TIN TỨC

Du Tử Lê – Ai nhớ ngàn năm một ngón tay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2021-10-13 07:59:13
mail facebook google pos stwis
6964 lượt xem

NGUYỄN HỒNG LAM

Chiều ngày 29 - 4 -1975, có hai nghệ sĩ dáo dác chạy loạn, không hẹn mà gặp nhau khi cùng đứng ôm lan can cầu Sài Gòn ngó xuống phía dưới Tân Cảng. Họ đã trút bỏ quân phục, nhưng đôi người Sài Gòn đang hớt hãi trốn chạy đạn pháo của đôi bên vẫn nhận ra đó là hai viên sĩ quan. Người lớn tuổi là đại úy Lê Cự Phách, tức nhà thơ Du Tử Lê, chủ bút tờ Tiền Phong, người từng đạt Giải thưởng Văn chương toàn quốc năm 1973 cho tập “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”. Ông cũng là tác giả “Khúc Thụy Du” được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc nức tiếng một thời. Người trẻ hơn, tướng vâm váp hơn là nhà thơ, nhà báo, thiếu úy Đoàn Kế Tường, đồng tác giả cuốn “Quân sử Quân đoàn I VNCH”, viết chung, tên đứng sau tên tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh quân đoàn.

Đời họ, dẫu thành công hay thất bại, đã lừng danh hay sắp nổi tiếng cũng đều gắn với màu áo sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Sài Gòn hấp hối, tương lai của họ cũng tan tác. Hai thi sĩ sắp lạc thời đưa mắt nhìn nhau rồi cùng nhìn xuống mặt sông, cố tìm một cơ hội. Không ai nói câu nào. Dưới đó, mặt sóng nơi neo đậu giang thuyền của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa cũng đang chao đảo.

Khi hoàng hôn sặc sụa mùi thuốc súng đã nhuộm đỏ mặt sông, người trẻ hơn mới chịu lên tiếng trước. “Chị Hai tôi có đưa một cây vàng, kêu tôi chạy. Nhưng thôi, má tôi đã già, tôi ở lại, rồi ra sao thì ra. Anh cầm lấy, chạy nhanh đi. Đừng nấn ná nữa. Hôn thằng bé Lê Tử Du cho tôi nhé. Nói chú Tường xin lỗi. Lần nào vô nhà, chú với bố cũng cũng nhả khói thuốc mù trời làm nó khóc không ra hơi. Giờ thì hết rồi, anh đưa nó đi đi. Đi đến nơi nào không lửa khói...”.

Vậy là chia tay. Đại úy Lê Cự Phách đã đi rất xa, sang tận nước Mỹ. Căn phòng, ngôi nhà nơi ông sống, dẫu bình yên thì vẫn cứ quanh năm ám khói. Ông không bỏ được thuốc, không bỏ được thói quen, không nguôi được nỗi quay quắt nhớ quê hương. Vất vả nhưng an lành trên đất Garden Grove, Nam California (Mỹ), ông vẫn ngỡ dụ ngôn đời mình đã được tự viết từ nhiều năm trước:

“Như loài chim bói cá

Trên cọc nhọn trăm năm

Tôi tìm đời đánh mất

Trên vũng nước cuộc đời...”.

Và ông lại viết, viết và viết. Thơ của ông hoàng thơ tình một thời giai đoạn đó ngập tràn sầu muộn mây Tần, ướt đẫm nỗi hoài cố quốc, mịt mùng thân phận tha hương. Dẫu trên đất Mỹ, ông vẫn là thi sĩ người Việt hội nhập thành công hiếm có.

Thập niên 1980 - 1990, không chỉ các giai phẩm của người Việt mà ngay cả trên những tờ báo lớn của Mỹ như Los Angeles, New York Times..., thơ ông vẫn được giới thiệu trang trọng. Thơ ông được dịch trong tuyển tập “Understanding Vietnam” do liên Đại học Berkeley - UCLA - London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu. Ông được mời đi giảng về thơ ca Việt Nam tại nhiều đại học danh tiếng tại Mỹ, Pháp, Đức, Úc... Tác phẩm của ông xuất hiện trong nhiều thi tuyển xứ người. Bản thân ông cũng được mời làm giám khảo nhiều cuộc thi thơ. Nhưng ông vẫn chất đầy trong tâm một cảm thức cô độc và tuyệt vọng của kẻ lưu vong hoài cố quốc. Cơ hồ, độc giả trong nước đã quên mất thơ ông, đời ông, dẫu nhiều nhạc phẩm có lời lấy từ thơ ông, người ta vẫn hát, vẫn say đắm.

Bất ngờ, tháng 10 -1985, tên ông xuất hiện, được giới thiệu trang trọng trên báo...Công an TP Hồ Chí Minh. Sau hơn chục năm lao đao trả “nợ” ý thức hệ, nhà thơ Đoàn Kế Tường đã tìm được một vị trí công việc tại tờ báo tiếng nói của những người mà nửa đời ông chống lại. Lúc này, ông ký tên là Đoàn Thạch Hãn. Phó Tổng biên tập báo lúc đó là nhà văn Huỳnh Bá Thành, tức họa sĩ Ớt. Trước 1975, ông Ớt là nhà báo khá... cay của phe đối lập ở miền Nam, gắn bó nhiều với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, ký giả của “chế độ cũ”. Xem Đoàn Kế Tường như một người bạn, người em trong làng văn nghệ sĩ, họa sĩ Ớt, một ông Cộng sản khá giang hồ và chịu chơi đã không ngần ngại đưa Đoàn Thạch Hãn vừa mới đi học cải tạo về cưu mang, giao cho một chân biên tập - một cơ hội.

Ở vị trí đó, Đoàn Thạch Hãn đã không quên người bạn, người anh của một thời. Du Tử Lê vẫn viết thư về hỏi thăm, thương cảm, ái ngại và chia sẻ với người ở lại. Bài thơ “Nếu tôi chết hãy đem tôi ra biển” của Du Tử Lê, từ bản chép tay trong thư đã xuất hiện trên mặt báo. Một tuần sau, nó được đăng lại lần thứ hai trên tờ Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Du Tử Lê trở thành nhà thơ lưu vong đầu tiên có tác phẩm xuất hiện và được chào đón trên báo chí Cộng sản ở trong nước.

Thơ ông chất ngút nỗi niềm:
 

KHI TÔI CHẾT HÃY ĐEM TÔI RA BIỂN
 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đời lưu vong không cả một ngôi mồ

vùi đất lạ thịt xương e khó rã

hồn không đi, sao trở lại quê nhà

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi

bên kia biển là quê hương tôi đó

rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi

cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối

biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi

những năm trước bao người ngon miệng cá

thì sá gì thêm một xác cong queo

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

cho tôi về gặp lại các con tôi

cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi

từ những mắt đã buồn hơn bóng tối...
 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

và trên đường hãy nhớ hát quốc ca

ôi lâu quá không còn ai hát nữa

(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

 

Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết

đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

Tháng 12-1977.
 

Nhưng phải mất thêm nhiều năm sau nữa, khi đất nước đã bước vào giai đoạn đổi mới, nhất là sau khi Mỹ bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Du Tử Lê mới có cơ hội quay lại quê nhà.

Không như ông lo sợ và đau đớn, quê hương không quên đứa con lưu lạc. Lớp văn nghệ trung niên vẫn chào đón ông. Các nhà thơ Trần Từ Duy, Phạm Chu Sa, nhà báo Nguyễn Khắc Nhượng, tay máy (DOP) Nguyễn Hòe, diễn viên Trần Quang, đạo diễn Lê Hoàng Hoa, diễn viên Lê Cung Bắc...vẫn khoái kéo ông đi nhâm nhi cà phê sáng trong Tao Đàn hay quán Sỏi Đá, nối dài hàn huyên bằng tiệc rượu khan không định trước. Tất nhiên, ông chỉ nhấp môi chút ít. Thời gian còn lại, ông nhả khói phà phà. Ca sĩ Elvis Phương vẫn giành phòng cho ông trong ngôi biệt thự mới xây bên kia sông Sài Gòn nhìn ra Tân Cảng. Tất nhiên ông chẳng bao giờ đến ở, chỉ ra khách sạn đâu đó ở quận I, gần chợ Bến Thành.

Thơ ông vẫn khiến lớp hậu sinh say mê. Dẫu khác thời, chúng cũng vẫn điên rồ với những yêu đương. Chúng rất thích cái phóng túng ngang tàng và tất nhiên đầy cẩu thả khi ông tuyên bố sẵn sàng “Tặng em chín ngón không đeo nhẫn/ Và những tàn phai đầy tuổi tôi”. Chúng vẫn bị ông mê hoặc khi thốt ra “Em mới lớn tình như thác gọi/ Thương giùm ta thân ngựa đã xa bầy”.

Chúng khoái mà bố mẹ chúng cũng thích. Rất nhiều “ai đó” vẫn tin rằng câu “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời”, nhà thơ chỉ viết riêng cho họ, cho chính họ. Ca sĩ Mai Khôi vẫn quấn quýt ôm đàn hát ca khúc “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”, nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ, cho ông nghe tại phòng trà 46 Phạm Ngọc Thạch của vợ chồng ca sĩ - nhạc sĩ Cẩm Vân – Khắc Triệu... Đã có sinh viên đại học, học viên cao học lấy thơ ông, tác phẩm sáng tạo của ông làm đề tài luận văn tốt nghiệp...

Và thơ ông đã vui trở lại. Năm 2014, thi phẩm “Giỏ hoa thời mới lớn” của ông được xuất bản trong nước. Nó khởi đầu cho hàng loạt tác phẩm khác được ông giành riêng xuất bản tại quê nhà. Sau "Giỏ hoa thời mới lớn" là tiểu thuyết "Với nhau, một ngày nào"; tập tùy bút "Trên ngọn tình sầu"; tùy bút "Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời"; 'Tuyển thơ Khúc Thụy Du"; tùy bút "Giữ đời cho nhau"; tập thơ "Chúng ta, những con đường"...

Những tập sách ấy, với ông giống như kỷ niệm cùng quê hương hơn là thành tựu của đời cầm bút. Sự nghiệp của ông đồ sộ hơn nhiều. Về sáng tác, 77 năm nấn ná cõi con người, ông để lại cho đời 77 tác phẩm thơ và văn xuôi. Ông cũng đã viết rất nhiều tiểu luận, phê bình, nghiên cứu, đa phần đều là bài giảng, bài nói chuyện cho sinh viên các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Thời trai trẻ, ông từng là sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana, Hoa Kỳ (1969). Được nước Mỹ góp phần đào tạo, già nửa sau của sự nghiệp sáng tạo, ông cũng thi thố tung hoành trên đất Mỹ.

Nhưng mục đích và tấm lòng của ông vẫn rất Việt Nam. Năm nào ông cũng về, có năm 2-3 chuyến. Thường, cứ sau Tết non tháng là ông có mặt ở Sài Gòn, rồi ra Bắc...Ông bảo muốn quay về dịp đó để ngó mùa hoa xoan, hoa sấu nở rộn ràng dọc đường Kim Bảng, Hà Nam quê ông hay dặt dìu tỏa hương trên những ngõ đường khuya Hà Nội, nơi thiếu thời ông theo học. Ông bảo, những mơ ước đó, 21 năm sống ở miền Nam, ông vẫn nhớ mà không sao thực hiện được. Mất thêm gần 20 năm nữa ở Hoa Kỳ, lòng ông vẫn quay quắt u hoài, sợ vĩnh viễn không ngày gặp lại. Giờ hiện thực, ông bảo sướng quá, vui quá.

Về giữa quê hương khi tuổi đã xế chiều, lòng ông hóa trẻ thơ.

Lần nào về ông cũng đi với bà Phan Hạnh Tuyền, người bạn đời. Người đón ông đầu tiên bao giờ cũng là nhà thơ, nhà báo Đoàn Thạch Hãn. Giữa hai người là vời vợi một mối thâm tình.

Tôi hậu sinh. Do chơi thân với anh Đoàn Thạch Hãn, tôi được anh nhờ giúp vài chuyện nho nhỏ liên quan đến chuyện in ấn, phát hành, nghiên cứu tác phẩm của Du Tử Lê. Nhờ đó mà quen, mà thân, mà có nhiều dịp được cùng ông hàn huyên đủ thứ chuyện trên trời dưới bể. Tất nhiên, tất cả chỉ xoay quanh văn chương, văn nghệ. Ông bảo, văn chương với ông, hơn cả tình yêu, là sự cứu rỗi, nhất là trong giai đoạn trầm luân mưu sinh ở xứ người. Có một đêm chỉ 3 người: ông, Đoàn Thạch Hãn và tôi, ông từng bảo: “Khoảng 10 năm sau khi qua Mỹ, thường trực trong tôi vẫn là ám ảnh về cái chết. Nếu không viết ra được, chắc tôi đã tự kết thúc đời mình. Văn chương đã níu tôi ở lại”.

Hơn cả sự hồi sinh, sáng tạo còn giúp ông trẻ lại, hóa trẻ thơ. Mà ông trẻ thật, rất già nhưng vẫn trẻ, với nụ cười hiền lành, phúng phính rất ngây thơ. Mắt ông cứ cười nheo nheo không giấu nổi hai chữ đa tình. Hơn một lần, tôi đã từng thú vị ngồi ngó ông mút que kem giữa phố Sài Gòn. Tay đã run run, mút kem những phải đỡ thêm chiếc dĩa bên dưới, sợ kem rớt. Bảo đổi dùng kem ly khỏi rớt, ông dứt khoát không chịu, cứ cười nheo nheo: “Sao mà sung sướng thế này”. Tôi hiểu và không nói gì, chỉ sợ khiến mạch hồn nhiên của ông kinh động. Giữa quê hương, lão thi sĩ đang mút tuổi thơ mình.

Tháng 9. 2014, nhà báo Đoàn Thạch Hãn qua đời. Ga đến ga đi vắng cố tri đón tiễn, Du Tử Lê cũng ít về Việt Nam hơn. Mỗi chuyến về về cũng ngắn ngủi và lặng lẽ hơn. Phần vì sức khỏe ông “đã thân ngựa hao gầy”, phần nữa, ông không nói nhưng tôi đoán được, là chút nỗi niềm “Biển sáp thù du thiểu nhất nhân” (buồn bẻ thù du thiếu một người).

Tôi không chắc họ có hẹn nhau không. Mà có khi, tri âm thì vẫn gặp không cần hẹn. Và bữa nay, tiết trùng cửu (9-9 Âm lịch), mùa bẻ thù dù vừa đi qua, tôi nghe tin ông tạ thế (hôm thứ 2, mùng 7-10)... Một đời tài hoa, đa tình giữa hồn nhiên đã khép.

Ông đi, nhưng nhiều người sẽ nhớ, như thơ ông từng viết:

Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn

nói gì kiếp khác với đời sau.

đôi khi nghe ấm trên da, thịt

như thể ai đi mới trở về.

Hai người bạn vong niên lớn tuổi của tôi, Du Tử Lê và Đoàn Thạch Hãn chắc giờ đã hội ngộ cùng nhau. Chắc ở nơi nào đó, ông Đoàn Thạch Hãn lại đang lơ đãng bắc ghế đẩu ngồi ngó ông Du Tử Lê tay cầm que kem đưa miệng mút, tay đỡ chiếc dĩa nhỏ sợ kem rơi trong buổi chiều nhiều gió.

Mai kia sống với vầng trăng ấy

người có còn thương một bóng cây

Góc phố còn treo đôi mắt bão

Ai nhớ ngàn năm một ngón tay ?

Tôi sẽ nhớ. Nhắc thơ ông, tôi muốn hình dung thêm ngàn năm bóng ngón tay cầm đỡ que kem thơ bé thôi mà.

Và tôi cũng đoán ra họ sẽ gặp nhau ở đâu. Chiều nay tôi sẽ ra ôm lan can cầu Sài Gòn ngó xuống Tân Cảng. Bóng thi sĩ và tri kỷ hẳn đang tan trong hoàng hôn chao trên mặt sóng...

9-10-2019.

(Bài và ảnh do tác giả gửi cho Văn chương TP. Hồ Chí Minh nhân 2 năm ngày mất của nhà thơ Du Tử Lê).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm
Pha Đin – Nơi đỉnh trời vương vấn – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Trên cửa ngõ của chiến trường Điện Biên, tôi nghĩ đèo Pha Đin quả là một huyền thoại. Huyền thoại không phải chỉ được hiểu theo nghĩa là một phương pháp sáng tác trong văn học dân gian nhằm giải thích, phân chia ranh giới của hai tỉnh Sơn La và Điện Biên như người Thái từng kể, mà là cách gọi một hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường như người ta nghĩ. Cái hiện thực vượt quá ngưỡng bình thường ấy không có gì khác ngoài sự khốc liệt của chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ đất nước diễn ra trên con đèo.
Xem thêm
Vận dụng nghệ thuật chỉ huy tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Kỷ niệm 115 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc công lao to lớn của vị Tổng Tư lệnh văn võ song toàn, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Xem thêm
Ngoại tôi – Tản văn Nguyễn Đức Hải
Nhớ hồi nhỏ, ngoại và tụi bạn cùng trang lứa trong ấp lội đồng bắt cá, chân lấm tay bùn vô tư lắm. Bắt được con cá lóc, cả đám gom rơm rạ khô trui ngay bên bờ cỏ, da cá cháy xém, mùi thơm phức lan tỏa trong gió chiều. Cá chín được xé ra nóng hổi, chấm muối ớt cay xé lưỡi, đứa nào cũng hít hà, miệng mồm đen nhẻm. Những ký ức thời tuổi thơ ấy đã làm nên một tuổi trẻ thấm đẫm hồn quê miền Tây, vừa hồn hậu, vừa nguyên sơ. Ngoại mỉm cười, ánh mắt đong đầy bao hoài niệm của một thời đã xa.
Xem thêm
Trái tim xanh của Bắc Kinh
Vào những ngày nóng nắng nhất đầu tháng 8, tôi cùng đoàn nhà văn TP.HCM hăm hở kéo va ly sang Bắc Kinh.
Xem thêm
Nhà văn Khuynh Diệp nằm hầm bí mật và tình yêu với TP Hồ Chí Minh
Cuộc thi “50 năm thành phố trong tôi” giúp nhà văn Khuynh Diệp lan tỏa ký ức, gửi gắm tình yêu dành cho TPHCM – nơi ông đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong nghề viết và gắn bó hơn nửa thế kỷ.
Xem thêm
Bát pin – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Có những kỷ niệm tưởng đã lùi rất xa vào dĩ vãng, vậy mà chỉ cần một âm thanh quen thuộc bất chợt vang lên là tất cả lại hiện về rõ ràng như mới hôm qua. Với tôi, đó là tiếng nói ấm áp phát ra từ chiếc đài bán dẫn cũ – thứ âm thanh từng thắp sáng những ngày tháng gian khó nơi miền quê chưa có điện. Và mỗi lần nhớ về chiếc đài ấy, tôi lại nhớ đến “bát pin” – một sáng kiến vụng về nhưng chứa đựng biết bao niềm hy vọng của một thời thiếu thốn mà đầy khát khao.
Xem thêm
Dòng suối mát trong rừng Mạn Ngược – Tùy bút Phương Uyên
Quê hương tôi có thể chưa nổi tiếng trên những bản đồ du lịch, nhưng với tôi, dòng suối giữa đại ngàn luôn là món quà đẹp nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị, thuần khiết và bền bỉ, như chính tâm hồn của những con người miền núi luôn chân thành, mộc mạc mà nghĩa tình.
Xem thêm
Mồ hôi và nước mắt tìm kiếm liệt sĩ
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ nửa thế kỷ, nhưng dư âm của những năm tháng máu trộn bùn non vẫn còn khắc sâu trên từng tấc đất quê hương, trong tâm trí của triệu triệu người con đất Việt. Những người lính Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, những chiến sĩ biệt động và dân quân du kích năm ấy, khi dấn thân ra trận, tuổi đời hãy còn rất trẻ; các anh, các chị mang theo những hoài bão thanh xuân mãnh liệt và cả những ước mơ còn dang dở. Rồi trong khói lửa đạn bom khắc nghiệt, các anh, các chị đã anh dũng ngã xuống, hóa thân thành hồn thiêng sông núi, trở thành một phần máu thịt của đất trời Tổ quốc. Hưởng ứng hành trình 500 ngày đêm tìm kiếm hài cốt và xác định danh tính liệt sĩ đang được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, hàng triệu trái tim lại thổn thức, cùng hướng về một cuộc hành trình lặng thầm nhưng vô cùng cao cả: tìm kiếm, đón các anh, các chị về với đất mẹ, về với vòng tay ôm ấp của gia đình, người thân và quê hương xứ sở.
Xem thêm
Sắc tím bàng vuông - Tản văn Nguyễn Thu Hà SG
Tháng sáu, hoa bàng vuông nhà mình năm nay nở đặc bông. Thứ hoa chẳng được bày trưng bao giờ, cứ bung rực ra sắc tím tươi như những lời hẹn ước. Đôi khi em bắt gặp con đứng cạnh lồng chim và đăm đăm ngắm chùm hoa đang rộ. Tiếng con nhồng kêu lanh lảnh “ Cha về! Cha về!” làm thằng bé chợt giật mình…
Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm