TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Đừng nhìn em như thế - Một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...

Đừng nhìn em như thế - Một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-09-19 07:45:51
mail facebook google pos stwis
1670 lượt xem

LÊ XUÂN LÂM

Sinh 1955 tại thôn Nhữ Xá, xã Hoằng Anh,  huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn, ngành Ngôn ngữ , Đại học Tổng hợp Hà Nội  1981, ( K22) , nguyên Phóng viên Thời  báo Ngân hàng.

Hiện hưu trí tại TP.HCM. 

 

Lời đầu thưa trước:

• Một lần vào trang “Văn chương thành phố Hồ Chí Minh”, tình cờ tôi thấy tin Lê Thị Kim được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải “Nhà văn ấn tượng nhất năm 2023” của thành phố mang tên Bác. Thực tình, tôi vốn không thích thứ bậc nhất nhì... cụ thể của các loại giải thưởng... nhưng lại rất thú vị với cái danh xưng “ấn tượng”... đầy khiêu khích trí tò mò kia. Nên lần hồi tìm kiếm, mới hay, Lê Thị Kim đích thực là Nhà thơ, Họa sỹ, lại còn là một Doanh nhân thành đạt nữa.

Phải mất mấy giờ lướt Web... tôi mới biết từ lâu Lê Thị Kim đã nổi tiếng trên “thương trường Thi – Họa”...  Tôi chăm chú đọc được khá nhiều lời giới thiệu, bài bình luận và cả ca khúc phổ nhạc bài thơ “Đừng nhìn em như thế”, (có đến bốn nhạc sỹ phổ nhạc bài thơ này). Rồi tôi biết, chẳng phải mới đây, mà thi phẩm “Đừng nhìn em như thế” đã có mặt trên thi đàn, từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng đến nay nó vẫn dành được mến mộ của công chúng yêu Thơ, yêu Nhạc. Thế thì phải vào Thi Việt đọc bài thơ thôi!...

1.  Và đây là bài thơ có trên Thi Việt:
 

Đừng nhìn em như thế


Đừng nhìn em như thế

Cháy lòng em còn gì

Sự nồng nàn của bể

Cuốn mất hồn em đi

 

Đừng nhìn em như thế

Khắc giờ thành thiên thu

Mắc nợ đời dâu bể

Mắc nợ đời thơ si

 

Em đành làm chim nhỏ

Đứng hót chơi trong chiều

Thả đôi lời hoa cỏ

Cho đời bớt tịch liêu

 

Bởi tình yêu có thật

Vĩnh cửu trong cuộc đời

Bởi ghen tuông có thật

Xuống mồ biết có thôi

 

Đừng nhìn em như thế

Sự dịu dàng nhường kia

Sẽ làm em chết ngạt

Hết một đời thơ si.

 

2.  Tôi đã đọc “Đừng nhìn em như thế” trong xúc cảm ngập tràn... Và,... Rồi tôi bỗng thấy những gì đã được bình phẩm về bài thơ, mà tôi đã đọc được trên Web, khác hẳn với cảm thức của mình. Dưới đây, tôi muốn góp thêm cái thức cảm khác ấy, về bài thơ của “Nhà văn ấn tượng nhất...” Lê Thị Kim dưới tiêu đề: “Đừng nhìn em như thế - Một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...”

2.1. Nhưng Trì biệt  là gì?

Trước tiên, ở đây tôi muốn bạn hãy đem từ khóa kia hỏi Google, sẽ biết khái niệm Trì biệt, do Jacques Derrida đề xuất, được hình thành từ sự kết hợp giữa từ difference (nghĩa là sự khác) và deferral (nghĩa là sự trì hoãn) [chữ tiếng Pháp]. Đó là một trong những khái niệm cốt lõi thuộc hệ thống triết học nổi tiếng thế giới hiện đại của triết gia Jacques Derrida ...

2.2.  Và, theo GS.TS Lê Huy Bắc thì, xin trích:

“Trì biệt “nghĩa” trong “chữ” của Derrida đến từ cấu trúc nội tại của nó trong mối tương tác từ vựng của chữ viết trước và sau nó, của những cấu trúc diễn ngôn lộ rõ hay ngầm ẩn, mà nó được đặt vào. Ngoài ra, trì biệt còn là sản phẩm của những tương tác văn hoá. Vấn đề này khá phức tạp, bởi chí ít là có ba lớp văn hoá (hay mã) được lưu giữ trong chữ: ấy là văn hoá của chính chữ đó, văn hoá của người sáng tạo và văn hoá của người tiếp nhận. Vậy nên, chữ là nơi giao nhau của nhiều lớp văn hoá để định hình nghĩa. Trong nhiều trường hợp, chữ được khai sinh cũng nhờ sự trì biệt này”.

(Nguồn: https://daihoctantrao.edu.vn/khoa-hoc-cong-nghe/jacques-derrida-va-tri-biet-ngon-tu-966.html).

3.  Vâng, với tôi, “Đừng nhìn em như thế” là “một bức tranh “Trì biệt” duyên tình muôn thuở...” mà nhà thơ Lê Thị Kim đã khắc họa bằng ngôn ngữ Thơ. Bức tranh ngôn ngữ Thơ ấy đã được tôi cảm nhận với những sắc màu... là như thế này đây:

3.1. Thoạt đầu, “Đừng nhìn em như thế” hiện ra trước mắt tôi là hình ảnh một người con gái đang độ xuân thì. Em ngồi đó, một mình, trong tâm trạng còn chưa hết bàng hoàng... khi vừa bỗng tiếp nhận được cái ánh nhìn “sét đánh” của chàng trai đang yêu... trong cái khoảng khắc gặp gỡ duyên tình “đường xa nghĩ nỗi sau này...” biết có còn gặp lại, như cái nhìn như thế... nữa không? Bởi người thì đã đi... nhưng ánh nhìn kia thì vẫn ghi tạc trong tâm thức em, thiêu đốt lòng em, khiến em miên man, em hoang mang, em tự bủa lưới vây mình trong muôn vàn câu hỏi... không lời đáp...

3.2.  Tôi thấy, “Đừng nhìn em như thế”, đúng là tâm thức của em ở chính cái khoảnh khắc tiếp nhận ánh nhìn kia rồi; nhưng chưa phải đã là lời em thốt ra, mà chỉ là tiếng lòng em vẫn còn giấu kín. “Đừng nhìn em như thế” không phải là lời trách cứ, van xin, mà chỉ là trạng huống hoảng hốt của em trước một điều đang đợi chờ chẳng ngờ đã đến. Để rồi “Đừng nhìn em như thế” trổi dậy biết bao hy vọng, nhập nhòa ánh lửa tình ước nguyện chung đôi. Và, chen lẫn nỗi niềm duyên lành đang đến, là cả dự cảm niềm yêu có phải sự tình biết đâu rồi có thể sẽ chia xa?...

3.3.  Bạn thấy sao? Có phải thế không ư ?

Phải đấy! Bạn hãy đọc “Đừng nhìn em như thế” với tư cách là một câu trong ngữ cảnh của cả văn bản bài Thơ. Cũng chớ cảm nhận “Đừng nhìn em như thế” như một lời nói –  kể cả khi nó là những tiếng câm –  đứng ngoài văn bản. Bạn hãy nhìn để thấy đó là những chữ viết ra để định hình một kết cấu ngôn từ. Chỉ khi đọc với một cảm quan như thế, bạn sẽ thấy sức trì biệt vô tận ngữ nghĩa của cái ánh nhìn yêu đương, như một phúc hạnh tạo hóa đã ban tặng cho con người; sẽ thấy trong chữ có lời, mà không phải chữ chỉ là ký tự của lời như xưa nay người ta vẫn tưởng thế!

3.3.1. Tôi bắt đầu từ chữ “thế” ở cuối câu cảm thán, trong kết cấu nơi đầu đề bài thơ, mà trên kia tôi nhận thấy đó như là tông màu chủ, tạo ra bức tranh với sức trì biệt ngữ nghĩa diệu kỳ của thi phẩm này... Mách bạn ngay, là hãy tìm xem: Từ điển Tiếng Việt 1998, trang 901, mục từ {THẾ}, để xem, khi được dùng ở cuối câu, chữ “thế”  “trợ từ” đã “biểu thị ý ngạc nhiên khi nhận thức ra mức độ cao của một (...) tác động trực tiếp đến mình, hoặc của một trạng thái tình cảm của (chính) bản thân mình”.

3.3.2. Bởi thế, ngay từ đầu, tôi đã nói, “Đừng nhìn em như thế” là cái nhìn “sét đánh” từ phía đối tác, bỗng ánh lên trong chỉ một khoảnh khắc; nhưng thực thì ngọn lửa chung tình kia đã âm ỉ từ lâu, để giờ mới đến, như một định mệnh, của phút cơ duyên định quyết này. Chưa hết, chữ “thế”  “trợ từ” đứng cuối câu cảm thán, kết hợp với “như”, một “kết từ”, đã chỉ ra mức độ rất cao của quan hệ tương đồng. Và, khi cùng nhau tạo nên kết cấu “như thế”, nó cho ta thức nhận rằng, ánh nhìn với cường lực “tia chớp” ấy, quyết không thể là một ngẫu hứng, hay vô duyên bất chợt.

3.3.3.  Hai chữ “như thế” , đến lượt nó lại tạo thêm sức trì biệt ánh nhìn, để nói với ta rằng ngọn lửa tình anh –  em đã nhóm từ lâu. Ánh nhìn “như thế”, sở dĩ xuất hiện, chính bởi nó vừa bị một tác nhân nào đó kích hoạt, nhưng ánh nhìn rõ ràng là một nhân tố được sinh ra từ độ chín của cả một quá trình. “Như thế”..., vậy là đã thông điệp sức mong đợi đã đến từ mong đợi; là ánh nhìn phát ra từ chờ đợi, đã được tiếp nhận bằng tất cả đợi chờ. Cái nhìn, với ánh nhìn “tia chớp” đã “kích hoạt” miền ý thức yêu đương, như mây đã tích tụ, như sấm chớp sẽ nổ ra, như là... một tất nhiên phải đến!...

3.3.4.  Giờ đến “nhìn” – “động từ” chính của câu thơ đầu đề, được buộc phải đứng sau “phụ từ” “đừng” làm nên kết cấu “đừng nhìn”, khiến ánh lửa tình trì biệt cháy suốt thi phẩm. Bởi “đừng nhìn” nổi lên đối tượng là “em”, nhưng cái đích của sự nhìn, chìm dưới ánh nhìn, lại là “như thế”, mà không phải là “em”. “Như thế” trong kết cấu câu thơ bỗng tạo sinh nghĩa mới, là ý niệm mà không phải là khái niệm, như một kết quả về đối tượng. Ý niệm đó là một cái vô cùng, tùy vào tâm trạng, hoặc tùy vào linh cảm mách bảo, mà thả sức định biệt, thế thôi. “Nhìn” mà, nhất lại là ánh nhìn chói sáng ngọn lửa tình, chứ không phải là cái nhìn của một sự quan sát thị giác để nhận biết đối tượng... là như thế đấy!...  

4.  Và bạn thấy đấy, ánh nhìn cứ thế rực lên sức sáng lớp lớp xung động sóng trào!

4.1.  Lớp sóng xung động “Như thế” đầu tiên là sức cháy có thể thiêu đốt “lòng em”, đẩy đến bước sóng tiếp theo là “Sự nồng nàn...”, nhưng là “nồng nàn của bể” lớn, trì biệt nhịp điệu và cường độ, trào lên rồi dội xuống... tưởng có thể “Cuốn mất hồn em”. 

4.2.  Ánh nhìn tạo lớp sóng sáng “như thế” thứ hai, tưởng chỉ “khắc giờ”, nhưng là “thiên thu”, nhưng là “dâu bể”, “thơ si” thiên di muôn mãi một tình yêu, như “nợ đời” nhận – chia của kiếp sống con người, trong tình yêu thương bất diệt...

4.3.  Rồi vô thường trở lại, con “chim nhỏ” lơ đãng “hót chơi”, buông vào chiều những lời “hoa cỏ”. Bởi có thật, là tình yêu vẫn “như thế”  tồn sinh, ngọt bùi, cay đắng, trách cứ, hờn ghen... Tình ta đó anh, sẽ trải hết, thấu hết, biết hết...

4.4.  “Bởi tình yêu có thật/ Vĩnh cửu trong cuộc đời/ Bởi ghen tuông có thật/ xuống mồ biết có thôi”. Là không thôi được đâu anh! Bởi tình yêu là trải nghiệm những cung bậc xuân thì, khởi thủy – chung cuộc... hạnh phúc nào ai biết trước...

4.5.  “Đừng nhìn em như thế” rốt rồi cũng đã trở lại – một trì biệt ngữ nghĩa sau cuối:

“Đừng nhìn em như thế

Sự dịu dàng nhường kia

Sẽ làm em chết ngạt

Hết một đời thơ si.”  

Và tôi biết, tôi tin “Sự dịu dàng nhường kia”, sẽ đưa cuộc tình “tia chớp” đi “Hết một đời thơ si” ...

5. tóm lại: “Đừng nhìn em như thế” là câu chuyện về cái khoảnh khắc ánh nhìn bừng sáng một tình yêu đẹp! Nhịp điệu đồng dao xưa thật đắc dụng dưới bàn tay khắc họa tài hoa của thi sỹ – họa sỹ Lê Thị Kim. Tôi không ngạc nhiên khi đã có đến bốn nhạc sỹ lấy bài thơ của bà làm lời cho nhạc khúc tình ca của mình. Để gần nửa thế kỷ qua, cả thơ và nhạc vẫn giữ được tình yêu của công chúng. Lê Thị Kim thật xứng danh nữ  “Nhà văn ấn tượng” của Thành phố Hồ Chí Minh, vừa được Hội Nhà văn Việt Nam vinh danh...


Bài rút từ tập "Thơ như tôi hiểu...", sắp xuất bản:


Bìa: Nguyễn Bấc

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm