TIN TỨC

Du Tử Lê – Ai nhớ ngàn năm một ngón tay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-13 07:59:13
mail facebook google pos stwis
6539 lượt xem

NGUYỄN HỒNG LAM

Chiều ngày 29 - 4 -1975, có hai nghệ sĩ dáo dác chạy loạn, không hẹn mà gặp nhau khi cùng đứng ôm lan can cầu Sài Gòn ngó xuống phía dưới Tân Cảng. Họ đã trút bỏ quân phục, nhưng đôi người Sài Gòn đang hớt hãi trốn chạy đạn pháo của đôi bên vẫn nhận ra đó là hai viên sĩ quan. Người lớn tuổi là đại úy Lê Cự Phách, tức nhà thơ Du Tử Lê, chủ bút tờ Tiền Phong, người từng đạt Giải thưởng Văn chương toàn quốc năm 1973 cho tập “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”. Ông cũng là tác giả “Khúc Thụy Du” được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc nức tiếng một thời. Người trẻ hơn, tướng vâm váp hơn là nhà thơ, nhà báo, thiếu úy Đoàn Kế Tường, đồng tác giả cuốn “Quân sử Quân đoàn I VNCH”, viết chung, tên đứng sau tên tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh quân đoàn.

Đời họ, dẫu thành công hay thất bại, đã lừng danh hay sắp nổi tiếng cũng đều gắn với màu áo sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Sài Gòn hấp hối, tương lai của họ cũng tan tác. Hai thi sĩ sắp lạc thời đưa mắt nhìn nhau rồi cùng nhìn xuống mặt sông, cố tìm một cơ hội. Không ai nói câu nào. Dưới đó, mặt sóng nơi neo đậu giang thuyền của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa cũng đang chao đảo.

Khi hoàng hôn sặc sụa mùi thuốc súng đã nhuộm đỏ mặt sông, người trẻ hơn mới chịu lên tiếng trước. “Chị Hai tôi có đưa một cây vàng, kêu tôi chạy. Nhưng thôi, má tôi đã già, tôi ở lại, rồi ra sao thì ra. Anh cầm lấy, chạy nhanh đi. Đừng nấn ná nữa. Hôn thằng bé Lê Tử Du cho tôi nhé. Nói chú Tường xin lỗi. Lần nào vô nhà, chú với bố cũng cũng nhả khói thuốc mù trời làm nó khóc không ra hơi. Giờ thì hết rồi, anh đưa nó đi đi. Đi đến nơi nào không lửa khói...”.

Vậy là chia tay. Đại úy Lê Cự Phách đã đi rất xa, sang tận nước Mỹ. Căn phòng, ngôi nhà nơi ông sống, dẫu bình yên thì vẫn cứ quanh năm ám khói. Ông không bỏ được thuốc, không bỏ được thói quen, không nguôi được nỗi quay quắt nhớ quê hương. Vất vả nhưng an lành trên đất Garden Grove, Nam California (Mỹ), ông vẫn ngỡ dụ ngôn đời mình đã được tự viết từ nhiều năm trước:

“Như loài chim bói cá

Trên cọc nhọn trăm năm

Tôi tìm đời đánh mất

Trên vũng nước cuộc đời...”.

Và ông lại viết, viết và viết. Thơ của ông hoàng thơ tình một thời giai đoạn đó ngập tràn sầu muộn mây Tần, ướt đẫm nỗi hoài cố quốc, mịt mùng thân phận tha hương. Dẫu trên đất Mỹ, ông vẫn là thi sĩ người Việt hội nhập thành công hiếm có.

Thập niên 1980 - 1990, không chỉ các giai phẩm của người Việt mà ngay cả trên những tờ báo lớn của Mỹ như Los Angeles, New York Times..., thơ ông vẫn được giới thiệu trang trọng. Thơ ông được dịch trong tuyển tập “Understanding Vietnam” do liên Đại học Berkeley - UCLA - London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu. Ông được mời đi giảng về thơ ca Việt Nam tại nhiều đại học danh tiếng tại Mỹ, Pháp, Đức, Úc... Tác phẩm của ông xuất hiện trong nhiều thi tuyển xứ người. Bản thân ông cũng được mời làm giám khảo nhiều cuộc thi thơ. Nhưng ông vẫn chất đầy trong tâm một cảm thức cô độc và tuyệt vọng của kẻ lưu vong hoài cố quốc. Cơ hồ, độc giả trong nước đã quên mất thơ ông, đời ông, dẫu nhiều nhạc phẩm có lời lấy từ thơ ông, người ta vẫn hát, vẫn say đắm.

Bất ngờ, tháng 10 -1985, tên ông xuất hiện, được giới thiệu trang trọng trên báo...Công an TP Hồ Chí Minh. Sau hơn chục năm lao đao trả “nợ” ý thức hệ, nhà thơ Đoàn Kế Tường đã tìm được một vị trí công việc tại tờ báo tiếng nói của những người mà nửa đời ông chống lại. Lúc này, ông ký tên là Đoàn Thạch Hãn. Phó Tổng biên tập báo lúc đó là nhà văn Huỳnh Bá Thành, tức họa sĩ Ớt. Trước 1975, ông Ớt là nhà báo khá... cay của phe đối lập ở miền Nam, gắn bó nhiều với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, ký giả của “chế độ cũ”. Xem Đoàn Kế Tường như một người bạn, người em trong làng văn nghệ sĩ, họa sĩ Ớt, một ông Cộng sản khá giang hồ và chịu chơi đã không ngần ngại đưa Đoàn Thạch Hãn vừa mới đi học cải tạo về cưu mang, giao cho một chân biên tập - một cơ hội.

Ở vị trí đó, Đoàn Thạch Hãn đã không quên người bạn, người anh của một thời. Du Tử Lê vẫn viết thư về hỏi thăm, thương cảm, ái ngại và chia sẻ với người ở lại. Bài thơ “Nếu tôi chết hãy đem tôi ra biển” của Du Tử Lê, từ bản chép tay trong thư đã xuất hiện trên mặt báo. Một tuần sau, nó được đăng lại lần thứ hai trên tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Du Tử Lê trở thành nhà thơ lưu vong đầu tiên có tác phẩm xuất hiện và được chào đón trên báo chí Cộng sản ở trong nước.

Thơ ông chất ngút nỗi niềm:
 

KHI TÔI CHẾT HÃY ĐEM TÔI RA BIỂN
 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đời lưu vong không cả một ngôi mồ

vùi đất lạ thịt xương e khó rã

hồn không đi, sao trở lại quê nhà

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

bên kia biển là quê hương tôi đó

rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi

cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối

biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi

những năm trước bao người ngon miệng cá

thì sá gì thêm một xác cong queo

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

cho tôi về gặp lại các con tôi

cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi

từ những mắt đã buồn hơn bóng tối...
 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và trên đường hãy nhớ hát quốc ca

ôi lâu quá không còn ai hát nữa

(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

 

Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết

đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

Tháng 12-1977.
 

Nhưng phải mất thêm nhiều năm sau nữa, khi đất nước đã bước vào giai đoạn đổi mới, nhất là sau khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Du Tử Lê mới có cơ hội quay lại quê nhà.

Không như ông lo sợ và đau đớn, quê hương không quên đứa con lưu lạc. Lớp văn nghệ trung niên vẫn chào đón ông. Các nhà thơ Trần Từ Duy, Phạm Chu Sa, nhà báo Nguyễn Khắc Nhượng, tay máy (DOP) Nguyễn Hòe, diễn viên Trần Quang, đạo diễn Lê Hoàng Hoa, diễn viên Lê Cung Bắc...vẫn khoái kéo ông đi nhâm nhi cà phê sáng trong Tao Đàn hay quán Sỏi Đá, nối dài hàn huyên bằng tiệc rượu khan không định trước. Tất nhiên, ông chỉ nhấp môi chút ít. Thời gian còn lại, ông nhả khói phà phà. Ca sĩ Elvis Phương vẫn giành phòng cho ông trong ngôi biệt thự mới xây bên kia sông Sài Gòn nhìn ra Tân Cảng. Tất nhiên ông chẳng bao giờ đến ở, chỉ ra khách sạn đâu đó ở quận I, gần chợ Bến Thành.

Thơ ông vẫn khiến lớp hậu sinh say mê. Dẫu khác thời, chúng cũng vẫn điên rồ với những yêu đương. Chúng rất thích cái phóng túng ngang tàng và tất nhiên đầy cẩu thả khi ông tuyên bố sẵn sàng “Tặng em chín ngón không đeo nhẫn/ Và những tàn phai đầy tuổi tôi”. Chúng vẫn bị ông mê hoặc khi thốt ra “Em mới lớn tình như thác gọi/ Thương giùm ta thân ngựa đã xa bầy”.

Chúng khoái mà bố mẹ chúng cũng thích. Rất nhiều “ai đó” vẫn tin rằng câu “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời”, nhà thơ chỉ viết riêng cho họ, cho chính họ. Ca sĩ Mai Khôi vẫn quấn quýt ôm đàn hát ca khúc “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”, nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ, cho ông nghe tại phòng trà 46 Phạm Ngọc Thạch của vợ chồng ca sĩ - nhạc sĩ Cẩm Vân – Khắc Triệu... Đã có sinh viên đại học, học viên cao học lấy thơ ông, tác phẩm sáng tạo của ông làm đề tài luận văn tốt nghiệp...

Và thơ ông đã vui trở lại. Năm 2014, thi phẩm “Giỏ hoa thời mới lớn” của ông được xuất bản trong nước. Nó khởi đầu cho hàng loạt tác phẩm khác được ông giành riêng xuất bản tại quê nhà. Sau "Giỏ hoa thời mới lớn" là tiểu thuyết "Với nhau, một ngày nào"; tập tùy bút "Trên ngọn tình sầu"; tùy bút "Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời"; 'Tuyển thơ Khúc Thụy Du"; tùy bút "Giữ đời cho nhau"; tập thơ "Chúng ta, những con đường"...

Những tập sách ấy, với ông giống như kỷ niệm cùng quê hương hơn là thành tựu của đời cầm bút. Sự nghiệp của ông đồ sộ hơn nhiều. Về sáng tác, 77 năm nấn ná cõi con người, ông để lại cho đời 77 tác phẩm thơ và văn xuôi. Ông cũng đã viết rất nhiều tiểu luận, phê bình, nghiên cứu, đa phần đều là bài giảng, bài nói chuyện cho sinh viên các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Thời trai trẻ, ông từng là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana, Hoa Kỳ (1969). Được nước Mỹ góp phần đào tạo, già nửa sau của sự nghiệp sáng tạo, ông cũng thi thố tung hoành trên đất Mỹ.

Nhưng mục đích và tấm lòng của ông vẫn rất Việt Nam. Năm nào ông cũng về, có năm 2-3 chuyến. Thường, cứ sau Tết non tháng là ông có mặt ở Sài Gòn, rồi ra Bắc...Ông bảo muốn quay về dịp đó để ngó mùa hoa xoan, hoa sấu nở rộn ràng dọc đường Kim Bảng, Hà Nam quê ông hay dặt dìu tỏa hương trên những ngõ đường khuya Hà Nội, nơi thiếu thời ông theo học. Ông bảo, những mơ ước đó, 21 năm sống ở miền Nam, ông vẫn nhớ mà không sao thực hiện được. Mất thêm gần 20 năm nữa ở Hoa Kỳ, lòng ông vẫn quay quắt u hoài, sợ vĩnh viễn không ngày gặp lại. Giờ hiện thực, ông bảo sướng quá, vui quá.

Về giữa quê hương khi tuổi đã xế chiều, lòng ông hóa trẻ thơ.

Lần nào về ông cũng đi với bà Phan Hạnh Tuyền, người bạn đời. Người đón ông đầu tiên bao giờ cũng là nhà thơ, nhà báo Đoàn Thạch Hãn. Giữa hai người là vời vợi một mối thâm tình.

Tôi hậu sinh. Do chơi thân với anh Đoàn Thạch Hãn, tôi được anh nhờ giúp vài chuyện nho nhỏ liên quan đến chuyện in ấn, phát hành, nghiên cứu tác phẩm của Du Tử Lê. Nhờ đó mà quen, mà thân, mà có nhiều dịp được cùng ông hàn huyên đủ thứ chuyện trên trời dưới bể. Tất nhiên, tất cả chỉ xoay quanh văn chương, văn nghệ. Ông bảo, văn chương với ông, hơn cả tình yêu, là sự cứu rỗi, nhất là trong giai đoạn trầm luân mưu sinh ở xứ người. Có một đêm chỉ 3 người: ông, Đoàn Thạch Hãn và tôi, ông từng bảo: “Khoảng 10 năm sau khi qua Mỹ, thường trực trong tôi vẫn là ám ảnh về cái chết. Nếu không viết ra được, chắc tôi đã tự kết thúc đời mình. Văn chương đã níu tôi ở lại”.

Hơn cả sự hồi sinh, sáng tạo còn giúp ông trẻ lại, hóa trẻ thơ. Mà ông trẻ thật, rất già nhưng vẫn trẻ, với nụ cười hiền lành, phúng phính rất ngây thơ. Mắt ông cứ cười nheo nheo không giấu nổi hai chữ đa tình. Hơn một lần, tôi đã từng thú vị ngồi ngó ông mút que kem giữa phố Sài Gòn. Tay đã run run, mút kem những phải đỡ thêm chiếc dĩa bên dưới, sợ kem rớt. Bảo đổi dùng kem ly khỏi rớt, ông dứt khoát không chịu, cứ cười nheo nheo: “Sao mà sung sướng thế này”. Tôi hiểu và không nói gì, chỉ sợ khiến mạch hồn nhiên của ông kinh động. Giữa quê hương, lão thi sĩ đang mút tuổi thơ mình.

Tháng 9. 2014, nhà báo Đoàn Thạch Hãn qua đời. Ga đến ga đi vắng cố tri đón tiễn, Du Tử Lê cũng ít về Việt Nam hơn. Mỗi chuyến về về cũng ngắn ngủi và lặng lẽ hơn. Phần vì sức khỏe ông “đã thân ngựa hao gầy”, phần nữa, ông không nói nhưng tôi đoán được, là chút nỗi niềm “Biển sáp thù du thiểu nhất nhân” (buồn bẻ thù du thiếu một người).

Tôi không chắc họ có hẹn nhau không. Mà có khi, tri âm thì vẫn gặp không cần hẹn. Và bữa nay, tiết trùng cửu (9-9 Âm lịch), mùa bẻ thù dù vừa đi qua, tôi nghe tin ông tạ thế (hôm thứ 2, mùng 7-10)... Một đời tài hoa, đa tình giữa hồn nhiên đã khép.

Ông đi, nhưng nhiều người sẽ nhớ, như thơ ông từng viết:

Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn

nói gì kiếp khác với đời sau.

đôi khi nghe ấm trên da, thịt

như thể ai đi mới trở về.

Hai người bạn vong niên lớn tuổi của tôi, Du Tử Lê và Đoàn Thạch Hãn chắc giờ đã hội ngộ cùng nhau. Chắc ở nơi nào đó, ông Đoàn Thạch Hãn lại đang lơ đãng bắc ghế đẩu ngồi ngó ông Du Tử Lê tay cầm que kem đưa miệng mút, tay đỡ chiếc dĩa nhỏ sợ kem rơi trong buổi chiều nhiều gió.

Mai kia sống với vầng trăng ấy

người có còn thương một bóng cây

Góc phố còn treo đôi mắt bão

Ai nhớ ngàn năm một ngón tay ?

Tôi sẽ nhớ. Nhắc thơ ông, tôi muốn hình dung thêm ngàn năm bóng ngón tay cầm đỡ que kem thơ bé thôi mà.

Và tôi cũng đoán ra họ sẽ gặp nhau ở đâu. Chiều nay tôi sẽ ra ôm lan can cầu Sài Gòn ngó xuống Tân Cảng. Bóng thi sĩ và tri kỷ hẳn đang tan trong hoàng hôn chao trên mặt sóng...

9-10-2019.

(Bài và ảnh do tác giả gửi cho Văn chương TP. Hồ Chí Minh nhân 2 năm ngày mất của nhà thơ Du Tử Lê).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm