TIN TỨC

Một cây bút trưởng thành từ sau ngày kết thúc chiến tranh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-17 04:58:33
mail facebook google pos stwis
3394 lượt xem

LÊ THÀNH NGHỊ

Trong số những nhà thơ nữ tôi đã được đọc, Đinh Thị Thu Vân để lại ấn tượng khó quên. Đọc chị khá nhiều, nhưng gặp chị lại rất ít. Hầu như tôi không biết gì về con người ngoài đời của chị. Chỉ thoáng gặp một lần chỗ đông người giữa một ngày rét đông Hà Nội cuối năm 2018. Thiếu phụ như cây trúc mảnh mai, lạ lẫm trong làn áo ấm mà tôi đoán lâu lắm chị mới đem ra dùng khi đụng cái rét miền Bắc. Giọng nói nhỏ nhẹ, thận trọng mà cởi mở, nét nhân từ hiện trên gương mặt hơi buồn. Hiển nhiên, mới gặp “một thoáng” thì những gì sâu kín là không thể biết.

Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân

Nhưng với nhà thơ, nếu muốn, cũng có thể có những con đường để tìm hiểu thế giới nội tâm sâu kín của họ. Vì thơ là “biên bản của tâm hồn”, nhật ký của cảm xúc, tự sự của trái tim, diễn ngôn của xúc động… Những ký thác trong thơ trữ tình phần lớn là “lời tự thú với bản thân” của nhân vật trữ tình. Người thơ phong vận như thơ ấy (HMT). Và đấy chính là tín hiệu, là chìa khóa, là “mã vạch” để thiết lập “giao diện”, như thể mở lối vào một “vuông vườn không bao giờ đóng kín” trên mỗi trang viết. Tôi chọn góc độ này để tiếp cận thơ Đinh Thị Thu Vân.

Đinh Thị Thu Vân là nhà thơ trữ tình giàu cảm xúc, rất nữ tính. “Vuông vườn” thơ chị chủ yếu biểu hiện nội cảm, tình cảm từ bên trong của tâm hồn chị: tinh tế và lãng mạn, khát khao và ước vọng, xót xa và khắc khoải…của chị. Nói chủ yếu là vì rất ít trong thơ chị những trang “miêu tả hiện thực”, vắng hẳn chuyện “thế sự đời thường” cơm áo gạo tiền, không thấy những biến cố, sự kiện “thời sự”, ít khi bắt gặp những rắc rối trần thế ngoài câu chuyện duyên phận. Hướng nội toàn tâm làm cõi nhân gian trở nên khép kín, trong khi cõi nhân duyên trong tâm hồn mở hết biên độ. Đó là thế mạnh và cũng là điểm yếu của thơ Đinh Thị Thu Vân.

Có thể hình dung Đinh Thị Thu Vân là “người đàn bà yêu”. Ấn tượng về cái vẻ bên ngoài “e lệ” trong cảm nhận thoáng qua của những ai mới gặp chị, sẽ vỡ vụn nếu đọc thơ chị. Thì ra, trong cây trúc mảnh mai kia đã chất chứa bão tố:

em trôi về hướng gió

em trôi về hướng mây

em trôi về hướng nhớ

yêu như chưa bao giò

…yêu như là cạn sức

yêu như là cạn tim

yêu như là cạn máu

không còn lần yêu thêm

(Mang nỗi buồn tay trắng)

Dù “trôi về hướng nhớ” nhưng không đơn giản chỉ là thương nhớ: Sao có thể chỉ gọi là thương nhớ /nỗi tương tư tiền kiếp mãi sôi trào (Em không thể cam lòng trôi nổi), Chẳng phải yêu đâu – là em đang cạn máu /đang khát đến tận cùng, đang cháy đến tàn hơi…/em đốt đời em lần cuối (Em không thể cam lòng trôi nổi)…Ngôn từ căng hết biên độ “tiền kiếp”, “sôi trào”, và trên kia “cạn sức”, “cạn tim”, “cạn máu”, biện giải rất quyết liệt “sao có thể”, khát vọng cao đến đỉnh “tận cùng”, “tàn hơi”, “lần cuối”…cho thấy chị đã yêu như thể là lần cuối:

em không phải là người có thể

vừa quay lưng đã vội vã quên rôi…

em làm cát, em làm bùn, em xin làm đất vụn

lấp cho đầy hoang rỗng lòng anh

(Nhật ký).

yêu cạn trắng sông xanh và biển biếc

yêu như chỉ còn hôm nay, ngày mai đã là chết

(Dành cho em đôi phút lắng lòng đi).

Đây chính là phẩm giá của người phụ nữ: không dễ dàng để có tình yêu, và một khi đã yêu thì không dễ dàng vừa quay lưng đã vội vã quên rồi, không phải là phút xao lòng thoáng qua, không phải “lời yêu mỏng mảnh như màu khói” (Xuân Quỳnh) mà là “một lời như thể lưỡi cưa” (Hữu Thỉnh), một quyết định dứt khoát và quả quyết, không mang tính nhị nguyên, nước đôi. Tình yêu trong thơ Đinh Thị Thu Vân mãnh liệt, cao cả, tan chảy, đầy đức hy sinh: em làm cát, em làm bùn…, làm đất vụn. Đâu đây, triết lý một thời của “Ông hoàng thơ tình” họ Ngô quê Trảo Nha Hà Tĩnh: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối (Xuân Diệu) lại tìm được mảnh đất màu mỡ để thêm lần nữa mọc lên “xanh biếc cây đời” trong tâm hồn một nữ nhà thơ thời hiện đại.

Nhưng nói thế cũng chỉ là câu chuyện chữ nghĩa thôi, với chị đâu phải là mơ ước hão huyền. Như bao thiếu phụ khác, một vòng tay thiết thực, một bờ vai tin cậy, một cánh cửa chờ đợi mỗi khi đi xa về, nghĩa là những hiện thân của hai chữ “bình yên”, với chị thế là đủ: Vai anh rộng để em thèm bé nhỏ /mơ một ngày yên ngủ giữa vòng tay (Nhớ):

ước chi biển mặn nồng thêm chút nữa

ước chi mây phiêu lãng biết quay về

ước chi người dừng lại hỏi han thôi

quên tất cả - bình yên – tôi sẽ hứa

(Trong góc tối)

Em đâu dám ví mình như lá cỏ

Như loài hoa tim tím dại ven đường

Không vóc dáng không sắc màu không tất cả

Em chỉ là…tất cả chỉ là thương

…sau cánh cửa ngàn năm em vẫn đợi

(Sau cánh cửa)

Với ai đó, những kẻ cơ hội, những lời yêu thương có thể là “cái khéo đầu môi, cái khôn cuối mắt” (Xuân Sách), nhưng tuyệt không phải là lối sống của những người nhân hậu. Lời yêu thương không phải là thứ nói cho qua chuyện, cho vừa lòng. Lời yêu thương có thể cần sự tinh tế, nhưng không cần màu mè. Để thương yêu nhà thơ đã tự vượt lên chính mình, thu mình lại: Tri kỷ ơi lẽ nào anh chẳng thấy /em đã mềm hơn nước, mảnh hơn mây (Tri kỷ ơi, anh có về như gió). Để thương yêu nhà thơ đã tận cùng cái đẹp: Đã trót giếng sâu, đã trót mưa nguồn (Là ngày mai đừng vội hôm nay). Để thương yêu nhà thơ đã hết mình: Em quỳ xuống xin cho em được nói /những lời yêu sâu thẳm ngỡ chôn vùi../em quỳ xuống trải lời yêu đền đáp /vạn chiếc hôn nồng xin ủ ấm đời ai (Muộn) Một đôi khi chợt mệt mỏi trên đường đời, chợt một ngày ngoái lại, nhớ cái thời “tuổi mười tám” khi mọi thứ vừa chớm dậy, Đinh Thị Thu Vân ao ước:

ước mình về lại ngày xưa

xôn xao mười tám tuổi vừa chớm yêu

(Nếu giao thừa đến chậm hơn)

Chị không viết “trở lại ngày xưa”, mà viết “về lại ngày xưa” chứng tỏ, với chị, ngày xưa thương mến lắm. Nhưng ngày xưa trong tâm tưởng của chị là ngày xưa “xôn xao mười tám…vừa chớm yêu”, chứ không phải ngày xưa vu vơ nào hết. Cụm từ xôn xao mười tám cho thấy một thời thanh xuân ở chị sức trẻ, sức yêu căng tràn như thế nào! Đấy bạn thấy rồi đó, nhà thơ chỉ muốn về lại tuổi “chớm yêu” thôi, có nghĩa là chị chỉ có một khao khát thôi. Đúng không? Nếu vậy thì nói chị là “người đàn bà yêu” cũng không có gì là quá!. Tôi nghĩ vậy.

Nhưng dù không hão huyền, dù rất thiết thực…thi sỹ cũng đã không được toại nguyện. Đã có những đỗ vỡ và nước mắt. Trên trần gian này có ai đong đếm được bao nhiêu nước mắt từ những duyên phận? Kể cả nước mắt của những loài cỏ cây, chim trời cá nước, cả những vật vô tri vô giác. Duyên phận là gì mà khi đang sống con người đã phải bẽ bàng cảm thấy “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”, đến cả loài ve cũng “kêu sầu tháng hạ”, đến cả loài chim, như chim từ quy, cũng khắc khoải gọi bạn cạn đêm?:

Em quỳ xuống lòng em mặn đắng

Xin đừng về đôi mắt ấm ngày xưa

…anh yêu dấu không thuộc về ta nữa

Trái tim em ngày ấy lạc đâu rồi

Tình yêu lạc cuối trời như chẳng có

Đời chúng mình con nước lỡ trôi xuôi

(Ngày anh trở lại)

Những câu thơ diễn đạt sự đỗ vỡ. Ngôn từ xót xa: em quỳ xuống, mặn đắng, không thiuộc về ta nữa…, sắc thái biểu cảm đượm buồn: xin đừng về, lạc cuối trời, lỡ trôi xuôi…, tâm tư người viết có gì đó như xáo trộn, bất định: giã từ trong khi vẫn còn lưu dấu hoài niệm: mắt ấm, yêu dấu, chúng mình... Cái sự Anh yêu dấu không thuộc về ta nữa đã trải qua những ngày gắng gỏi để trì níu: Anh đừng đi, em không cách chi tìm (Nhớ). Nguyên nhân của cơ sự này không thuộc về chị. Cho dù trong tâm khảm vẫn còn những hoài niệm, thì mọi việc cũng đã trở nên xa lạ, vô cảm, muộn màng: trái tim em ngày ấy lạc đâu rồi (Ngày anh trở lại). Điều này hình như chị đã linh cảm, đã tự dặn mình: Không phải tình yêu đâu, V. ơi đừng đắm đuối (Không phải tình yêu). Tất cả cho thấy tâm hồn người viết an lành, từng trải, tiếng đập của trái tim đã qua những bồng bột, nỗi buồn tuy vô cùng nhưng không quá trĩu nặng hoang mang, không quá muộn phiền trách cứ, chỉ cay đắng thừa nhận, chỉ cố gắng chấp nhận Em thươmg xuôi mà nghe đau về ngươc, chỉ lặng lẽ thở dài, chỉ nhẫn tâm nhuốm một chút “buông” để “trôi” khi mọi sự đã khồng thể trở lại: Đời chúng mình con nước lỡ trôi xuôi (Ngày anh trở lại), Đời chúng mình đã cuối /lỡ một dịp dài /em đuối sức /trôi quanh (Đời chúng mình đã cuối)

Với người đời, đến đoạn này mọi việc coi như đã kết thúc, nhưng với thi nhân thì tất cả như mới bắt đầu. Bắt đầu đối diện, bắt đầu thừa nhận, bắt đầu vào cuộc, bắt đầu chịu đựng: em không nghĩ mình cô đơn đến vậy…/em ôm làm sao, che chắn làm sao cho ngày hôm qua đừng vỡ /em chôn tủi chôn đau vào đâu để đừng khốn khổ /đừng trắng hồn tan hoang (Em có thể làm gì khác hơn).

Với một trạng thái tâm hồn như vây, thế giới chung quanh bỗng nhiên chật hẹp, bí bức, trễ nải, mù tăm. Một thế giới bên ngoài phản chiếu thế giới vô hình bên trong tâm hồn người:

Ở một góc buồn quanh quẩn

mùa xuân lơ đãng quên về

(Tự chúc).

Ngày rất lặng, em chờ rưng rức bóng

Nén đầy tim, đầy mắt nỗi sông dài

Sao có thể, sao mù tăm đến vậy

(Vài phím chữ)

Một loạt từ thương cảm: một góc, buồn quanh quẩn, lơ đãng quên về, rất lặng, rưng rức bóng, nỗi sông dài, mù tăm…gợi lên tâm trạng hoang vắng trống trải. Từ góc này nhìn ra, ngoài kia không gian đang chuyển mùa mà dường như không hàm chứa ríu rít sự sống, mà như trở nên úa vàng, li tán:

Một chiếc lá giao mùa đang rụng đấy

Gió vô tâm đùa xót nỗi hao gầy

Hồn tôi úa võ vàng đêm giá rét

Thôi cũng đành như lá phút rời cây

(Giao mùa)

Cánh cửa quen thuộc hôm nào giờ đã trở nên hoang vu lạnh giá, bóng dáng người cũ giờ chỉ còn là “nhân ảnh” quá vãng, như thể: Trăm năm cửa khép hờ mưa nắng /Mãi chẳng ai về qua gọi cho (Tô Thùy Yên – Nỗi đợi). Khung cảnh quen thuộc mà toát lên nỗi bơ vơ, dù đã quen cay đắng đã quen chìm nổi /đã quen rồi lạnh lẽo nhân gian (Giếng cạn):

Không ai đợi tôi về sau cánh cửa

Không nồng nàn không ấm áp bao dung

(Một nửa đường đang khuất)

Ai đã đến và ai từng quên nhớ

Cánh cửa màu tro bàng bạc nỗi bơ vơ

(Bên thềm hoa dại trắng)

“Bơ vơ”, “cô đơn”, “một mình”... người ngoài cuộc chẳng phải bận tâm nhiều, nhưng những thứ cũ rích này không đơn giản vượt qua như vẫn tưởng, một khi là người trong cuộc: Em nhớ anh lơ đãng đã vô chừng /Xe quên khóa, cửa quên cài, quả vườn nhà chín ửng, bao lần quên chẳng hái (Ngày rất lẻ). Đấy là nỗi nhớ tê dại của người đang yêu. Tâm trạng lơ đãng, chông chênh ấy sẽ ám ảnh, đeo bám mọi nơi, mọi lúc: em không nghĩ mình cô đơn đến vậy /trong vời vợi chia lìa (Vài phím chữ), cả những khi, (và nhất là những khi) cầm bút: câu thơ em viết buồn xa xót buồn /đã vời vợi một thời thương /đã xô dạt mất trời sương khói rồi (Hồn em theo nén nhang rời sẽ đau), thêm một lời …sẽ vỡ nát những câu thơ /sẽ vỡ nát những gì em bám níu (Hạnh phúc sẽ chẳng nguyên lành). Và vô vọng buông trôi không phải là điều khó hiểu: em đã quen sống cùng vô vọng (Xa), em đã trót phía bên này bóng tối cuộn cô đơn (Phía bên này bóng tối). Cả những tuyệt vọng nữa: tôi ra đi, trái tim ngàn vết cứa /và linh hồn trơ trọi hắt hiu đau (Xin đắng chát dừng chân bên góc mộ).

Và thời gian vẫn là nỗi ám ảnh thường đêm, nỗi ám ảnh về đêm, những lúc đơn chiếc giữa đêm dài khuya khoắt (Gió bụi chông chênh), những khi gió rạc lòng đêm giá rét (Xa biệt phía vai người)

Mãi còn nỗi tàn khuya

Mãi còn sẫm đen mảnh tim bất lực

Mãi còn

Mãi còn

Phía chân trời bạc trắng những câu thơ

(Mãi còn nỗi tàn khuya)

Không còn em nữa ngày mai

Mây giăng mưa phủ, đêm đầy nỗi đêm

Em làm sao để ru yên

Thì thôi anh cố mà quên lỡ làng

(Hồn em theo nén nhang rồi sẽ đau)

Thơ Đinh Thị Thu Vân là vậy, chan chứa nỗi niềm, thảng thốt, khắc khoải giữa vây bủa của cô đơn…và rất ít niềm vui, nụ cười, không hiện diện mặt trời của một ngày nắng đẹp, làn sương của một sáng mát lành, bầu trời sao của một đêm lãng mạn, hoa lá của một khu vườn xanh tốt… Nhưng đâu đây giữa tiếng thơ buồn vẫn le lói, như thể giấu kín đâu đó những “đốm lửa” hy vọng, những đốm lửa của một tâm hồn vốn rất tình tứ và chưa bao giờ hết lãng mạn, có từ thuở xôn xao mười tám, cho đến khi trưởng thành: tôi như sống nửa đời đêm giấu lửa (Một nửa đường đang khuất):

Rồi sẽ có một người, sẽ có

Giữ thay em mười tám tuổi êm đềm

Cả sắc áo, chiếc nơ nào nho nhỏ

Có một người rồi sẽ giữ giùm em

(Em mười tám tuổi)

Thượng đế chưa bao giờ tước đi của bất cứ ai quyền hy vọng. Qua tất cả những xót xa kia, trong thẳm sâu tâm hồn chị dường như vẫn còn giấu kín một “thế giới lãng mạn” như những “đốm lửa” còn lại trong tro ấm:

Sau giấc ngủ đau ngày vẫn non màu lá

Hương vẫn hương, gió vẫn gió vô cùng

(Sau những giấc mơ buồn)

Ôi hạnh phúc dẫu phía nào xa thẳm

Cuối con đường tìm kiếm, vẫn còn anh

(Xao xác lá vàng)

Chắc chắn những “ đốm lửa” ấm nóng kia đủ sức để hồi sinh sự sống từ tro tàn, như một tất yếu từ sự cam chịu của tiền kiếp: tuyệt vọng này /muôn kiếp trước tôi vay (Có thể buồn hơn không), hình như từ kiếp nào /tôi là khói, là rong là những gì xác xơ hơn tàn tro hơn vụn lá (Xua nhau về hư vô)…,đến một lựa chọn rắn rỏi cần thiết: ngày tháng buồn thăm thẳm ấy em quên (Còn mỗi chiều này…), đến một triết lý sống tích cực, sau rất nhiều cay đắng:

Em đứng dậy trên hoang tàn đổ nát

…em không chết sau ngày tím tái

(Đợi)

Thơ Đinh Thị Thu Vân là thơ biểu hiện tâm trạng, không phải là thơ “miêu tả hiện thực”, không phải là những ghi chép theo kiểu báo chí, không phải là thơ chính luận. Chị né bớt miêu tả để nhanh chóng đi sâu vào biểu hiện, biểu hiện con người tình cảm của chị qua chủ đề tình yêu. Nhân vật trữ tình là anh và em. Tâm sự có thể là của riêng chị, cũng có thể có cả của “người đời” mà chị phân thân. Chủ thể trữ tình là người đang dắt dẫn câu chuyện buồn của nhân thế, câu chuyện miên man về sự trớ trêu của duyên phận, một “đề tài” muôn thuở đẫm nước mắt của nhân loại. Ngoài những chỗ ngôn từ được đẩy đến độ “căng” ở những “nốt” cao nhất, còn lại vẫn là giọng điệu trữ tình mềm mại, thương cảm, hệt như tiếng kêu khan trong đêm của con chim lẻ bạn. Nếu đó là ưu điểm, thì thơ chị rất dễ lan tỏa, dễ làm xúc động lòng người, dễ để lại ấn tượng trong tiếp nhận của người đọc. Nhưng nếu đó là nhược điểm thì thơ ấy đôi khi với cái cảm giác quá mềm đến mức tưởng như ủy mi kia rất dễ sa vào lụy tình. Tôi nghĩ, bên cạnh tiếng đàn bầu và khúc vọng cổ da diết kia, cần một giai điệu trữ tình tích cực, một sự khỏe khắn của ngôn từ, một sự xa rộng của liên tưởng, một sự lấp lánh của trí tuệ…mới ngõ hầu đáp ứng được người đọc thơ hôm nay. Tôi muốn tìm trong thơ Đinh Thị Thu Vân nắng gió của miệt vườn Nam bộ, hương thơm (hương vẫn hương, gió vẫn gió vô cùng) của muôn loài cây trái, cái ngọt ngào của đờn ca tài tử, cái âm vang dài rộng của những câu hò trên sông nước miền Tây…Đinh Thị Thu Vân đã có sẵn năng lực trữ tình dồi dào, việc “chuyển” những chất liệu “nền” kia vào thơ, chắc không phải là khó đối với chị.

Sinh năm 1955 (theo lời tự thuật của chị), nghĩa là khi hòa bình lập lại trên cả nước, chị vừa tròn hai mươi tuổi, lứa tuổi rất đẹp. Đọc thơ chị, cảm đoán trước đó chị đã đọc nhiều thơ ca đô thị Sài Gòn, chắc chị cũng đọc nhiều thơ ca của cả nước sau ngày thống nhất. Vì thế, tin rằng chị sẽ còn có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt.

Tháng 4 năm 2020
Nguồn: http://www.lethieunhon.vn/

Mời đọc:

THI NHÂN, NỖI BUỒN & PHẬN CỎ.

TÌNH YÊU MANG PHẬN CỎ VÀ NHỮNG KHẮC KHOẢI TẬN CÙNG XANH

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm