TIN TỨC

Đò đầy vơi, bến cũ chẳng quên người!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-04 07:45:58
mail facebook google pos stwis
2128 lượt xem

NGÔ MINH OANH

Tôi muốn mượn một câu thơ trong bài Thăm lại chuyến đò xưa để mở đầu cho  bài viết về chị, nhà giáo – nhà Thơ Triệu Kim Loan, người đã trọn đời gắn bó với nghề giáo, suốt đờì chở nặng con thuyền chữ nghĩa cho bao thế hệ học trò đến bến bờ tri thức và hoàn thiện nhân cách làm người.


Nhà thơ Triệu Kim Loan và bìa tập thơ mới

Nhà giáo – nhà thơ Triệu Kim Loan sinh ra ở Hưng Yên, vùng đất xứ Đông có bề dày văn hiến, lớn lên ở vùng trung du đất Tổ với “rừng cọ, đồi chè” bát ngát mang đậm dấu ấn trầm tích lịch sử, văn hóa thời Vua Hùng dựng nước. Có lẽ những gì mà hai vùng đất ấy mang lại đã nuôi dưỡng tâm hồn chị, để rồi chị thi vào khoa Văn của Trường ĐHSP 2 Hà Nội, dùi mài “kinh sử” và trở thành cô giáo dạy văn, gắn bó với trường, lớp, học trò đã hơn 40 năm nay.

Đến với thi ca khá muộn nhưng chị đã liên tiếp cho ra đời bốn tập thơ: Khoảng lặng (2020), Suy tư chiều (2021), Khát vọng xanh (2022), Đối thoại đêm (2023) và tập Cảm nhận văn chương (2023). Đan xen những đề tài về quê hương đất nước, tình yêu, thân phận người phụ nữ là đề tài trường lớp với ăm ắp ký ức ngọt ngào về thời sinh viên áo trắng, về sân trường, lớp học với những giọt nắng, hạt mưa: Nắng thắp lửa trên cây phượng vĩ/ Giọt la đà, nhảy nhót đùa vui/ Nắng tung tăng sân trường lớp học/ Chơi trốn tìm, ghế đá, hàng cây (Giọt nắng sân trường), Tà áo trắng - sân trường - nắng vỡ/Nắng tinh nghịch luồn qua cửa sổ (Sắc Phượng); hay Phượng nhoẻn cười khoe nắng/ Gọi tiếng ve thức tìm (Ngược mùa) và Khẽ bay tà áo trắng/ Gió đùa tóc em mây (Tháng tư)… Nhà thơ cảm thương những áp lực và gian khó của học trò khi bước vào mùa thi: Không có Những chiếc giỏ xe / Chở đầy hoa phượng/ Chỉ có ngày đêm / Miệt mài sách vở, Thắt lòng/ Thương tiếng ve ngân/ Xao xác chiều hè cuối hạ/Thương cây bàng/ Xoè ô đứng đợi/ Thương phượng gầy/ Thắp lửa/ Những mùa thi. (Thương) hay Mùa thi về hối hả / Vỡ òa tiếng ve ran (Tháng Tư). Những hình ảnh này không mới nhưng có lẽ tình yêu nghề, gắn bó và thấu cảm với học trò sâu nặng đã làm nên những xúc cảm trong veo, giàu thi ảnh đến vậy.

Hình ảnh cây phượng, hoa phượng trong thơ Triệu Kim Loan đa dạng gắn với biết bao kỷ niệm để lại trong tôi nhiều cảm thức. Cánh phượng đã cùng nhà thơ song hành trong suốt cuộc đời nhà giáo, gắn bó với chị như người bạn thân thiết để chị gởi gắm những nỗi niềm tâm sự. Đó là cánh phượng một thời cắp sách: Hạt mưa nào tinh nghịch/ Sà vào trang vở thơm/ Cánh phượng rơi sân trường/ Bồng bềnh sắc đỏ (Một chiều mưa). Khi tuổi đời đã xế chiều, cánh phượng vẫn rực hồng và nồng nàn trong nỗi nhớ: Phượng náo nức tháng năm về bung lửa/ Ơi thương lạ loài hoa như mắt nhớ/ Có phải hoa cũng nặng nghĩa như người / Như loài ong tìm hương ướp mật/ Để mùa về sắc phượng nghẹn ngào rơi (Sắc Phượng). Nhà thơ đã trải qua những ngày vô tư cống hiến, để rồi khi xa trường, nhớ lớp bỗng giật mình: Phượng phập phồng nhóm lửa/Tháng tư ơi! Giật mình… Hình ảnh hoa phượng trong dịp gặp lại bạn bè, thầy cô thật cảm động: Bàn tay nắm xiết bao mừng tủi/ Tóc màu tro thành lửa thắp phượng hồng (Vọng mãi những niềm thương).

Yêu nghề, yêu người, yêu thơ là mối lương duyên hội tụ trong tâm hồn chị. Vì thế, sau khi nghỉ hưu, chị vẫn miệt mài với trang giáo án, với con chữ, với học trò thân yêu: Trang giáo án mở thật thà/ Bao nhiêu gương mặt như xa như gần/ Bảng đen - phấn trắng - thanh xuân / Chuyến đò ngang đã bao lần vượt sông (Tiếng Ve), Ngày qua ngày vẫn say mê đến lớp/ Lái con tàu rẽ sóng, để ra khơi/ Đem nhân tâm trải khắp mọi miền/ Đem trí tuệ thắp lên ngàn khát vọng/ Cánh đồng rộng nhọc nhằn con chữ/ Mùa gặt về hoa nở thắm trên môi. (Đời gieo hạt). Không chỉ có niềm vui cống hiến, nghề chở đò không ít những suy tư, nhọc nhằn về con chữ, về những học trò chưa ngoan, trước những yêu cầu đổi mới và sự đòi hỏi khắt khe của thời đại. Hạnh phúc của người thầy phải đổi bằng trí tuệ, mồ hôi và cả những giọt nước mắt: Khoảng sân rộng vệt nắng rơi từng sợi/ Phấn trắng, bảng đen cây thước rã rời (Đau). Chị trân trọng tình cảm yêu thương, chia sẻ của người chồng dành cho mình:  Anh thương gánh chữ chập chùng em mang/Em người đưa khách đò ngang/ Bao nhiêu khát vọng gửi đàn con thơ/ Lớp đò đầy, lớp sóng xô/ Chặt chèo lựa sóng cặp bờ tương lai. (Viết cho anh).

Xuyên suốt những bài thơ của chị, nhà thơ – nhà giáo Triệu Kim Loan là lối sống giàu nghĩa nhân, có trước, có sau. Đó là tình thương yêu, thấu cảm dành cho học trò những mùa thi vất vả, là tình thương, xa xót trước sự ra đi của một đồng nghiệp khi tuổi đời còn trẻ: Ghế đá kia trống một chngồi/ Sương nhòe ướt ngôi trường, bè bạn/ Học trò ngơ ngác/ Định mệnh nào nghiệt ngã/ Cuốn thầy đi? (Đau). Chị dành những vần thơ mộc mạc, sâu lắng để tri ân thầy cô từng dạy mình: Người chở đò tóc màu mây năm ấy/ Khách đi đò tóc cũng nhuốm màu tro/ Vui gặp gỡ lệ rưng trào khoé mắt/ Thắp lửa hồng, xanh nhớ những ngày mơ, hay Như đàn chim náo nức trở về cây/ Như sông suối trôi về biển rộng/ Đò đầy vơi, bến cũ chẳng quên người (Thăm lại chuyến đò xưa), Ngàn con sóng quây quần biển nhớ/ Những loài hoa, năm ấy vẫn hương chờ/ Thầy tôi đó dệt nên miền cổ tích/ Ngọn Hải Đăng sáng mãi một bến mơ!” (Thầy tôi).

Suốt một đời tận tụy với nghề, say mê học hỏi và cống hiến, chị đã nhận được nhiều bằng khen của Thành phố, bằng khen của Bộ Giáo dục Đào tạo và giải thưởng Võ Trường Toản, một giải thưởng cao quý của ngành giáo dục Thành phố trao tặng. Nhà thơ – Nhà giáo Triệu Kim Loan quan niệm ngôi trường là chiếc nôi nhân nghĩa. Nơi ấy chị và biết bao đồng nghiệp vẫn lặng thầm gieo hạt “đem trí tuệ thắp lên ngàn khát vọng”, đem “nắng vàng ươm mật trời xanh”, “nôi nhân nghĩa sáng ngời nhân nghĩa”. Phải chăng đó là tuyên ngôn, là sự hòa quyện của tình yêu, tinh thần trách nhiệm, khát vọng trong tâm hồn một nhà giáo, một nhà thơ như chị. Xin chúc mừng những đứa con tinh thần tròn trịa của chị chào đời đến với bạn đọc xa gần trong buổi sáng ấm áp ngày hôm nay.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm