TIN TỨC

Được trở về với mẹ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-03 14:59:41
mail facebook google pos stwis
1578 lượt xem

BÀI HƯỞNG ỨNG CUỘC THI CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

TRẦM HƯƠNG

Tôi nhớ như in lời con nói trước lúc ra đi: “Mẹ yên tâm, tuy con còn nhỏ tuổi nhưng con không xốc nổi. Đã đi theo cách mạng thì không bao giờ quay gót, phản bội”.


Bà mẹ VNAH bên di ảnh liệt sĩ Đặng Văn Rêu.

Mẹ Huỳnh Thị Xem, ở xóm chùa, xã An Phú, huyện Củ Chi là nhân chứng của một thời phụ nữ sống trong tăm tối, tủi nhục dưới chế độ thực dân phong kiến. Sinh ra trong một gia đình nghèo, đông con, cô gái tên Xem sớm tháo vát, trở thành trụ cột chính, đỡ đần cho cha mẹ nuôi đàn em. Ở tuổi 84, ký ức thời thiếu nữ làm công nhân cạo mủ cao su vẫn nguyên vẹn trong lòng mẹ. Đời công nhân cạo mủ rất cơ cực. Thức dậy vào lúc 3 giờ sáng, cô gái đang tuổi ăn tuổi ngủ quàng vội chiếc khăn lên đầu, cầm lấy dao và thùng ra khỏi nhà. Sương khuya ướt lạnh, muỗi dày đặc, cô gái lầm lũi cạo mủ, cho đến trưa mới trở về nhà. Dòng nhựa trắng đổ vào sự phồn vinh của những chủ đồn điền, những ông chủ Tây. Đời công nhân cứ thế trôi đi trong đói nghèo, lặng lẽ giữa cánh rừng cao su…

Nhật đảo chánh Pháp. Rồi Cách mạng tháng Tám. Cô gái mới 17 tuổi năm ấy bắt đầu hiểu ra những điều từ lâu bị che phủ bởi rừng cao su dày bịt. Đó là sức trỗi dậy của một dân tộc đòi độc lập tự do. Làng xóm quê hương cô dường như được thổi vào luồng sinh khí mới. Ở An Phú và các xã lân cận, bà con kéo nhau về Sài Gòn, dự mít-tinh mừng độc lập. Những ngày ấy, ở làng bên có anh thanh niên tên Đặng Văn Bèo cậy mai mối cưới cô về làm vợ. Lúc đầu, cô không chịu lấy chồng vì không biết, không quen. Nhưng gia đình đã nhận trầu cau, với quan niệm “Áo mặc sao qua khỏi đầu”, “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, cô đành phải chấp nhận cuộc hôn nhân với anh Bèo. Sau thời gian sống chung, tình cảm dần nảy nở. Lần lượt, 8 đứa con ra đời…

Làn gió Cách mạng tháng Tám thổi bùng lên lòng yêu nước tiềm ẩn trong mỗi con người. Pháp quay trở lại, tái chiếm Nam kỳ. Đôi vợ chồng trẻ cùng tham gia kháng chiến. Chồng mẹ gia nhập lực lượng dân quân. Mẹ cùng bà con Củ Chi đốn tre rào xã chiến đấu. Nhắc đến những năm tháng chống Pháp hào hùng, mẹ sôi nổi hẳn lên. Mẹ kể mạch lạc về các phong trào của Phụ nữ Cứu Quốc mà mẹ đã tham gia, nào “Hũ gạo nuôi quân”, canh gác báo cáo tình hình địch, phong trào đời sống mới, sản xuất, đóng góp lương thực nuôi quân… Mẹ sôi nổi kể về phong trào bình dân học vụ. Mẹ chưa từng biết chữ. Nhờ mấy lớp học “bình dân” mà mẹ biết đọc, biết viết. Để minh chứng cho những lời mình nói, mẹ lấy bút, ghi nắn nói vào quyển sổ tay ghi chép của tôi chữ “Xem”. Mẹ nói: “Cũng là chữ ký của tôi đó!”. Bà mẹ trước mặt tôi, với vẻ mặt phúc hậu, tuổi cao, sức yếu nhưng quý báu biết bao, khi chính bản thân mẹ là nhân chứng sống động, vừa là người góp phần vào của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Mẹ nhớ tên từng đứa con, với từng kỷ niệm yêu thương.

Mẹ kể: “Ở quê, đặt tên con mộc mạc lắm. Chồng tôi họ Đặng… Vậy là tôi đặt tên các con: Đặng Văn Rong, Đặng văn Rêu, Phạm Văn Ba, Đặng Thị Thơ, Đặng Văn Lơ, Đặng Văn Nhanh, Đặng Văn Mơ, Đặng Văn Đắc, Đặng Thị Mộng”. Tôi thắc mắc hỏi mẹ: “Các con mẹ đều mang họ Đặng, sao một anh lại có tên “Phạm Văn Ba?”. Mẹ cười hồn hậu nói: “Đó là đứa cháu. Cha nó chết, lúc nó còn trong bụng mẹ. Sanh ra nó mới mấy tháng, mẹ nó lấy chồng khác. Tôi nuôi thằng Ba từ nhỏ. Không phải là con ruột nhưng nó thương tôi lắm!”. Ở Củ Chi, có rất nhiều những bà mẹ nghèo như mẹ Huỳnh Thị Xem nhưng tấm lòng rộng mở. Trong đói nghèo, cuộc sống gian khổ, khó khăn, mẹ vẫn sẵn lòng cưu mang, đùm bọc đứa trẻ mồ côi cha lẫn mẹ. Và mẹ đã được đền đáp bằng yêu thương…

Hai người con của mẹ lên đường đi chiến đấu cùng một lượt. Đó là anh Đặng Văn Rong và anh Phạm Văn Ba. Dẫu nhiệt tình, ủng hộ các con thoát ly gia đình đi đánh Mỹ nhưng mẹ không tránh được sự trống vắng, hẫng hụt. Chấp nhận cho những đứa con trai đang tuổi lớn, là nguồn lao động chính của gia đình tham gia quân giải phóng cũng là một đóng góp to lớn cho cách mạng. Nhìn những đứa con trai cao lớn, khỏe đẹp, mẹ không khỏi chạnh lòng, nhớ những ngày gian khổ nuôi con. Mẹ chắt ra những giọt sữa nuôi con từ những con cá, cọng rau quê nghèo. Khi con ốm đau, mẹ là người thức suốt đêm canh con ngủ.

Mắt mẹ rơm rớm khi nhìn anh Phạm Văn Ba - đứa con nuôi mẹ cưu mang khi mới biết đi lẩm chẩm. Dầu không sinh ra anh nhưng tình mẫu tử tràn ngập, chan chứa yêu thương. Mẹ thương anh Ba, bênh vực đứa trẻ mồ côi, dành cho anh chiếc áo đẹp hơn, chén cơm đầy hơn cả những đứa con ruột thịt, với ý nghĩ giản dị của một bà mẹ Nam bộ: “Bù đắp cho anh đứa nhỏ những thiệt thòi khi không có cha lẫn mẹ từ tấm bé”.

Như những bà mẹ Củ Chi đất thép thành đồng, mẹ Huỳnh Thị Xem không hề ngăn những đứa con, khi các anh bày tỏ ước nguyện đi chiến đấu. Tôi hỏi mẹ: “Phút chia tay, mẹ nói với các anh điều gì?!”. Mẹ trả lời: “Tôi nói, con ơi, làm cách mạng không dễ. Nếu con quyết chí ra đi, giải phóng hãy về. Đừng thấy người ta đi, xốc nổi đi theo, giữa chừng cực khổ, hiểm nguy không kham nổi, đào ngũ trở về là không được đâu?!”. Thằng Rong nói lời gan ruột: “Con ở lại, “Quốc gia” cũng bắt con đi quân dịch. Con đi theo Cách mạng, giữ nước giữ làng. Sống thì được trở về với mẹ, chết thì được chết vì nước!”. Nghe con nói vậy, tôi biết nói gì thêm, nuốt lại nước mắt, xếp quần áo, võng, tấm ni lông vào chiếc bòng cho nó, rồi móc túi, lấy hết tiền, chia đôi cho thằng Rong với thằng Ba, mỗi đứa một nửa!”.

Con đi, mẹ luôn dõi theo con. Lần ra đường dây giao liên, mẹ biết tin anh Rong được đưa vào đơn vị pháo binh. Mẹ vui trong lòng khi nghe đồng đội khen anh Rong bắn pháo giỏi. “Tôi không lạ chuyện đó, vì thằng Rong trước khi đi bộ đội học toán rất giỏi. Mà không vui sao được, khi một lần tìm lên đơn vị thăm nó, cậu bộ đội không biết tôi là mẹ thằng Rong, nghe pháo bắn xuýt xoa: “Đơn vị mình có thằng Rong gan lắm, bắn pháo tài lắm, giặc chạy có cờ”.

Chiến tranh ngày càng ác liệt. Sau Mậu Thân, địch huy động mọi sức mạnh chiến tranh, nhằm đẩy lùi vùng bàn đạp quân giải phóng ra xa nội đô Sài Gòn. Vùng căn cứ Củ Chi bị đánh phá nặng nề. Anh Phạm Văn Ba công tác trong một công xưởng bị bom xăng Mỹ đốt cháy. Hay tin dữ, mẹ lặn lội vào chiến khu Xa Nhỏ, Trung Hòa thăm con. Mẹ lặng người nhìn thân thể anh Ba bị biến dạng, nghe đau rát khắp cơ thể như chính mình bị đốt cháy. Mẹ khóc, xin đơn vị đưa anh Ba về chăm sóc. Anh Ba nói: “Con được cách mạng đưa đi an dưỡng, mẹ đừng lo. Lành vết thương, con sẽ tiếp tục đánh giặc”. Không phải là đứa con mẹ đứt ruột sinh ra nhưng anh Ba dành trọn tình yêu thương dành cho mẹ. Mẹ xót xa nhìn đứa con khỏe đẹp, lành lặn trước lúc lên đường đi chiến đấu giờ không còn hình hài nguyên vẹn. Anh cười tươi cho mẹ yên tâm. Thương con, mẹ không cười được, nước mắt cứ tuôn rơi…

Mẹ Huỳnh Thị Xem lau nước mắt: “Tôi đâu biết đó cũng là lần cuối cùng gặp thằng Ba. Trên đường đi an dưỡng về, thằng Ba hy sinh. Tôi không muốn tin là nó đã chết. Nhưng nó chết thiệt, chết mà không tìm được xác!”. Tiếp nối hai anh, Đặng Văn Rêu bày tỏ với mẹ nguyện vọng thoát ly vào căn cứ. Mẹ lặng đi. Nhưng rồi mẹ không thể ngăn ý chí con, dù biết rằng anh Rêu ra đi, mẹ sẽ rất khổ, rất cực. Từ ngày hai con lớn đi bộ đội, anh Rêu là trụ cột lao động chính cho gia đình, đỡ đần mẹ những chuyện nặng nhọc, phụ nuôi đàn em 6 đứa còn nhỏ dại. Nhưng quê hương bị bom đạn Mỹ cày nát, lớp lớp thanh niên tòng quân, nhập ngũ, mẹ biết mình không thể ngăn bước chân con. “Thì cũng giống như lúc thằng Rong, thằng Ba đòi đi theo cách mạng, tôi lẳng lặng sắm quần áo, võng, mua cho nó chiếc đồng hồ để khi đi đường, nó còn biết giờ, biết mẹ ở quê nhà, mong từng giờ từng khắc được gặp lại con!”.

Trong đàn con, anh Đặng Văn Rêu là đứa con trai có nhiều kỷ niệm gắn bó với mẹ. Mẹ nhớ: “Thằng Rêu sinh năm 1950, đẹp trai, tính tình gan lì, ít nói nhưng nó giàu tình cảm. Tôi rất hiểu bụng nó!”. Vì lẽ đó, năm 1967, khi nghe tin anh Rêu chiến đấu, sa vào tay giặc, bị đưa vào bót Trâm Vàng chiêu hàng, anh đã thể hiện khí phách người chiến sĩ đến hơi thở, giọt máu cuối cùng, thà chết, cương quyết không đầu hàng giặc, thì mẹ hiểu đó là lựa chọn của con. Anh Đặng Văn Rêu đã giữ đúng lời hứa với mẹ trước lúc ra đi: “Mẹ yên tâm, tuy con còn nhỏ tuổi nhưng con không xốc nổi. Đã đi theo cách mạng thì không bao giờ quay gót, phản bội”.

Anh Đặng Văn Rêu bị địch giết ở bót Trâm Vàng, khi mới 17 tuổi. Kẻ thù vùi xác anh ở một nơi nào, cho đến giờ mẹ vẫn chưa tìm được hài cốt. Nhiều năm qua, lòng mẹ vẫn đau đáu niềm mong ước đưa hài cốt đứa con trai về nghĩa trang liệt sĩ quê nhà. Nhưng mơ ước ấy, cho đến giờ, đối với mẹ đã trở nên rất xa xôi. Không tìm được hài cốt con, mẹ có niềm an ủi: “Thằng Rêu là đứa con duy nhất, khi hy sinh còn để lại cho tôi bức ảnh!”. Như nhiều bà mẹ ở Củ Chi lúc ấy, mẹ phải đối mặt với sống chết, đói nghèo; không kịp nghĩ đến chuyện chụp hình xa xỉ.

Anh Rong không hề hay mẹ luôn dõi theo bước chân anh. Đêm đêm, nằm nghe tiếng pháo, mẹ giật mình tỉnh giấc. Mẹ đốt lên ngọn đèn, ngồi thao thức, bồn chồn, lo lắng, không biết đơn vị pháo của con giờ đặt ở nơi đâu?! Mẹ xòe bàn tay nhẩm tính: “Thằng Rong đi đã được 3 năm rồi. Vậy mà chưa lần nào nó về thăm mẹ. Không biết vào pháo binh, nó lớn thêm không? Nó có gặp cô gái nào không?”. Mẹ mong mau hòa bình, thống nhất để anh con về quê cưới vợ, để mẹ có cháu ẵm bồng”. Đáp lời mẹ là tiếng bom đạn gầm rú, tiếng đại bác làm rung chuyển mặt đất. Con bận công tác, không về thăm mẹ được, thì mẹ lọ mọ, móc giao liên đi thăm con. Mẹ chắt chiu từng ngọn rau, con cá, con tôm. Có được ít đồng, mẹ dành dụm mua cho các con khi là bộ quần áo, chiếc đồng hồ, chiếc radio tặng cho con. Anh Rong cảm động nhận chiếc radio mới tinh của mẹ, vặn nghe tin tức, gương mặt sáng bừng vì mừng vui và cảm động. Anh nói với mẹ: “Mẹ đừng lo gì cho con. Khi nào thống nhất nước nhà, con sẽ về!”.

 Ngày thống nhất đất nước, mẹ lặng buồn, vì cả ba con trai mẹ không trở về. Ba năm sau ngày anh Rong ra đi, năm 1969, mẹ hay tin anh hy sinh. Lặng đi một lúc, mẹ lau nước mắt, nghẹn ngào: “Thằng Rong hy sinh ở Phú Mỹ Hưng. Mãi đến ngày hòa bình, tôi mới đưa được hài cốt con về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Củ Chi. Hài cốt hai đứa kia thất lạc cho đến nay”. Tôi hỏi mẹ: “Các anh là trụ cột đi bộ đội hết rồi, mẹ làm gì để nuôi đàn con?”. Mẹ không trả lời ngay câu hỏi, mà kể về những ngày cùng chồng, dắt đàn con nhỏ trên chiếc xuồng mong manh, tản cư qua An Phú Đông, rồi qua Bình Phước. Vật lộn với sóng to gió lớn, sự sống gia đình mẹ sống tựa trên chiếc xuồng mong manh. Mẹ có nghề đóng đáy, lưới bắt cá kiếm sống. Vậy mà Mậu Thân năm 1968, mẹ sẵn sàng cho cách mạng mượn xuồng chở quân.

Người mẹ Củ Chi năm ấy không chỉ dâng hiến cho Tổ quốc 3 người con trai khỏe đẹp, chống chọi với bom đạn, tần tảo nuôi đàn con, mà còn dấn thân vào các cuộc đấu tranh. Ký ức những cuộc đấu tranh chính trị vẫn tươi nguyên trong lòng mẹ: “Khi đi đấu tranh, chị em cầm giỏ bàng, mía, nước dừa, chai xá xị như đi chợ. Lúc khát, tụi tôi lấy mía ăn, lấy xá xị uống. Lúc bị địch phát hiện, đàn áp; đội quân tóc dài lấy mía, chai xá xị chống lại. Chị em còn hát những bài hát đấu tranh!”.

Bà mẹ ở tuổi 84 cất giọng lanh lảnh, hát những bài ca tranh đấu năm xưa: “Dân quân miền Nam mau bồng súng ra sa trường…”. Hiển hiện trước mặt tôi là bà mẹ Củ Chi đất thép thành đồng, với cách kể chuyện dung dị, với nỗi đau khi nghe con hy sinh nuốt nước mắt vào trong…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm