TIN TỨC

Con người Chí Phèo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-15 14:00:53
mail facebook google pos stwis
5588 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.

Chí Phèo (Ảnh minh họa Internet)

Nam cao, người bạn đồng minh muôn thưở của những người nông dân khốn quẩn, những kiếp sống lao khổ, những linh hồn bị lãng quên trong thời đại khói lửa của dân tộc đã “chết non” ở tuổi ba mươi tư dưới nòng súng của giặc. Chuyến tàu chở tài năng Nam Cao đã dừng lại quá sớm, thế nhưng những ưu phẩm nghệ thuật mà ông để lại cho đời thì trường tồn bất tử trong dòng vận động biến đổi không ngừng của thế giới văn học nghệ thuật đương đại. Khám phá ra bị kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên, nhà văn Nam Cao đã “soi gương thấy mặt đời” (thấy qui luật hiện thực tàn khốc của xã hội đương thời) và “soi tâm thấy cội người” (nhận ra cõi tinh thần cao đẹp của những linh hồn tưởng như đã chết).

 Với Nam Cao, mỗi cái tên nhân vật là một biểu tượng cho tính cách: Hảo (Dì Hảo), Lão Hạc (Lão Hạc), Lang Rận (Lang Rận), Giáo Thứ (Lão Hạc) Từ (Đời Thừa),  Điền (Trăng Sáng)… Chí Phèo cái tên làm ta liên tưởng đến hình ảnh một kẻ trời đánh thất học vô đạo nào đó. Ấy chính là một tên lưu manh cô độc, đơn khó trong cái làng quê rệp mạt, đói khổ Hà Nam. Nhưng dưới ngòi bút độc đáo của nhà văn thì ẩn nhẫn sau cái nhân cách nhàu nát đó là một “cõi tinh thần” thiện lương như hòn than hồng ủ dưới tàn tro, để đến lúc gặp ngọn gió “nhân tình” (tình người) thì lập tức vụt sáng sưởi ấm cho những kiếp người “phận mỏng cánh chuồn” sau lũy tre làng.

Gấp trang sách lại, ta lạnh người vì ám ảnh đâu đây câu hỏi của Chí Phèo: “Ai cho tao lương thiện?”. Đó là một câu hỏi lớn không lời đáp, mà “hắn” hỏi tận nơi linh thiêng màu nhiệm nhất của tạo hóa - Trời. Huy Cận từng viết:

“Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn. Không lời đáp.

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.”

(Các vị La Hán chùa Tây Phương- Huy Cận)

 

Thật ai oán và tuyệt vọng, một nỗi đau đến khoét thịt đúc xương của nhân vật. Nhưng cái chết của Chí Phèo trong tác phẩm không phải là cái chết của một kẻ cố cùng liều thân, mất hẳn nhân tính mà là sự ra đi đầy tự trọng và cả sĩ khí của một con người ý thức sâu sắc về nhân phẩm.

Chỉ có những ai trải qua nỗi đau khổ tuột cùng mới có thể cảm nhận được niềm hạnh phúc tuột cùng và Chí Phèo đã được nếm trải hai cảm giác tận cùng đó. Bóng tối đời Chí không phải huyền hoặc, leo lét như của chị em Liên (Hai đứa trẻ- Thạch Lam), hay màn đêm đen khét như mực, mông lung vô lối của Chị Dậu (Tắt đèn - Ngô Tất Tố). Bóng tối mà Chí Phèo đang nếm trải như đêm đen địa ngục với tiếng chửi rủa hòa cùng tiếng chó cắn lao xao, như tiếng rít lên của một con vật bé nhỏ đang bị giết thịt. Sự gào thét của một cái xác sống đã bị mù điếc tâm hồn khiến người đọc đau se thắt và cảm nhận được sự “can tràng tấc đoạn” mà nhân vật đang phải gánh chịu.

Từ một anh canh điền lành như đất, giàu lòng tự trọng, biết phân biệt giữa tình yêu cao thượng và cảm giác nhục dục thấp hèn, Chí Phèo đã bị đẩy vào tù chỉ vì cớ ghen tuông vu vơ. Mỉa mai thay, nhà tù mang danh công cụ cải tạo con người của Chủ nghĩa Thực dân nhưng đã “nhai nát” một tâm hồn trong sáng nhân hậu và “nhả” ra một nhân cách quỷ dữ. Từ khi ra tù, Chí Phèo đã trở thành một con nhân sư lãnh đạm, bị xa lánh, căm phẫn và chối bỏ khỏi xã hội loài người. Giai cấp thống trị - những kẻ ăn thịt người ngọt xớt như đường, với phương châm róc đời của mình, Bá Kiến đã dụ dỗ Chí phèo thành kẻ đâm thuê chém mướn đi ngược lại lợi ích của những lương dân.

Tiếng chửi, tiếng nguyền rủa rồ dại hay chăng tiếng ai rao nghĩa lý giữa đất trời? “Hắn” đang chửi trong sự hằn học ghê tởm, “hắn” được đáp trả bằng sự dửng dưng khinh miệt và chỉ còn lại “hắn” cùng tiếng của kẻ khác loài. Sống với chó đôi khi cũng phải gào lên như chó, sống giữa cái xảo trá vô luân, cái độc ác bất nhân đó, hỏi sao không có những tiếng tru lên trong oằn oại đau đớn, tiếng người điên rao giữa chợ đời trong lưới bẩy của màn đêm mịt mùng tăm tối. Trong tiếng chửi có hàm chứa những hạt nhân của tính chất lưu manh nhưng cũng chứa đựng sự hô hét đòi sống, những kéo rút tuyệt vọng cuồng ngây trong tâm tưởng bật ra thành tiếng gào thét có hình sắc. Đói những kết nối, khát được kết nối nhưng giống loài đã quyết tuyệt quay lưng với Chí, đẩy Chí vào lối tuyệt vọng vong thân.

May thay, giữa bóng đêm của cuộc đời, vào một đêm trăng thơ mộng, Chí Phèo được gặp Thị Nở. Tạo hóa đã lắp hai mảnh đời khốn cùng vào nhau:

“Ả ngớ ngẩn. Gã khùng điên. 
Khi tình yêu đến bỗng nhiên thành người! 
Vườn suông trăng nở nụ cười 
Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau.”

                               (Trăng nở nụ cười- Lê Đình Cánh)

Thị Nở đã tạo nên bước ngoặt cho cuộc đời của Chí Phèo. Khác với người dân trong làng Vũ Đại, Thị vẫn ngày ngày theo lối mòn ra sông kín nước nơi có “tấc đất” mà Chí Phèo “cắm dùi”, rồi còn lui tới “hang cọp” mà xin rọi lửa và rượu bóp chân. Thị không hiểu và cũng không cần hiểu vì sao người dân trong làng kinh hãi Chí. Cho nên Thị nhiều lần ngủ lại vườn chuối cạnh bờ sông, dưới ánh trăng tưới rười rượi nơi mà bước chân vật vờ đường khuya trong cơn ma men của Chí đi về. Và chuyện gì đến cũng đã đến…

Người đàn bà dưới bàn tay nhào nặn của Nam Cao xấu “ma chê quỷ hờn”. Nhưng sau “cái đẹp” mỉa mai của góa công đó là một tâm hồn nguyên sinh. Thị vẫn có điều nhân dục như lẽ những người thường, vừa cưỡng lại, vừa dâng hiến. Thị vẫn ngượng đỏ và thinh thích khi nói đến hai tiếng “vợ chồng”; vẫn biết lườm, nguýt, e lệ và âu yếm một cách rất “bình dân” nhưng vẫn không kém phần tình tứ. Đó là cái “nữ tính” mà tạo hóa đã thổi vào trong thân xác ngô nghê, thô vụng. Phía Chí Phèo, anh cũng chả cần ý thức đến cái xấu xúc phạm mắt nhìn của Thị Nở và sự ngây đần của dòng mả hủi. Chí chỉ thấy một điều rằng “Thị thế mà có duyên”. Ngòi bút đầy nhân bản của nhà văn đã sắp đặt một cuộc “ngẫu nhiên tương phùng” với chiều sâu ý nghĩa và giá trị nhân văn.

Phút “hứng tình” ấy đã biến một kẻ mất hết nhân tính, chỉ quen đập phá, cắn xé điên cuồng thành tiếng khóc rít lên kêu đòi để trở về cuộc sống nhẹ nhàng như bao người bình thường. Đó là lần đầu tiên Chí Phèo biết đến người phụ nữ bằng tất cả cảm giác nguyên sơ của mình. Nhân vật AQ (AQ chính truyện của Lỗ Tấn) chỉ mới chạm vào tay Vú Ngò mà đã ngây ngất cái cảm giác về da thịt quấn thít của đàn bà thì mới hiểu rằng khoái hoạt giao hoan với Thị Nở sẽ là "cơn động địa” cực mạnh làm biến đổi toàn bộ đời sống sinh, tâm lý của Chí Phèo. Diễn biến nội tâm của Chí Phèo sáng hôm sau khi gặp Thị Nở là hệ quả của trận “kinh thiên động địa” đó. Quá trình tâm lý diễn ra một cách logic theo kiểu phản ứng dây chuyền. Ở đó, lần đầu tiên sau bao năm say sưa triền miên, các giác quan của Chí Phèo dần tỉnh lại để đánh thức những cảm xúc đã từng bị khỏa lấp phôi phai. Nam Cao đã miêu tả rất tỉ mỉ những diễn biến phong phú và tinh vi này, và điều đó cho thấy sự tế vi trong phong cách trần thuật của ông.

Tuy nhiên, để dẫn đến sự khát khao lương thiện ở Chí Phèo, cần nhiều chất xúc tác hơn nữa đó chính là bát cháo hàng thơm thảo. Ban đầu, Chí rất ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên trong đời mình nhận được sự chia sẻ từ giống loài. Sau phút ngỡ ngàng là sự xúc động chân thành, nhờ đó Chí Phèo mới cảm nhận được cái ngon đặc biệt của món cháo hành. Bát cháo hành cũng buộc Chí Phèo phải đối mặt với quá khứ của chính mình bằng những vụ trộm cướp thường xuyên để có cái ăn - một kiểu ăn không khác gì súc vật. Rồi bất ngờ Chí so sánh cử chỉ ân tình và tâm hồn thuần khiết của Thị Nở với bản chất “dâm nhơ đắm nhiễm” của bà ba nhà Bá Kiến. Tất cả những điều đó đã khiến tâm trạng Chí Phèo xao động dữ dội. Những gốc rễ tốt đẹp từng bị bao bọc bởi cặn bã nay trỗi dậy “trinh nguyên”: "Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi, sao mà hắn hiền... Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao!". Có phải người canh điền của tuổi đôi mươi lại hiện diện trong bộ dạng vốn đã thay đổi một cách đáng sợ chăng? Anh ta đang lên tiếng nhiệt thành yêu cầu được sống một cuộc sống đúng chất người. Đây là kết quả của sự chuyển biến tâm trạng Chí Phèo hết sức tinh vi, phức tạp nhưng cũng rất hợp lý. Miêu tả quá trình này, ngòi bút của Nam Cao đạt đến độ “vuông thành sắc cạnh”.

Một đêm trăng vườn chuối, một bát cháo hành đã đủ làm cho “anh” bừng tỉnh trong lương tri. Thị Nở, một người đàn bà với sự gọt đẽo sơ sài của tạo hóa đã mang đến “thang thuốc cháo hành” chữa khỏi cho Chí căn bệnh trầm kha tâm hồn đã di căn. Tình cảm đã chữa lành vết thương lòng và giúp Chí phèo vượt qua đau khổ một cách dễ dàng. Tâm hồn cằn cỗi, tăm tối đó đã được tưới tắm, tẩy gội và xua đi những mây mù ngu tối. Từ đó Chí định vị được thời gian, hồi quang về quá khứ đã từng mơ ước về tình yêu chân thành và hạnh phúc giản dị thấm thía. “Hắn” nhận ra hiện hữu trong tương lai gần về đói khát, bệnh tật và cô độc, nghe được những âm thanh quen thuộc của tự nhiên, xã hội và tiếng đổi chác mưu sinh đầu sông cuối bãi: “…tiếng hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá tiếng của mấy bà đi chợ về”. Và hơn tất cả, giọt nước mắt làm người đã rơi xuống, hòa vào bốn bể nước mắt của kiếp nhân sinh:“hắn thèm lương thiện và muốn làm lành với mọi người”. Trong sinh quyển hiện thực bùng nhùng đen tối đó vẫn rạng lên cầu vồng bảy sắc của tình yêu cao thượng, nhân bản và không kém phần trong đẹp. Trong nhánh kênh đen của cuộc đời bỉ cực đó vẫn rạo rực một dòng trong xanh lưu động dưới chiều sâu tâm hồn. 

Nhưng,“Một mình nàng Thị Nở/ đủ đền anh đó chăng/ ngoái nhìn lò gạch cũ/ thương biết sao cho vừa”. Nguyên Hồng đã từng nói rằng, nếu định kiến xã hội nó là một hòn đá ông sẽ gồng mình mà đẩy nó ra khỏi đường, là thủy tinh ông sẽ đập vỡ, nhai nát, nuốt tất, thế nhưng định kiến vô hình. Như một đàn mối ăn lẹm vào gỗ, hay một cây tầm gửi bám rễ sâu hủy hoại bức tường, định kiến xã hội đã không cho Chí phèo một sự khoan hồng nào hết.

Tại sao khát vọng cứu chuộc cao đẹp của Chí Phèo lại bị từ chối? Những thay đổi ở Chí Phèo dù kỳ lạ đến đâu cũng chỉ dừng lại ở khát vọng thầm lặng trong đáy thẳm nội tâm. Người làng Vũ Đại ngoại trừ chứng kiến một sự việc lạ lùng: Thị Nở đã sống với Chí Phèo một tuần trăng mật (vốn sẽ là đề tài hấp dẫn cho những câu chuyện phiếm kiểu quê mùa), họ vẫn chưa hề nhận được một dấu hiệu khả quan nào thông tin về sự thay đổi thái độ của Chí Phèo. Đường biên ngăn trở Chí Phèo đó là hắn đã gieo rắc quá nhiều đau thương, bất hạnh cho cuộc đời vốn đã tuyệt lộ của những con người lương thiện yếu đuối. Bản năng tự vệ buộc họ phải tránh xa Chí. Vì vậy, để được chấp nhận trở lại trong xã hội thân thiện và phẳng lặng này, Chí Phèo phải trải qua những thử thách hòa nhập và trải qua những “sát hạch” của thời gian. Còn Chí Phèo không ý thức và không đủ kiên nhẫn để thực hiện. Đó là chưa kể đến sự chống trả từ những kẻ thường lợi dụng chất thú dữ hiện tại của Chí Phèo, hòng khống chế Chí trong trạng thái điên loạn. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy việc Chí Phèo trở về với cuộc đời lương thiện là một ước mơ đẹp nhưng “kém khả dụng”. Sự thật hiển nhiên đó Nam Cao hiểu, và với nhận thức của một nhà văn hiện thực triệt để, ông không thể nói “trái lẻ tạo hóa”.

 Thị Nở đã khước từ tình cảm của Chí Phèo vì lời lăng mạ của bà cô: “sao mà đi lấy một thằng chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”. Chí Phèo nhận thức được rằng bát nước đã đổ đi rồi không thể hốt lại tất, tình yêu kết thúc thì hận thù ập đến đó qui luật đời sống. Chí đã tìm lại với rượu, nhưng rượu không còn làm hắn quên đời, rượu thức tỉnh Chí, giúp Chí nhận ra bao cơ sự của cuộc đời mình: “Nhìn phía trước không người thân thích, ngó sau lưng quá khứ rợn ghê người”. Chí vác dao ra đi, trong đầu hắn định vị rõ hai kẻ thù của cuộc đời: Kẻ thù tình ái và kẻ thù giai cấp. Trong giây phút sáng suốt nhất của một người nông dân thức tỉnh Chí Phèo đã vung dao lên đâm Bá Kiến và tự cướp đi mạng sống của mình. Sự thể hiện của Chí phèo hôm nay không phải của một kẻ lưu manh mà là hành động lấy máu rửa hờn của một người nông dân lương thiện bị đày ải trong ngục sâu tăm tối nơi trần gian đã xé rào thoát sáng và phân diện rạch ròi bộ mặt kẻ thù. Như cục than hồng ủ dưới lớp tro nguội, chất người trong Chí Phèo đã bừng sáng thiêu rụi cả lũy tre làng rửa sạch mối thù giai cấp từ ngàn đời.

Cái chết của Chí phèo như bản cáo trạng về xã hội thực dân nửa phong kiến thối rữa, nhàu nát, là tiếng kêu oan khốc thấu tận trời xanh của những kiếp người “siêu khổ”.

Cuối tác phẩm Thị Nở nhìn trộm Bà cô, mọi người xung quanh, nhìn “chồng mình” giãy đành đạch giữa bao nhiêu máu tươi và nhìn xuống bụng thấy “con tinh yêu thương vô tình chợt gọi, lại thấy trong ta hiện bóng con người” (Một cõi đi về- Trịnh Công Sơn), trong đầu Thị thấp thoáng bóng hình chiếc lò gạch bỏ không. Từ chi tiết đó, Nam Cao đã khám phá và khẳng định một quy luật hiện thực mới mẻ, độc đáo: Lúc nào còn những kẻ thống trị độc ác, man rợ như Bá Kiến thì còn những người nông dân tha hóa và ngỗ ngược như Chí phèo được sinh ra để “nối nghiệp”, đó cũng là bi kịch điển hình của người nông dân trong chế độ cũ. Và cuộc sống theo chu kì “đạp xe”, nối tiếp nhau cuộc giằng co thiện ác nhưng cuối cùng “Bể dâu chớp mắt ngoảnh đầu thành mơ”. Nam Cao đã đặt một dấu chấm kết thật tròn cho bi kịch một con người và cũng là số phận của hàng vạn con người trong buổi Thực dân Phong kiến, khi tình trạng người nông thôn bị “riết cổ bóp hầu”. Chí Phèo đã sống đời hôn ám đã thực hiện một cuộc chiến âm thầm tàn khốc và róng riết thét lên câu triết ngôn vĩ đại: “Ai cho tao lương thiện”. Từ đó đã mở ra cuộc khai chiến bất tử của cả dân tộc này, vùng lên trong đói nghèo rơm rác để rũ bụi sáng lòa.

Sáng tạo ra nhân vật Chí Phèo với gương mặt không tuổi chằng chịt đầy vết và một tâm hồn mang nỗi đau quằn quại của một con người bị cự tuyệt. Nam Cao đã mang lại cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới, cái nhìn vào cõi tinh thần và chiều sâu bi kịch. Và cũng chính những trang viết thấm đẫm nước mắt về người nông dân thức tỉnh đó, Nam Cao đã tự cắm cho mình cái mốc vinh quang trên con đường trở thành nhà văn lớn của dòng văn học hiện thực phê phán và văn xuôi hiện đại Việt Nam thế kỉ XX.

                                 Quốc Tuấn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm