TIN TỨC

Hậu Sơn Tinh, Thủy Tinh

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-06 10:39:17
mail facebook google pos stwis
1018 lượt xem

“Hậu Sơn Tinh, Thủy Tinh” – bài phiếm đàm của Phạm Minh Mẫn, từ một truyền thuyết quen thuộc, đã mở ra nhiều liên tưởng bất ngờ. Vừa dí dỏm, vừa châm biếm, tác giả đã đặt lại câu chuyện kén rể của vua Hùng dưới lăng kính hiện đại: từ “gói thầu voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” cho đến bài học “sống chung với lũ”. Một cách đọc truyền thuyết để thêm nụ cười và cũng thêm đôi điều suy ngẫm.
 

PHẠM MINH MẪN

 (Phiếm đàm)

Truyền thuyết kể rằng sau khi mang vật sính lễ đến trước, Sơn Tinh được vua Hùng Vương thứ 18 gả công chúa Mỵ Nương làm vợ, Thuỷ Tinh đến sau liền tức giận dâng nước đánh nhau với Sơn Tinh... Những trận chiến dai dẳng hàng ngàn năm giữa hai vị thần giành người đẹp đã để lại cho hậu thế một tồn nghi: Có hay không việc ưu ái khá lộ liễu giữa Vua Hùng với phò mã tương lai trong “gói thầu” Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao?
 

VUA HÙNG VỚI KẾ SÁCH "SỐNG CHUNG VỚI LŨ"

Nước Văn Lang của Vua Hùng khi ấy còn rất nhỏ bé, số dân trong các bộ lạc cũng chưa nhiều. (4000 năm trước mực nước thủy triều dâng cao tới 3,5 mét làm ngập hầu hết khu vực đồng bằng Bắc Bộ ngày nay). Nhưng do mưa thuận gió hoà, sông hồ lặng sóng, đất đai màu mỡ, mùa màng tươi tốt nên thần dân của Vua Hùng sống không đến nỗi nào. Vua cùng các Lạc hầu, Lạc tướng thường lên núi cao vãn cảnh và bơi thuyền nhàn du trên sông nên Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đều là chỗ thân tình. Về tài năng thì hai vị thần ngang nhau. Thuỷ Tinh biết hô gió gọi mưa tạo ra nước dâng lũ cuốn, còn Sơn Tinh có phép "nâng cho núi ta lên cao, cao mãi ...". Từ lâu Vua Hùng đã có ý nhắm một trong hai người làm ứng viên phò mã, chỉ hiềm một nỗi công chúa Mỵ Nương đã đến tuổi cập kê mà không hiểu sao nàng lại chểnh mảng trong việc kén chọn ý trung nhân, suốt ngày ham mê kiếm cung và mải vui chơi với các cung nữ… Nàng từng tuyên bố không muốn lấy chồng khiến vua cha nhiều phen bối rối trong ý định kén rể .


Minh họa: AI.

Năm ấy không hiểu sao sông hồ bỗng nhiên khô cạn, đất thiếu nước làm cho lúa trổ đòng kém, nhiều nơi dân tình xảy nạn mất mùa làm Vua Hùng rất lo lắng. Một lần lên chơi núi Vua gặp một nhà tiên tri. Sau khi xem quẻ hung cát và địa thế phong thuỷ, nhà tiên tri cảnh báo với Vua Hùng rằng đang có một biến đổi to lớn xảy ra trên đất Văn Lang. Nước sông hồ sẽ ngày càng lùi xa và mặt biển có thể trở thành nương dâu, ruộng lúa. Sự thay đổi "bể dâu" làm cho đất Văn Lang rộng lớn hơn nhưng thần dân sẽ luôn phải đối mặt với nạn hạn hán. Lúc đầu Vua Hùng nghĩ ngay đến việc chọn Thuỷ Tinh làm phò mã để trông coi việc "cấp thoát nước" chống hạn nhưng nhà tiên tri cho rằng với tính khí thất thường lại ham chơi nên Thuỷ Tinh sẽ làm hỏng đại sự. Còn Sơn Tinh tuy có tài "trị thuỷ" nhưng lại bất lực khi trời hạn hán. Vậy thì phải chọn ai làm phò mã trong khi Vua Hùng chỉ có một cô công chúa Mỵ Nương? Đây là bài toán khó mà khi được vua hỏi, nhà tiên tri chỉ cười lớn rồi cáo từ. Sau nhiều đêm suy nghĩ, Vua Hùng chợt hiểu ra thâm ý của nhà tiên tri. Và thế là nhà vua công bố lệnh kén rể với thể thức đặc biệt. Hai vị thần Sơn Tinh và Thủy Tinh sẽ thi đấu tài nghệ, nếu bất phân thắng bại phải về tìm vật sính lễ "voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao", ai mang đến sớm nhất sẽ được cưới công chúa Mỵ Nương. Một "điều khoản" thầu được xem là có lợi cho Sơn Tinh...
 

THUỶ TINH: MỆNH THUỶ NHƯNG TÍNH HOẢ

Người đời nói Thuỷ Tinh không biết học chữ nhẫn nên thất bại là phải. Đã không lấy được công chúa yêu Mỵ Nương lại còn bị hao quân tổn tướng, làm trò cười cho thiên hạ. Nếu như Thủy Tinh biết nghe lời các bậc cao nhân thì mọi chuyện có thể sẽ khác.

Thực ra ngay khi “tiếp nhận hồ sơ” của Vua Hùng đưa ra với “gói thầu” đồ sính lễ gồm “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”, với IQ ở mức trung bình, Thủy Tinh cũng lờ mờ nhận ra có gì đó không thỏa đáng lắm. Thì đấy, các loài vật làm của sính lễ có thể tìm thấy khá nhiều trên núi Tản Viên chập trùng hiểm trở của Sơn Tinh. Mà “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao" thì quý hiếm cái nỗi gì, bằng chứng là Thủy Tinh cũng có đủ vật sính lễ theo yêu cầu của Vua Hùng nhưng vì mang đến sau nên phải chịu thua cuộc.

Thần dân của Thủy Tinh còn “tình báo” với ngài rằng ở một bản trong địa phận của Sơn Tinh (nay là bản Còi thuộc vườn quốc gia Xuân Sơn, Thanh Xuân, Phú Thọ) có hàng trăm con gà chín cựa, dân bản ở đó vẫn vô tư thịt gà chín cựa làm cơm đãi khách. Còn Thuỷ Tinh phải đến tận một vùng đất phương Nam xa xôi mới tìm được loài gà này… Rõ ràng lợi thế đã được Vua Hùng ngầm trao cho Sơn Tinh, không phải “thông thầu” thì là cái gì?.

Chưa kể Vua Hùng quy định thời gian giao vật sính lễ cũng rất chung chung là “sáng hôm sau ai mang sính lễ đến trước thì sẽ được cưới công chúa Mỵ Nương”. Sáng hôm sau là vào canh giờ nào, canh một hay canh năm? Bởi chỉ cần chờ đến đầu giờ tí (tính từ 11 đêm trước đến 1 giờ sáng hôm sau) là Sơn Tinh có quyền mang lễ vật đến yết kiến Vua Hùng. Còn Thủy Tinh, nghe nói lúc “nửa đêm gà gáy canh ba” đã có mặt nhưng vẫn bị chậm…

Nguyên tắc mọi cuộc chơi cần phải được công bằng! Một "trợ lý" đã mách nước cho Thủy Tinh mạnh dạn đề nghị Hùng Vương thay đổi “gói thầu” theo đặc điểm vùng miền. Ví dụ đối với Sơn Tinh thì đồ vật sính lễ có thể là “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Còn đối với Thủy Tinh thì đồ sính lễ phải khác, ví như “bạch tuộc trăm vòi, rùa vàng trăm móng, ngọc trai trăm màu” chẳng hạn. Nếu được như vậy Thủy Tinh sẽ mang ngay vật sính lễ đến "trong 30 giây, không có giây thứ 31", lão Sơn Tinh kia liệu còn hí hửng được nữa hay không? Tuy nhiên với bản tính vốn thật thà, vị nể lại hay tự ái nên Thủy Tinh đã không “kiến nghị” và vì thế ngài đã tự làm khó mình.

Một vị cao nhân khi hiểu được tình thế bất lợi của Thủy Tinh đã sáng suốt khuyên ngài nên rút khỏi trò chơi dâng đồ sinh lễ nhưng Thủy Tinh khăng khăng không nghe. Đến khi bị thua cuộc Thuỷ Tinh nổi giận muốn tiến binh đánh thần núi Tản Viên thì vị cao nhân kia lại khuyên rằng: “Quân tử 10 năm báo thù chưa muộn, ta cứ án binh bất động chờ đợi, bên Sơn Tinh ắt sẽ có biến”. Nhưng vốn tính tình nóng nảy, Thủy Tinh cho rằng đợi những 10 năm thì nàng Mỵ Nương vú đã vắt qua vai, có con đàn con đống rồi thì cướp lại mỹ nhân phỏng còn có ý nghĩa gì?

Thật may cho Vua Hùng khi Thuỷ Tinh không nghe lời khuyên của vị cao nhân ấy. “Có biến” nghĩa là trời sẽ hạn hán lớn, dân tình mất mùa đói khát, lúc đó không chừng đích thân Vua Hùng lại phải tìm đến Thủy Tinh để nhờ vả… Nhưng thay vì để cho đất đai khô cạn, muôn loài trên đất liền khốn khó thì hàng năm Thủy Tinh lại đều đều dâng nước đánh nhau với Sơn thần. Gọi là giao chiến nhưng thực ra Thủy Tinh đang cần mẫn “dẫn thủy nhập điền” đúng theo kế sách của Vua Hùng, chỉ làm chết một vài loài vật ốm yếu chậm chạp. Còn thần dân Văn Lang nhờ có kinh nghiệm đắp đê phòng lũ nên vẫn bình an, núi Tản Viên vẫn sừng sững tươi xanh và phò mã Sơn Tinh vẫn hạnh phúc bên người đẹp…

Về sau ở vùng núi Tản Viên Ba Vì xuất hiện bài đồng dao khá dài, theo các nhà nghiên cứu thì có thể nó được lưu truyền từ sự tích kén rể rất thiên vị của Vua Hùng. Xin trích một đoạn:

Vua Hùng lập nước Văn Lang

Có cô công chúa là nàng Mỵ Nương

Voi chín ngà dạo bên đường

Gà chín cựa sắc trong vườn đá nhau

Ngựa thần có chín hồng mao

Trên đường rong ruổi mang vào tiến vua.

Tranh tài một cuộc hơn thua

Trời đang nắng bỗng đổ mưa ầm ào

Nước dâng núi cũng nâng cao...

P.M.M

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm