TIN TỨC

Hồn quê trong một sắc thơ miệt vườn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-01-07 14:36:42
mail facebook google pos stwis
1646 lượt xem

Nguyễn Thanh

Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) - đúng ra năm sinh: 1927 - tên thật Trương Khương Trinh (bút danh khác: Hà Huy Hà, Ngân Hà, Trinh Ngọc, Cửu Long Giang…, gốc người làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang).

Nhà thơ Kiên Giang  (1929-2014)

Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) - đúng ra năm sinh: 1927 - tên thật Trương Khương Trinh (bút danh khác: Hà Huy Hà, Ngân Hà, Trinh Ngọc, Cửu Long Giang…, gốc người làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là Kiên Giang). Ông còn là ký giả, soạn giả cải lương hàng đầu cùng thời với Năm Châu, Viễn Châu, Thái Thụy Phong, Quy Sắc…và là thầy của hai soạn giả tài danh: Hà Triều - Hoa Phượng. Bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc, công chúng rất hâm mộ. Vở cải  lương Người vợ không bao giờ cưới đã giúp cho Thanh Nga (1942-1978) đạt giải Thanh Tâm (1958) và trở thành “nữ hoàng sân khấu”. Trước 1975, Kiên Giang phụ trách ban Thi văn Mây Tần trên đài Phát thanh Sài Gòn, làm thơ và viết cho các báo : Tiếng chuông, Tiếng dội, Điện tín, Tia sáng…Ông tham gia phong trào ký giả đi ăn mày, dẫn đầu đoàn biểu tình chống chế độ Cộng hòa đàn áp đặt quy chế khắt khe lên báo chí nên bị vào tù. Sau ngày thống nhất đất nước, Kiên Giang làm Phó đoàn Cải lương Thanh Nga, kiêm cán bộ phòng Nghệ thuật, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh. Tác phẩm : + Tập thơ: Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Lúa sạ miền Nam, Quê hương thơ ấu. + Vở cải lương : Người đẹp bán tơ (1956), Người vợ không bao giờ cưới, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Hồi trống trường làng, Lưu Bình Dương Lễ…, +Tân cổ giao duyên: Đội gạo đường xa, Người đẹp bán tơ, Hương cau quê ngoại, Cô gái miền Tây… Cuộc đời nhà thơ được hảng phim Truyền hình TP. HCM (TFS) thực hiện thành phim (1999) với nhan đề: “Chiếc giỏ đời người”. Thơ Kiên Giang được coi là ấn tượng giọng thơ chơn chất, mộc mạc của người Nam bộ.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Rạch Giá (nay là Kiên Giang) từng được coi là vùng đất thơ phương Nam với hiện diện của nhiều danh sĩ trên văn đàn : nhà thơ Mạc Thiên Tích (1706-1780) với Chiêu Anh Các, đôi uyên ương thi sĩ : Đông Hồ (1906-1969) - Mộng Tuyết (1914-2007), Sơn Nam (1926-2008) cùng người bạn văn nghệ đồng hương tri kỷ Kiên Giang… và còn nữa dấu ấn không phai của nhà thơ lãng tử yêu nước Nguyễn Bính (1918-1966) tại Hà Tiên … Với Kiên Giang, một khuôn mặt thơ thuộc thế hệ đàn em gần gũi với Nguyễn Bính, mà phong cách thơ có nhiều sắc điệu cọng hưởng với tác giả “Lỡ bước sang ngang”.

Nhà thơ Kiên Giang sinh ra tại làng Đông Thái, Gò Quao, vùng U Minh Thượng, cùng quê với nhà văn Sơn Nam. Thuở nhỏ, anh học trò Trương Khương Trinh sống với gia đình tại quê nhà, sau lên Rạch Giá vào tiểu học. Thi đậu bằng Tiểu học Pháp Việt, Khương Trinh lên Sài Gòn học trường Lê Bá Cang rồi trở xuống Cần Thơ, học lớp Đệ Nhị (nay là lớp 11) trường Nam Hưng (khu vực Tư thục Nam Cường, sau đó là trường Tân Văn tọa lạc  khoảng giữa đường Phan Đình Phùng hiện nay). Tại đây, nhờ có khiếu văn chương, anh được thầy giao cho thực hiện tờ bích báo lấy tên là “Ngày xanh”. Anh lo biên tập bài vỡ kiêm luôn việc trình bày là vẽ và trang trí. Cô bạn học Nguyễn Thị Nhiều có nét chữ đẹp, giúp anh nắn nót lo chép bài vở. Nhiều có cái tên mộc mạc, dân dã nhưng vóc người duyên dáng với khuôn mặt thanh tú và mái tóc huyền liêu trai buông thỏng ôm ấp đôi bờ vai. Gia đình người bạn gái theo đạo Thiên Chúa, nên anh học trò giỏi văn nghệ đa tình thường lén theo rình bạn đi lễ tại nhà thờ Chánh Tòa (ở đường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ) mặc dù mình là người ngoại đạo.

Tình cảm giữa hai người rất “thơ”, và có lẽ trong cõi lòng sâu kín, họ cũng đã cảm nhận nhau tình yêu trong thầm lặng, chẳng khác nào chuyện tình nên thơ giữa chàng thi sĩ tài hoa Pháp Félix d’Avers (1806-1850) và người đẹp Marie Nodier (trong bài thơ “Tình tuyệt vọng” mà nhà văn Khái Hưng (1890-1946) đã dịch rất hay từ tiếng Pháp sang tiếng Việt (1)). Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Kiên Giang cùng những người bạn thanh niên yêu nước như Nguyễn Bính, Sơn Nam vào vào khu 9 cùng toàn dân, tham gia chống giặc ngoại xâm. Bài thơ nổi tiếng một thời “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” (2) của Kiên Giang mang tình tự của tác giả và có nguồn gốc xuất phát từ thời điểm, không gian này.

Kiên Giang là một nhà thơ yêu nước, một soạn giả, một ký giả được sinh ra tại Hậu Giang và lớn lên trong kháng chiến 9 năm chống Pháp ở Nam bộ. Ngoài những vở cải lương mang đề tài lịch sử, văn học, những tấm gương trung hiếu tiết nghĩa cao đẹp trong dân gian,  Kiên Giang thể hiện trong tác phẩm tấm lòng chơn chất, tình cảm dung dị hồn nhiên của con người miền Nam.  Tác phẩm Kiên Giang được coi là thông điệp chung nhà thơ nói hộ tâm tư trong sáng, tình cảm thanh cao cho bà con, làng xóm và đồng bào mình không chỉ vủng sông nước ruộng đồng mà còn cho khắp cả ba miền quê hương ruột thịt. Nếu trước đây có dịp được nghe những bài thơ Kiên Giang chọn ngâm trên sóng đài Phát thanh Sài Gòn của ban Thi văn Mây Tần, thính giả bốn phương cũng đã nhận ra được tính nhất quán ở chủ đề những bài thơ và lập trường chân chính của người phụ trách chương trình. Đó là tình yêu làng xóm, nghĩa tình đồng bào ruột thịt, gián tiếp nói lên lòng yêu quê hương, tinh thần bảo vệ đất nước và ý chí đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Với Kiên Giang, trước tiên, bài thơ nổi tiếng “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được coi là thiên tình sử đẹp tuổi học trò thời hoa niên, lồng trong bối cảnh chiến tranh của tác giả với cô gái có đạo yêu nghệ thuật văn chương ở khu Nhà Thờ Lớn tại Tây Đô - tác phẩm đã làm cho tên tuổi nhà thơ thêm rạng rỡ trên thi đàn. Hầu hết những bài thơ còn lại trong ba thi phẩm của tác giả, đều nói lên được cái tình cảm hồn hậu, chơn chất và ngôn ngữ thơ dung dị, giản đơn như lời ăn tiếng nói thật thà của con người miệt vườn Tây Nam bộ. Thơ Kiên Giang đa phần nghiêng về tả cảnh và tự sự. Kiên Giang là thi sĩ của miền sông nước Hậu Giang nên người đọc thường bắt gặp những cảnh quen thuộc nơi quê hương tác giả. Đó là hình ảnh của con sông Hậu hiền hòa mang nước dòng nước ngọt phù sa màu mỡ cho ruộng lúa vườn cây như đem hơi thở trong lành về cho bà con làng xóm : “Đây Hậu Giang, đây Hậu Giang/ Nhánh sông gắn bó Cửu Long Giang/ Phù sa cuộn chảy trong lòng nước/ Khói sóng hòa hơ thở xóm làng…” (Đẹp Hậu Giang). Yêu đất nước là yêu quê hương, nơi chôn nhau cắt rún còn in đậm dấu vết kỷ niệm của người thân và biết tự giác đứng lên cầm súng,  đấu tranh bảo vệ tổ quốc : “Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo/ Anh làm chiến sĩ giữ quê hương/ Giữ màu áo cưới người yêu cũ/ Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường” (Hoa trắng thôi cài trên áo tím).

Thơ Kiên Giang là những bức tranh hồn hậu về gia đình, về trường học được phác họa đơn sơ, chơn chất mà tinh tế và trữ tình, dễ lôi cuốn người đọc vì dễ hiểu, dễ nhớ, chỉ đọc qua một lần có thể thuộc ngay. Dù có người bảo thơ Kiên Giang có giọng điệu gần gũi với Nguyễn Bính, vì hai thi sĩ nổi tiếng này, ngoài cá tính tương đồng ngẫu nhiên, họ đã có dịp sống và công tác văn nghệ gần nhau lúc còn ở trong chiến khu. Đọc lại thơ Kiên Giang, ta bắt gặp hình ảnh quen thuộc, gần gũi của mọi người trong gia đình, nơi trường học…Đó là cử chỉ bỡ ngỡ của cậu học trò nhỏ ngây thơ rất dễ yêu, bắt đầu làm quen với từng con chữ viết xa lạ lúc mới vào tiểu học dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo : “Từ khi cô giáo tập em đồ/ Không kê giấy chậm em vô ý/ Để dấu tay lem vở học trò ” (Đồng xu giấy chặm). Bút pháp Kiên Giang, dù mộc mạc đơn sơ nhưng tác giả đã nắm bắt tài tình được những chi tiết đáng giá. Cũng như những dòng thơ mới thất ngôn dung dị nhưng đầy hình tượng và sắc màu theo đó nhà thơ đã nhớ lại và mô tả về người mẹ quê Nam bộ tão tần và đáng kính: “Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ/ Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân/ Khói trắng lên trời như tóc bạc/ Con ngờ khói tóc quyện mây Tần” (Khói trắng). Những đường nét, vệt màu tiêu biểu trong bức tranh sinh hoạt của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long luôn hiện diện trong chiều dài và độ sâu của thơ Kiên Giang. Từ chiếc “Bánh ống Trà Vinh” xinh xắn, thơm ngọt đến hình ảnh đặc thù Nam bộ của chiếc cầu tre quen thuộc bắt gặp rải rác ở các sông rạch đồng bằng, luôn được nhà thơ Kiên Giang trìu mến mô tả bên cạnh những câu ca dao ý vị : “Ai ở làng quê…/Đã từng …/ Qua nhịp cầu tre/ Tiếng hò tiếng hát/ Dưới mái nhà tranh/ “Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi/ Khó đi mượn chén ăn cơm/ Mượn ve mua rượu, mượn đờn kéo chơi”. Tiếng “Sàng gạo” vang vọng sột soạt trong ánh hoàng hôn bảng lảng với người mẹ hiền mái tóc trắng phau, tiếng “Xe trâu” cót két, lang thang trên lối mòn làng quê, là những âm vang quen thuộc trong đời nhà thơ: “Mẹ rắc hoàng hôn theo hạt tuyết/ Cám bay phảng phất quyện hương cau/ Nghiêng nghiêng bóng xế sau lưng mẹ/ Gạo trắng như màu tóc trắng phau” (Sàng gạo)- “Xe trâu cót két/ Cót két xe trâu/ Bánh xe nằng nặng in sâu lối mòn…” (Xe trâu). Bài thơ”Tiền và lá” mang tính triết lý khiến ta dễ ngậm ngùi về một thói đời không phải là hiếm gặp ở cõi nhân gian : “Tiền không là là em ơi/ Tiền là giấy bạc của đời in ra/ Người ta giấy bạc đầy nhà/ Cho nên mới được gọi là chồng em” (Tiền và lá”). Còn nữa, vẫn với lời thơ chơn chất, thật thà và bút pháp bình dị, hồn nhiên, nhà thơ Kiên Giang tiếp tục cho ta hình tượng những con đò, chiếc quán đình làng.. luôn đưa ta về với quê hương, nguồn cội. Trên tất cả ở nội dung thơ Kiên Giang vẫn là tình yêu đất nước quê hương như luôn bàng bạc theo từng tứ thơ, câu thơ :”Quê hương là máu, là xương thịt…/ Nếu ai xâm chiếm đến quê hương/ Tình quê sẽ hóa ra tình nước/ Tình nước đúc thành súng với gươm…/ Dân đứng lên siết chặt quân hàng/ Giặc vào đây, giặc sẽ rã tan…” (Tình quê tình nước).

Với tình cảm nhạy bén của một nhà thơ cộng với sự năng nỗ bộc trực của một ký giả, Kiên Giang không thể thờ ơ trước các vấn đề thời sự chướng tai gai mắt diễn ra trong xã hội. Những ngày đất nước chưa giải phóng, nhà thơ đã hăng hái tham gia, dẫn đầu đoàn biểu tình chống chế độ khắt khe với giới báo chí mà không sợ tù đày. Phong trào chống chế độ độc tài mục nát đã phong tỏa chùa chiềng, đàn áp ni cô, nhà sư xuống đường, sau sự kiện tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức, Nhất Chi Mai, rồi đến hành động quả cảm coi thường mạng sống của Quách Thị Trang, Mai Tuyết An…Cả đến cái chết của anh sinh viên Mỹ Morisson từ bên kia bờ Thái Bình đương đã thiêu trước lầu Năm Góc để chống đối cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ, đòi hòa bình tại Việt Nam, Kiên Giang đều có làm thơ để bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ, tiếc thương: “Nhất Chi Mai, Morisson/ Đôi bồ câu trắng giữa lòng thiên thu” (KG) – “Mai Tuyết An, Mai Tuyết An/ Là hoa mới nở giữa vườn xuân/ Tuổi băng trinh đẹp màu thanh khiết/ Ánh mắt chưa hoen lấm bụi trần…”(KG). Những năm cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, thấy các cô gái đua nhau hăm hở lấy chồng Mỹ - cũng như phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc gần đây, nhà thơ thay lời người mẹ, bày tỏ nỗi niềm : “Một sáng qua đò đi chợ Tết/ Mẹ khuyên con gái lọc lừa yêu/ Lấy chồng ngoại quốc, quên nguồn gốc/ Tiền bạc đâu xe sợi chỉ điều/ Mai mốt nó về bên xứ nó/ Dân mình đùm bọc đức con lai/ Lớn lên nó oán hờn cha mẹ/ Tham bã phù hoa bỏ giống nòi” (KG).

Chúng tôi không quên khoảng thời gian giữa “Phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc” và “đấu tranh  chống đế quốc Mỹ”, những ngày anh em giáo viên, sinh viên học sinh có tư tưởng tiến bộ, hăng hái làm tờ tạp chí “Văn nghệ Miền Tây” (3) vào cuối năm 1967, được gặp Kiên Giang và Sơn Nam ở khu Nancy (cuối đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn). Hay dưới khung trời đêm Tây Đô xám xịt, thỉnh thoảng thành phố gầm rung lên với tiếng bom do phi cơ B52 dội xuống U Minh vào đầu năm 1970 khi làm VNMT và tờ Lập trường (4)  tại quán cà phê “Giọt buồn” của cô giáo Mai trước sân xưởng Cơ khí tại đường Mạc Tử Sanh (nay là đường 30/4, đối diện với Bệnh viện 121 bây giờ). Những lần lại được gặp mặt nhau, các anh Kiên Giang, Sơn Nam, nhà văn yêu nước Vũ Hạnh (Nguyễn Đức Dũng) cùng nhà báo Mặc Tuyền, các anh tặng sách, gởi sách cho chúng tôi bán hộ và không quên nhắc nhở nhóm biên tập giữ vững lập trường dân tộc. Những cây bút văn nghệ tại Cần Thơ lúc ấy : Ngũ Lang, Nguyễn Bá Thế (Nhất Tâm, Nam Xuân Thọ), Huyền Vân Thanh… là những tác giả thường có thơ được Kiên Giang chọn ngâm và bình trong chương trình của ban thi văn Mây Tần do anh phụ trách trên đài Phát thanh. Ngày nay, những anh em cùng nhóm dạo ấy, nếu may mắn còn khỏe mạnh và được gặp lại nhau, thường không quên nhắc lại những kỷ niệm đẹp về nhà thơ quá cố Kiên Giang kèm theo những lời chia sẻ ân tình chung thủy về một bậc văn nghệ đàn anh.

Tóm lại, Kiên Giang là một khuôn mặt thơ đáng kính trong dòng thi ca yêu nước suốt cả hai thời kỳ đấu tranh chống thực dân và đế quốc. Tài hoa ở nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng tài năng trên văn đàn, sân khấu mà còn nổi bật nhân cách ở sự nhạy bén trong hoạt động và đấu tranh xã hội. Chính nhà văn Sơn Nam, người bạn cùng quê và “đồng thanh khí” của Kiên Giang đã chân tình thổ lộ : “Đây là người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi”. Nội dung thơ Kiên Giang thiên về đề tài quê hương, làng xóm, tình yêu đất nước và sinh hoạt dân dã nơi làng quê. Về nghệ thuật, ít khi nhà thơ dùng từ hoa bay bướm như Nguyễn Bính vốn là một nhà thơ gần gũi với ông. Lời thơ Kiên Giang giống như cuộc đời thi sĩ, luôn sáng trong, giản dị, như tiếng nói tự nhiên, mộc mạc của người Nam bộ nên rất giàu tính nhân văn, được nhiều người thuộc lòng. Do vậy, ta có thể nói : thơ Kiên Giang đậm tính “về nguồn”, và tạo nên một sắc thơ đặc biệt của miệt vườn.  

                                                                                  01. 01. 2024  

                                                                                        N. T

 (1)  Xem KTNN số 834  ra ngày 10.10.2013 bài “Danh sĩ và giai nhân” của Ngũ Lang, tr. 13

(2)  Cũng là tên tập thơ của Kiên Giang, do họa sĩ Duy Liêm vẽ bìa. NXB Phù Sa Sài Gòn ấn hành trước 1975

(3)  “Văn nghệ Miền Tây”, Tạp chí Văn nghệ (1967-1970) ra được 5 số, do Ngũ Lang chủ trương biên tập, cùng  sự cộng tác của một số nhà văn, SVHS có tư tưởng tiến bộ  và lập trường dân tộc, yêu nước, chống xâm lược. Số đặc biệt Xuân Mậu Thân (1968)  được GS. Pháp văn Nguyễn Bá Thảo - nguyên Phó Chủ tịch MTDTGP Khu Tây Nam bộ mang ra chiến khu (5/1968)

(4)  “Lập trường”, tạp san Xuân 1970 ra tại Vị Thanh (nay là Hậu Giang)  do Ngũ Lang chủ  trương biên tập với sự cộng tác của Nguyễn Bá Thế, Nhất Tâm, Sơn Nam, Kiên Giang...      

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm