TIN TỨC

Chuyện những thương binh “tàn mà không phế”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-08-01 06:08:51
mail facebook google pos stwis
1426 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦN TRỌNG TRUNG

Đất nước thống nhất, non sông Việt Nam liền một dải, chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ... nhưng, vết thương của cuộc chiến vẫn còn hằn sâu trên da thịt của các thương binh, bệnh binh, những cựu chiến binh Việt Nam. Hằng năm có ngày 27/7 là ngày tri ân các anh hùng thương binh, liệt sĩ, những chiến sĩ Bộ đội Cụ Hồ đã hy sinh tính mạng, xương trắng, máu đào... để giành lấy độc lập, tư do cho dân tộc, hòa bình, thống nhất Tổ quốc...

Phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sau khi rời quân ngũ, gác tay súng trở về cuộc sống đời thường, những thương binh vẫn lao vào trận chiến tăng gia sản xuất, khởi nghiệp, phát triển kinh tế gia đình làm giàu chính đáng, bằng chính đôi tay, khối óc và tinh thần cần cù lao động, vượt lên chính mình. Nhiều người gọi những thương binh này bằng câu “Tàn mà không phế”!

Đến thăm gia đình anh Huỳnh Văn Quận (sinh năm 1960) ở ấp K8, xã Phú Đức, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, vào một ngày không nắng. Được anh Quận dẫn ra phía sau nhà là một khu đất rộng cạnh bên vùng đệm Vườn Quốc gia Tràm Chim đã được anh trồng nhiều trụ thanh long ruột đỏ. Các trụ thanh long ruột đỏ được anh cần mẫn chăm sóc cẩn thận nên đã cho thu hoạch nhiều đợt và đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Ngồi bên cạnh trụ thanh long đang trổ bông, anh Quận kể lại thời trai trẻ đã xung phong lên đường bảo vệ Tổ quốc: “Tôi thi hành nghĩa vụ quân sự năm 1982, trong một lần cùng đồng đội tham chiến ác liệt để bảo vệ biên giới Tây Nam - Campuchia, tôi đã bị thương và để lại một phần thân thể tại chiến trường…”.

Đến năm 1984, sau khi xuất ngũ, trở về cuộc sống đời thường, anh bị cụt mất một chân phải, với tỷ lệ thương tật 61%. Lúc bấy giờ, cuộc sống của thương binh hạng 2/4 Huỳnh Văn Quận hết sức khó khăn. Nhưng, với bản lĩnh của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”, quyết tâm không cam chịu là gánh nặng của gia đình và xã hội, bằng nguồn trợ cấp thương binh hằng tháng, cộng với nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng, anh cùng với vợ lao vào làm ăn, tăng gia sản xuất và chi tiêu tiết kiệm để phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Qua nhiều năm cần cù làm ruộng, trồng sen, mua bán và trồng thanh long ruột đỏ… đến nay, cuộc sống kinh tế gia đình thương binh Huỳnh Văn Quận đã cơ bản ổn định, sung túc. Anh hiện sở hữu 10 công đất ruộng canh tác mỗi năm 3 vụ lúa và 6 công đất vườn trồng thanh long ruột đỏ phía sau căn nhà tường cấp 4 vừa mới xây dựng xong, trị giá gần 400 triệu đồng. Trung bình mỗi năm, gia đình thương binh Huỳnh Văn Quận có nguồn thu nhập từ ruộng lúa và vườn thanh long ruột đỏ trên 300 triệu đồng. Ba đứa con trai của anh đều được học hành tới nơi tới chốn. Thương binh Huỳnh Văn Quận vui vẻ chia sẻ: “Được cuộc sống như ngày hôm nay, hiệu quả kinh tế cũng tốt. Với thu nhập ổn định mỗi năm hàng trăm triệu đồng thì cuộc sống của gia đình tôi ổn định, sung túc lắm. Bà xã đỡ vất vả hơn ngày xưa; con cái đã an cư và có việc làm ổn định rồi”.

Rời nhà thương binh Quận, tôi ghé nhà ông Võ Văn Hoàng ấp Cà Dăm, xã Tân Công Sính. Được gia chủ mời uống trà và trò chuyện rất thân tình. Ông Võ Văn Hoàng bày tỏ: “Tôi sinh năm 1930, quê ở xã Đốc Binh Kiều, huyện Tháp Mười, tham gia bộ đội ở Tiểu đoàn 502. Vào năm 1968, trong kháng chiến tôi còn có tên là Bảy cùng với đồng đội chiến đấu ác liệt với kẻ thù trong trận đánh ở Cả Bèo để chiếm khám đường Cao Lãnh. Không may, trong trận chiến này, tôi đã bị thương, cụt mất một chân trái…”.

Là thương binh, ông Hoàng rất tự hào vì đã cống hiến một phần thân thể cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau ngày 30/4/1975, ông Hoàng cùng vợ rời quê nhà lên xã Tân Công Sính (còn gọi là Khu Tư) để khai phá đất hoang, lập thân, khởi nghiệp. Thương binh Võ Văn Hoàng cho biết: Lúc bấy giờ, vùng đất Khu Tư này rất khó sống nếu ai không có bản lĩnh và nghị lực. Bởi, đất đai ở đây bị nhiễm phèn nặng, cỏ - năn mọc dày đặc, những ngày mưa bão - lũ lụt thì vô cùng khủng khiếp… nên dân gian có câu “Đến đây xứ sở lạ lùng - Nghe tiếng con chim hót, tiếng con cá vùng, cũng kinh”… Thương binh Hoàng nhớ lại: “Hồi đó, tôi được ông bà già vợ cho 10 công đất để làm lưng vốn lên xã Tân Công Sính làm ăn, lập nghiệp. Sau khi khai phá được 6 ha đất hoang, vợ chồng tôi bắt tay vào canh tác lúa. Tưởng dể, nào ngờ lúa sạ được gần nửa tháng đang lên xanh tốt, bỗng vài ngày sau lá bị đỏ đầu, đem phân rải xuống thì cây lúa từ từ lụi tàn rồi chết sạch... Năm nào đất cũng dậy phèn đỏ lồm, không loại cây nào sống nổi, chỉ có cỏ - năn mà thôi, tiền của bao nhiêu chịu cho nổi với vùng đất hoang vu này... Đó là chưa kể chuyện sâu rầy, chuột bọ sinh sôi phá hại tràn lan rồi muỗi mồng, đĩa vắt vô số... Vì thế, nhiều người đến đây chưa có kinh nghiệm sản xuất, thiếu ý chí - nghị lực, thiếu lòng kiên nhẫn đối với vùng đất mới này nên chỉ sau một, hai năm làm ăn thất bại đã khăn gói ra đi...”.

Để trụ lại được ở xứ sở đã từng được mệnh danh “Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội tợ bánh canh, cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy” này, vợ chồng thương binh Võ Văn Hoàng chỉ biết nương tựa nhau lao vào công việc để tìm kế mưu sinh và được cha mẹ vợ động viên tinh thần, hỗ trợ vốn để làm ăn, tăng gia sản xuất... Hằng ngày, vợ chồng ông vừa làm ruộng vừa tảo tần làm mướn, rồi tới mùa nước nổi thì thả lưới, giăng câu, hái rau, bắt ốc... kiếm tiền lo nuôi sống gia đình và tiếp tục khai hoang mở đất. Ròng rã hơn 7 năm trời, làm lúa có năm huề vốn, có năm bị thua lổ… nhưng vợ chồng ông vẫn không nản lòng mà quyết chí làm ăn, tăng gia sản xuất, mỗi năm chuyển vụ được vài công ruộng để canh tác kiếm nguồn thu nhập ổn định… Ông Hoàng kể tiếp: “Mãi đến thập niên 90 của thế kỷ XX, đất đai của tôi đã được thành khoảnh, sản xuất có lãi... Từ đó, vợ chồng tôi chi xài tiết kiệm và tích lũy vốn liếng để mua sắm phương tiện chuyên chở, máy móc hiện đại… phục vụ sản xuất và đời sống…”.

Thật đáng khâm phục, dù là thương binh hạng 3/4, nhưng ông Hoàng luôn quyết tâm vượt khó vươn lên làm giàu chính đáng bằng mô hình làm lúa. Sau nhiều năm cần cù nỗ lực, ông đã xây dựng được căn nhà tường khang trang, rộng rãi; trong nhà mua sắm đầy đủ tiện nghi sinh hoạt… Ông còn đầu tư mua 3 chiếc máy cày vừa làm 6 ha đất ruộng nhà vừa làm dịch vụ cho nông dân… Với cách thức làm ăn khoa học nên mỗi năm, ông Hoàng có thu nhập hàng trăm triệu đồng. Thương binh Hoàng vui vẻ chia sẻ: “Nỗ lực làm để chính quyền địa phương nhẹ lòng lo. Tôi hết sức nỗ lực làm đêm, làm ngày nên mới vượt qua khó khăn. Ngày nay coi như gia đình tôi cũng có tương đối có ăn. Cũng nhờ Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ cho tôi trong phần đời sống được thoải mái, sống khỏe được đi an dưỡng chỗ này chỗ kia vợ chồng tôi quanh năm nên hết sức là mừng. Cuộc sống tôi bây giờ thoải mái rồi, cứ trưa cũng có ngủ một giấc; nhà cũng có máy lạnh đàng hoàng, mừng lắm chớ”.


Thương binh Dương Hùng Oai trao đổi với PV.

Còn ông Dương Hùng Oai (sinh năm 1956) ở xã Phú Thọ thi hành nghĩa vụ quân sự năm 1976, đóng quân ở Trạm Biên phòng Cầu Muống, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Hai năm sau, ông Oai được phong cấp hàm Trung sĩ, giữ chức Phó Trưởng Trạm Biên phòng Cầu Muống. Trong một lần cùng đồng đội tham chiến ác liệt để bảo vệ biên giới Tây Nam - Campuchia, ông Oai chẳng may bị thương và để lại một phần thân thể tại chiến trường. Năm 1979, sau khi xuất ngũ, trở về cuộc sống đời thường, ông bị cụt mất một cánh tay phải, với tỷ lệ thương tật 45%. Lúc bấy giờ, cuộc sống của thương binh hạng 3/4 Dương Hùng Oai hết sức khó khăn. Nhưng, với bản lĩnh của người lính “Bộ đội Cụ Hồ”, quyết tâm không cam chịu là gánh nặng của gia đình và xã hội, bằng nguồn trợ cấp thương binh hằng tháng, cộng với nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng, ông Oai lao vào làm ăn, tăng gia sản xuất và chi tiêu tiết kiệm để phát triển kinh tế gia đình, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Qua nhiều năm miệt mài sản xuất, chăn nuôi… đến nay, kinh tế gia đình ông cơ bản ổn định. Tận dụng gần 2 công đất trống quanh nhà, ông trồng dừa, xoài, mít, mía, khoai mì… trung bình mỗi năm, gia đình ông thu nhập 70 triệu đồng. Ông Oai đã xây dựng căn nhà khang trang gần nửa tỷ đồng... Thương binh Dương Hùng Oai tâm sự: “Tôi bản thân thương binh, nên vợ chồng vươn lên làm ăn thoát nghèo, nay gia đình cũng khấm khá, xây nhà khang trang rồi cho bớt gánh nặng của địa phương và xã hội. Gia đình tự vươn lên, nay cũng hết khó khăn rồi”.

Tới nhà ông Phan Văn Tịnh (sinh năm 1954) ở xã Phú Ninh. Sau một tuần trà, ông Tịnh cho biết: ông nhập ngũ năm 1971 và được biên chế vào đơn vị hậu cần Quân khu 9. Khoảng tháng 3/1972, trong một trận chiến đấu với kẻ thù ông Tịnh bị thương và được xếp loại thương binh hạng 3/4. Sau ngày 30/4/1975, ông xuất ngũ trở về địa phương. Lúc đó, gia đình không có đất sản xuất, không nghề nghiệp nên vợ chồng ông phải làm thuê mướn vất vả để kiếm sống. Gần 10 năm lao động miệt mài, vợ chồng tôi tích cóp được chút lưng vốn, mua được 10 công đất ruộng để sản xuất lúa, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Đến năm 2005, Hội Cựu chiến binh huyện vận động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ông Tịnh mạnh dạn vay 12 triệu đồng vốn Ngân hàng đầu tư xây chuồng và mua 2 con bò cái thả vào chuồng nuôi. Ông Tịnh quyết tâm vượt khó, vươn lên làm giàu chính đáng bằng mô hình nuôi bò lai Sind. Từ 2 con bò cái nuôi ban đầu, đến nay ông đã tăng đàn bò lên tới 32 con các loại. Trung bình mỗi năm, ông thu nhập từ 250 đến trên 300 triệu đồng. Thương binh Phan Văn Tịnh bày tỏ: “Về sức khỏe cũng giảm, nhưng cũng phải phấn đấu để làm quyết liệt lo cho vợ con sau này, trong tương lai. Làm phát triển cũng mua được 10 công đất cặp Quốc lộ 30 này, nhà cửa cũng hoàn chỉnh; không để gánh nặng cho Nhà nước, xã hội tiếp mình. Ráng phấn đấu để vượt qua, tự lực làm giàu là chính”.

Toàn huyện Tam Nông hiện có 604 liệt sĩ, 63 mẹ Việt Nam anh hùng, 277 thương binh và 59 cán bộ chiến sĩ bị địch bắt tù đày... Trong đó, có nhiều thương binh, bệnh binh là hội viên Hội Cựu chiến binh các xã, thị trấn. Đa số các hộ thương binh đều có ý chí phấn đấu vươn lên làm kinh tế giỏi, với nhiều cách làm hay, mô hình hiệu quả thiết thực nên đời sống đều được ấm no, sung túc. Trong số 123 thương binh là hội viên Hội Cựu chiến binh đã có 41 hộ giàu, 47 hộ khá và 35 hộ có mức sống trung bình, không còn hộ thương binh nghèo. Ông Trịnh Văn Lớn cho biết: “Với vai trò Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Tam Nông, tôi rất hoan nghênh, đồng tình với sự quyết tâm của anh em thương binh, cựu chiến binh khắc phục vượt lên hoàn cảnh khó khăn, thực hiện các mô hình sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh giỏi để góp phần ổn định cuộc sống... Hướng tới, Hội Cựu chiến binh huyện sẽ tiếp tục phát động những thương binh, cựu chiến binh học tập tấm gương các đồng chí Quận ở xã Phú Đức; đồng chí Hoàng ở xã Tân Công Sính; đồng chí Oai ở xã Phú Thọ và đồng chí Tịnh ở xã Phú Ninh. Đây là những tấm gương sáng để cho các hội viên cựu chiến binh toàn huyện học tập, noi theo để vượt khó, làm ăn phát triển kinh tế gia đình, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Cựu chiến binh huyện nhiệm kỳ 2022 - 2027, gắn với phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh ở địa phương; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.

Rõ ràng, các thương binh sau khi rời quân ngũ, trở về cuộc sống đời thường, bằng ý chí quyết tâm, bản lĩnh của “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt qua mọi khó khăn để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên làm giàu chính đáng bằng chính đôi bàn tay, khối óc và con tim đầy nhiệt huyết của mình, góp phần xây dựng nông thôn mới - đô thị văn minh để làm giàu cho quê hương, xứ sở...

Bài viết liên quan

Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm
Hành trình lan tỏa tình yêu biển đảo từ những lá cờ Tổ quốc mang dấu Trường Sa
Giữa mênh mông biển trời, lá cờ Tổ quốc tung bay trên các điểm đảo thuộc Quần đảo Trường Sa không chỉ khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam, mà còn nhắc nhở mỗi người dân đất Việt về trách nhiệm gìn giữ biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực, từ những điều giản dị nhất.
Xem thêm
Chuyện bây giờ mới kể - Bút ký Trần Trọng Trung
Bác sĩ Lê Trung Hiếu năm nay đã bước vào độ tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy”, tóc điểm sương trắng mái đầu, nhưng cử chỉ vẫn còn nhanh nhẹn, trí nhớ còn minh mẫn, nói năng từ tốn, rõ ràng… Bác sĩ Hiếu từng trải qua nhiều chức vụ Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tam Nông (hiện nay là Trung tâm y tế khu vực Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp) rồi làm Hội Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Việt Nam… Trước khi về nghỉ hưu, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông (hiện nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp).
Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm