TIN TỨC

Đánh tiêu diệt, tại sao không?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-21 16:29:07
mail facebook google pos stwis
1787 lượt xem

CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG
(Viết nhân ngày 27/7)


1. TRÊN ĐỈNH CHƯ MOM RAY

Địa điểm: Đỉnh Chư Mom ray, tỉnh KonTum (dốc KonTum, hùm Ban Mê Thuột)
Nhân vật: Những người lính mặt xanh đít nhái, hốc hác, tay chân khẳng khiu vì quanh năm ăn theo chế độ 1 lạng gạo chia làm 3 bữa, còn bao nhiêu độn củ mì, rau rừng; trừ khi chiến dịch sắp mở màn thì được ăn cơm gạo không độn, 3 lạng một ngày. Ấy thế nhưng khi vào trận đều phải chất lên vai 40 ký trở lên. Đều phải khiêng pháo, khiêng đạn vượt qua những đỉnh dốc cao, ngập chìm trong mây trắng. Có đi theo lối mòn vượt núi như vậy “mới gây bất ngờ cho địch”- cấp trên bảo thế mà!
Từ chân dốc lên tới đỉnh Chư Mom ray mất đứt buổi sáng. Dốc cao, nói theo cách nói của lính là “đầu gối chạm mặt”, “chim chóc teo quắt hết cả”… Cách lên dốc tốt nhất khi mang vác nặng là khoanh hai tay trước ngực, mặt cúi gầm xuống, nhẫn nại nhẩn nha từng bước, từng bước… Theo cách leo núi của người Mông. Mới đầu mùa khô này thôi, lính truyền tai nhau kinh nghiệm, để bớt mệt, bớt thở dốc hãy lần lượt nhớ lại từng gương mặt đám bạn gái cùng học những năm cấp ba.
Lên tới đỉnh dốc, hạ vật trên lưng, trên vai xuống, liền vơ vội một túm lá xanh để xua đuổi ruồi vàng, muỗi đói đú loại. Ngồi chưa ráo mồ hôi, cơn lạnh từ trong người toát ra, từ khí núi ngấm vào bỗng thấy rùng mình, nổi gai gà. Canh chừng cơn sốt rét cũ sẽ ập tới!
Một trung đội lính vừa lên tới đỉnh núi.

Đỉnh Chư Mom ray, tỉnh KonTum (ảnh Internet)

Anh B trưởng (trung đội trưởng) phát lệnh cho lính tập hợp một hàng dọc.
Rồi B trưởng dõng dạc:
-Nơi đây xa dân, cho phép nói bậy, nói tục…Tùy thích!

Ngơ ngác vài giây. Rồi lính tráng nhẩy cẫng lên, hò reo. Như chưa bao giờ tưng bừng, hoan hỉ như thế:
-B.., L…, Ghe, Củ..c, Đ nhau, Hi…iếp…
-B..L…Mồng đốc..
- Hạt lạc… Quại nhau ...
-La la lá... là lá la...
-La la lá… Là lá la...
-....

B trưởng:
-Thằng nào còn nghĩ ra con gì, củ gì nữa không? Tiếp tục!
Cứ thế kéo dài, váng động cả núi rừng trong chừng 3,4 phút. Cho tới lúc đã lạc giọng, đã khản tiếng, đã thấm mệt.
B trưởng liền hỏi:
-Thỏa mãn dân cày chưa?
-Rồi! Rồi…
-Muốn “hát ca”  nữa không?
-Thôi, thôi ạ! thôi ạ...
- Vậy thì súng đạn lên vai, xuống dốc.
Lính láp phấn khởi, vui vẻ, tươi tỉnh sau khi đã tìm ra cách chống được muỗi đói, ruồi vàng, chống được cái gây gây ớn lạnh.

Được chứng kiến phút giây sung sướng đó của lính, Chính trị viên đại đội vỗ vai B trưởng: “Cậu làm công tác tư tưởng, động viên thật tuyệt vời, khó ai nghĩ ra. Sau chiến dịch này tớ nhất định đề nghị cấp trên chuyển cậu qua làm Chính trị viên phó, tiếp tay tớ!”
Câu chuyện lần vượt dốc Chư Mom ray hôm đó rất nhanh chóng khúc khích nhỏ to lan truyền khắp các đơn vị bộ, pháo, đặc công, hậu cần, vận tải...
Cục Chính trị, rồi Phòng Bảo Vệ (tức An Ninh trong quân đội) của Mặt trận Bộ cho triệu B trưởng và Chính trị viên C kia lên bắt viết ra giấy, rồi giải trình bằng miệng vài buổi: Vì sao, do đâu, đặc biệt do ai súi bẩy mà dám xem thường, hạ thấp, thậm chí dung tục hóa công tác chính trị, tư tưởng trong quân đội như vậy?
Cả hai đều bị giáng cấp, giáng chức, điều chuyển đi đơn vị khác.
Vào đầu mùa mưa năm sau, lính láp rỉ tai nhau: cả B trưởng lẫn Chính trị viên đã hy sinh trong những trận đánh đầu tiên, khi bộ đội vượt sông Poko, tràn vào thị xã KonTum.

2. CHƯA AI KỂ THÌ TÔI KỂ...

Đêm trước giờ G. xuất kích, thật nặng nề, căng thẳng. Sau khi đã xung phong (hoặc phân công) ai đánh bộc phá 1, bộc phá 2 mở hàng rào; ai trong đội hình "mũi dao nhọn", phân đội nào đánh chiếm mục tiêu nào… là tới lúc chính trị viên phó công bố ký hiệu đơn vị và số lính của từng chiến sỹ.

Một bếp đốt củi giữa lán. Những cái đầu cúi thấp hơn. Những cặp mắt loang loáng vẻ buồn bã, sợ hãi thoáng nhìn nhau...

Mỗi anh được phát (hoặc tự làm lấy) một miếng sắt cắt từ vỏ hộp thịt, hộp cá. Rủ nhau ra bờ suối, soi đèn pin, lấy một cục đá gõ lên chiếc đinh, đột ký hiệu đơn vị, số lính của mình lên miếng sắt. Để luồn giây đeo vào cổ.

Đêm rừng già ắng ngắt. Chỉ nghe tiếng đinh đột vào sắt vang lên, vang lên, cạch cạch, cạch cạch.

Để địch không thể lu loa "quân cộng sản từ Miền Bắc xâm nhập miền Nam" một quy định đã có từ lâu đời: Trước khi vào trận, tất cả quân, tư trang (kể cả thư từ, ảnh, nhật ký, sổ chép thơ, chép bài hát) đều phải gửi ở một hang động nào đó. Anh vào trận, ngoài súng đạn, chỉ được mang theo một tấm võng, phòng khi anh bị thương hoặc hy sinh có cái để khiêng võng anh ra...

Xưa kia ký hiệu và số lính thường được lính thêu (hoặc dùng lá rừng viết) lên nắp túi áo. Nhưng cũng thấy bất tiện. Dùng mảnh sắt đột số là tiện hơn cả.

Ký hiệu đơn vị, số lính của anh đã ghi vào một cuốn sổ cán bộ quân lực đại đội, tiểu đoàn. Sẽ từ miếng sắt hộp thịt, hộp cá kia mà truy ra.

Dòng chữ mang ký hiệu đơn vị, tên tuổi, quê quán của anh được ghi bằng bút mực, bút bi. Cuốn sổ ấy sẽ được truyền qua bao nhiêu bàn tay người, qua bao trạm giao liên trên Trường Sơn, qua mưa rừng gió núi, qua bao nhiêu khúc sông con suối khi lũ về, thuyền mảng bị lật..Nhòe nhoẹt, ẩm mốc, lẫn lộn, thất thoát. Chiến tranh mà!

Anh thành CHIẾN SỸ VÔ DANH, anh yên nghỉ với ngôi mộ KHÔNG TÊN, anh đâu có tội, khi anh phải chấp hành một quy định nghiêm ngặt: KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ LỘ QUÊ CHA, ĐẤT MẸ Ở MIỀN BẮC.

Anh tên gì, hỡi anh yêu quý?

3. ĐÁNH TIÊU DIỆT, TẠI SAO KHÔNG ???

Còn nhớ rõ, từ năm 1970, 1971 trở đi khi địch thực hiện chiến thuật CO CỤM, tức lập các tuyến phòng thủ vòng ngoài với công sự bê tông, cốt thép, với nhiều lớp hàng rào vây quanh, với sự chi viện tối đa của phi pháo để bào vệ tuyến thành phố, đô thị phía trong..bên ta bắt đầu nêu cao khẩu hiệu ĐÁNH TIÊU DIỆT. Tức là đã nổ súng, phải đặt ra chỉ tiêu TIÊU DIỆT GỌN (XÓA SỔ) TỪNG CHIẾN ĐOÀN, TỪNG LỮ ĐÒAN của đối phương. Không để cho chúng giữ lại phiên hiệu, bổ xung thêm quân và biên chế vẫn như cũ.
Dĩ nhiên là thực hiện chỉ tiêu này hao tổn máu xương, "tốn lính" lắm!!!

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta kéo dài đã mươi, mười lăm năm. Tuyệt nhiên không nghe "cấp trên" nêu phương châm (chỉ tiêu) ĐÁNH TIÊU DIỆT?
Mà cũng lạ nữa, tại sao HỘI CỰU CHIẾN BINH VN bỗng quên phắt mà không nhắc nhở các "cấp trên" một trong những truyền thống anh hùng này của QĐNDVN nhỉ?
Căn bệnh nan y THAM NHŨNG ở nước ta hiện nay giống như TRẰN TINH NHIỀU ĐẦU, chém đầu này nó mọc đầu khác ngay liền à!
Vì mục đích nhân đạo theo định hướng XHCN(!?), vì "trị bệnh cứu người", ta không "tru di tam tộc" bọn tham nhũng; không treo cổ hoặc tiêm thuốc độc tương ứng với số tiền bạc, tài sản của nhân dân họ thu vén bỏ vào hầu bao.
Vậy ĐÁNH TIÊU DIỆT căn bệnh tham nhũng ở đây là làm thế nào? Theo ngu ý, bên cạnh biện pháp MỀM là cảnh cáo về mặt Đảng, tước hết các chức vụ trong Đảng (mà chắc hẳn bè lũ tham những sẽ bịt mũi cười ruồi), PHẢI TỊCH THU TOÀN BỘ GIA SẢN CỦA BỌN CHÚNG, LÀM VIỆC TỐT LÀ GIÚP CON CÁI, THÂN NHÂN CỦA BỌN CHÚNG TRỞ VỀ VỚI CUỘC SỐNG CHÂN LẤM TAY BÙN, TAY KHÔNG LÀM HÀM KHÔNG NHAI CỦA CỘNG ĐỒNG.
Chỉ như vậy, vong linh những anh hùng, liệt sỹ đã khuất mới mát lòng, hả dạ. Những con hải âu hay phương hoàng, sếu mỏ xanh, mỏ đỏ gì gì đó (như  Cụ Thủ Phúc thường nói) mới thực sự bay về với non sông, đất nước này!!!

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm