cành mận bung cánh muốt
Nhà trình tường ủ hương nếp
Giục lửa hồng nở hoa trong bếp
Cho người đi xa nhớ lối trở về…

 Với ngôn từ giản dị, hình ảnh giàu sức gợi, những biện pháp tu từ quen thuộc cùng thể thơ năm chữ nhưng bài thơ Mùa hoa mận vẫn để lại những dư vị lắng sâu trong lòng người đọc. Nhà thơ Chu Thùy Liên đã truyền cảm hứng đến cho người đọc những tình cảm thiêng liêng về quê hương, Đất nước. Đọc xong bài thơ nhưng những sắc màu vùng cao cứ lấp lánh mãi trong tâm trí người đọc.

5. Ba bài thơ nói trên của ba tác giả khác nhau, có hoàn cảnh sáng tác khác nhau, được viết theo các thể thơ khác nhau, mang sắc màu dân tộc khác nhau nhưng lại có rất nhiều điểm chung: Cả ba bài thơ đều thể hiện cảm hứng về miền núi, tình yêu nguồn cội, các giá trị văn hóa dân tộc, quê hương, Đất nước, đều khao khát trở về; Ba bài thơ đều có cách thể hiện giản dị, ngôn từ mộc mạc gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của đồng bào các dân tộc vùng cao nhưng được lựa chọn, chắt lọc, giàu sức biểu cảm. Có thể nói đó là ba bài thơ đương đại có giá trị của các tác giả dân tộc thiểu số góp phần làm phong phú đời sống Văn học Việt Nam.

11/2023

N.Q.A 

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm