TIN TỨC

Đỗ Nam Cao - Cô đơn và khắc khoải 

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-10 21:21:40
mail facebook google pos stwis
1475 lượt xem

Trần Thế Tuyển

Những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng tôi cùng sống và chiến đấu trên chiến trường Miền Đông gian lao mà anh dũng. Nhà thơ Đỗ Nam Cao công tác ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, còn tôi là lính chiến thuộc Công trường 5 (Sư đoàn 5). Rừng Miền Đông bạt ngàn, bom đạn tàn phá, chất độc hóa học trắng rừng, nhưng chúng tôi thường xuyên gặp nhau qua Đài Phát thanh Giải phóng và chương trình Phát thanh Quân Giải phóng miền Nam. Đôi khi, hành quân giữa khuya, nghe đọc bài hoặc ngâm thơ Đỗ Nam Cao trong chương trình văn nghệ, tiếp sức cho cánh lính trẻ chúng tôi xông lên phía trước.

 

Nhà thơ Đỗ Nam Cao

Trái đất tròn, năm 2003 từ báo Quân đội nhân dân tôi chuyển nghành về Bộ Văn hóa Thông tin. Cơ duyên, tôi và nhà thơ Đỗ Nam Cao sinh hoạt chung chi bộ báo chí thuộc Đảng bộ Khối cơ sở Bộ Văn hóa Thông tin tại Thành phố Hồ Chí Minh. 

Mới đây, nhân kỷ niệm năm thứ  12 năm ngày mất của nhà thơ Đỗ Nam Cao (2011-2023), tôi được nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội Nhà văn Tp HCM gửi tặng tập thơ “Hỡi cô cắt cỏ” của nhà thơ Đỗ Nam Cao và bảo, anh có thể viết về kỷ niệm với nhà thơ.

Đọc Hỡi cô cắt cỏ - tuyển tập thơ Đỗ Nam Cao, tôi như gặp lại người đồng nghiệp bậc đàn anh một thời. 

 

  NỖI CÔ ĐƠN 

 

Ai đó đã nói nỗi buồn, sự cô đơn là thuộc tính và quyền sở hữu của nhà thơ. Thơ là tiếng lòng là sự chưng cất của tâm hồn nên nỗi buồn càng sâu, sự cô đơn càng lâu sẽ là nguồn cảm hứng bật ra những vần thơ để đời của nhà thơ.

Tuyển thơ “Hỡi cô cắt cỏ” (**) của Đỗ Nam Cao dày 140 trang với trên 100 bài thơ tràn ngập nỗi cô đơn xen lẫn sự khắc khoải.

Cô đơn và nỗi buồn nên hiểu theo hướng mở. Đó không chỉ là nỗi cô đơn của nhà thơ vì cái riêng mà bao gồm cả cái chung, nhân tình thế thái.  Là chàng trai có dáng lãng tử, mái tóc lúc nào cũng rối bời, quăn tít, tốt nghiệp khóa 11 khoa ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đỗ Nam Cao cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Trong đội ngũ điệp trùng, nhưng tâm hồn chàng lãng tử cử nhân văn chương này nặng nỗi buồn và sự cô đơn. Và đó chính là lý do ùa dâng những vần thơ. Đỗ Nam Cao không ngại, bày tỏ: 

 

Thơ tôi đã từng hứng khởi

Đã từng hát khúc hùng ca

Tôi bay lướt đỉnh hào khí

Trường Sơn ngút ngàn, mù xa. 

 

Và, nỗi buồn vì chiến tranh, chết chóc, tàn phá. Cô đơn vì thân phận con người trước binh đao khói lửa, nhà thơ bày tỏ các chiều kích cảm xúc: 

 

Để rồi từ từ đáp hạ

Đậu trên đỉnh mái nhà ta

Quê hương ôi rơm với rạ 

Mẹ cha vách bùn, cột tre.

        (Thơ tôi) 

 

Những câu thơ, bài thơ với ý tứ như thế ta gặp nhiều trong “Hỡi cô cắt cỏ”. Văn là người. Thơ là hình bóng, tâm hồn của người sinh ra nó. Nỗi cô đơn trong thơ Đỗ Nam Cao từ cái riêng thầm kín sang cái chung lan tỏa.

Có lúc nỗi buồn vu vơ của tác giả thấm chuyển sang người đọc:

 

Ngong ngóng người lại qua

Tìm một gương mặt biết

Dòng sông đời chảy xiết

Không ai chờ đợi ta 

                          (Không ai)

 

Không ai chờ đợi ta, đến chỉ một mình ta, nỗi cô đơn càng lạnh lẽo, da diết: 

 

Ai tìm kiếm khao khát

Một ai một kín thầm 

Ai đứng đó bồn chồn.

                 (Sân ga)

Và: 

 

Khóc một mình nuốt ực

Cười một mình, bật rên 

Một mình đi thâu đêm

Một mình.

                        (Một mình)

 

Phải cô đơn lắm mới viết được những câu thơ như thế. Như bậc tiền bối - ông hoàng thơ tình đã từng viết: “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu).

 

Rõ ràng sự cô đơn, nỗi buồn là thuộc tính, đặc quyền của nhà thơ.

Từ nỗi buồn, sự cô đơn “không hiểu vì sao tôi buồn” ấy đến cái cụ thể thầm kín của riêng mình. Mặc cho dòng đời chảy xiết, nhà thơ có nỗi buồn riêng: 

 

Nghĩ cho cùng anh với em đều tốt 

Sao chúng mình không ở được cùng nhau 

Rồi anh sẽ yên nằm dưới cỏ 

Thì tình yêu chưa thể yên nằm.

                         (Ly hôn)

 

Câu thơ bước ra từ trái tim, từ thực tế phũ phàng như lý giải một cách triết lý về hiện thực. Tình yêu là một lĩnh vực. Còn đời sống vợ chồng lại là một lĩnh vực khác. Không phải hai người tốt sẽ sống ăn đời ở kiếp với nhau. Điều quan trọng nhất hai người tốt, cực tốt ấy có cùng nhịp đập trái tim? 

Đọc thơ Đỗ Nam Cao, người đọc, đặc biệt người đọc trong cuộc thấu hiểu nỗi buồn, nỗi cô đơn sâu kín, thầm lặng của nhà thơ. Và, không chỉ thế, hiểu thêm về số phận con người. Thực tế trên cõi đời này, không ai tốt đến quá tốt và không ai xấu đến quá xấu. Mọi vinh quang và hệ lụy đều có căn nguyên của nó. Đọc thơ Đỗ Nam Cao, người đọc thêm một lần chia sẻ, cảm thông. Đỗ Nam Cao có những câu thơ thấm đậm nhân văn, tình người, đặc biệt là tình yêu. 

Lặp lại:

Rồi anh sẽ yên nằm dưới cỏ 

Thì tình yêu chưa thể yên nằm.

 

Rõ ràng, Đỗ Nam Cao là lãng tử xứ Hà thành, nhưng đó là một chàng trai chung tình. Đã yêu, yêu đến tận cùng sự sống. Và, không chỉ khi sự sống vãn mãn mà còn mãi mãi: “anh nằm dưới cỏ, còn tình yêu chưa thể yên nằm”. Anh mãi mãi yêu em!

Viết đến đây, tôi không thể quên nụ cười của Đỗ Nam Cao mỗi lần nghiêm túc họp chi bộ cũng như mỗi lần thăng hoa “trà dư tửu hậu”.

Rõ ràng con người ta không chỉ đo giá trị bởi sự thành đạt về vật chất, danh vị mà phải chính bằng nhân cách và nhân văn. Hai yếu tố cơ bản tạo nên cốt cách, chân dung một con người.

 

NIỀM KHẮC KHOẢI

 

Từ tuyên ngôn về thơ, Đỗ Nam Cao nhất quán cách biểu đạt trong suốt quá trình sáng tác thi ca:

 

Thơ tôi lộn đầu xuống đất

Giơ chân lên đỡ sao trời 

Thơ tôi trái điều lộn hột 

Bao nhiêu tình chất phơi ngoài.

...

Thơ tôi đè nặng ngọn bút 

Nặng đè ngực nhức buốt tim

Vụt chói lòa là mất hút

Ngẩn ngơ em sợ hãi tìm.

                       (Thơ tôi) 

 

Thơ Đỗ Nam Cao là thế. Đậm nét nhất thông điệp của nhà thơ trong bài thơ cùng tên của tuyển tập thơ này - Hỡi cô cắt cỏ.

Hỡi cô cắt cỏ chiếm diện tích hơn 10 trang in trong tập sách có thể coi là trường ca (mini) mà Đỗ Nam Cao muốn gửi tặng mọi người.

 

Thông điệp tác giả muốn trao gửi cho người đọc nói chung và hậu thế nói riêng là: Mọi thứ có thể qua đi, tiền tài, danh vọng có thể qua đi. Chỉ có ký ức đẹp và tình người còn mãi. Ký ức đẹp là cây đa, bến nước, sân đình, là “Hỡi cô cắt cỏ”; ký ức đẹp đó là: 

 

Mưa rào rạch nước, cá rô

Tôi bơi ngược đến kiệt khô sức mình...

Áo tơi rủ xuống mặt đồng

Mẹ đi cấy mạ mãi còng cả lưng.

 

Đó là hình ảnh tạo nên dáng vóc một thời không chỉ của riêng tác giả mà của tất cả chúng ta, những người đã sống thời đại ấy.

Cái tình mà Đỗ Nam Cao muốn gửi gắm trong “Hỡi cô cắt cỏ” cũng khá đặc sắc, không lẫn vào đâu được:

 

Hỡi cô cắt cỏ trên trời 

Làm cho chú Cuội tuột rơi xuống làng

Nên tôi phải tự dối lòng

Nên tôi phải nói dối nàng của tôi

Đeo con cóc kiện ông giời 

Đeo con kiến kiện củ khoai làm gì.

 

Có thể nói khác với các bài thơ trước, Đỗ Nam Cao viết “Hỡi cô cắt cỏ” trong trạng thái thăng hoa của chàng lãng tử xứ Hà thành. Thể thơ đa dạng, mạch thơ lúc bay bổng, lúc trầm tư; chất dân gian, trữ tình thấm đậm đã truyền cảm hứng mãnh liệt đến người đọc.

Nỗi khắc khoải với kỷ niệm, ký ức một thời vốn là cái cớ, bệ đỡ, nguồn cảm hứng vô tận của  nhiều nhà thơ. Đỗ Nam Cao không ngoại lệ.

 

Đã quá mười mùa xuân Đỗ Nam Cao rời cõi tạm. Hương hồn nhà thơ đang phiêu du cùng các bận tiền nhân nơi viễn xứ. Cọp chết để da, người chết để tiếng. Hỡi cô cắt cỏ là tiếng lòng của Đỗ Nam Cao để lại cho chúng ta và hậu thế!.

 

Tp Hồ Chí Minh, đêm 3-10-2023

                             TTT

 

(**) NXB Sân khấu - 2021. 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm
Nén hương lòng nơi biên giới thân yêu - Tản văn Vũ Mạnh Định
Những ngày cuối năm, khi đất trời bắt đầu chuyển mình sang một nhịp chậm hơn, tôi có dịp dừng chân trước nghĩa trang liệt sĩ Hội Phú - vùng đất nơi tôi mới nhận công tác. Khói hương bảng lảng trong gió lạnh, những hàng bia trắng lặng im giữa không gian tĩnh mịch khiến lòng tôi chợt chùng xuống. Giữa khoảnh khắc tưởng niệm ấy, ký ức bất chợt đưa tôi trở về Đức Cơ - vùng biên giới đầy nắng gió, nơi những cánh rừng cao su mỗi độ cuối năm lại đồng loạt thay lá, nhuộm vàng cả một khoảng trời.
Xem thêm
Về làng Thụy Khê thăm nhà thờ Phan Huy Chú
Dòng họ Phan Huy ở Thuỵ Khuê (còn gọi là làng Thầy) xã Quốc Oai thành phố Hà Nội (trước đây thuộc xã Sài Sơn huyện Quốc Oai) vốn rất danh giá và nổi tiếng từ lâu đời. Rồi đến năm 2015, khi ông Ban Ki Moon - Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đến thăm và ghi vào sổ lưu niệm của dòng họ tại ngôi nhà thờ Phan Huy Chú ở dưới chân núi Thầy thì danh thơm của chi tộc Phan Huy lại càng lừng lẫy và được rất nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Ngôi nhà thờ ấy, trong tôi từ lâu vẫn biết, đó không chỉ là nơi thờ tự các bậc tổ tiên tiền bối từng là những triều thần, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dòng họ Phan Huy, của nước nhà qua các triều đại phong kiến, trải từ thời Hậu Lê đến đời nhà Nguyễn mà còn là nơi ra đời của của rất nhiều tác phẩm văn chương, những công trình khảo cứu lịch sử đồ sộ, quý giá của nước nhà. Biết vậy, trong thâm tâm tôi đã nhiều lần muốn đến thăm không gian thờ tự này, đồng thời cũng có thể coi đó là một “chứng nhân” chứng kiến sự ra đời của không ít các tác phẩm, những công trình văn hoá đặc biệt ấy; nhưng rồi việc nọ việc kia mà mãi vẫn chưa thực hiện được. Cứ thế, lòng hẹn lòng mãi, cuối cùng, nhân kỳ nghỉ Tết, tôi cũng đã thu xếp công việc để hành hương về chiêm bái. Và rồi, từ chuyến hành hương ấy, tôi được mở mang, hiểu biết thêm nhiều về dòng họ Phan Huy và những danh sĩ rất mực tài hoa, uyên bác của dòng họ này trên đất phủ Quốc, xứ Đoài mây trắng.
Xem thêm