TIN TỨC

Nhà thơ Thanh Hoàng lặng lẽ chiết gieo thơ vào đất mẹ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-07 08:35:46
mail facebook google pos stwis
1787 lượt xem

KAO SƠN

Với nhiều nhà thơ, cái gốc rễ cùng mảnh đất chôn rau cắt rốn luôn là một điều hết sức thiêng liêng. Nhiều người lấy đấy làm nguồn cảm hứng cho mình khi sáng tác. Thanh Hoàng cũng thế. Mồ côi cha mẹ từ rất sớm và rồi từ rất sớm đã phải xa quê. Chính điều đó đã làm cho Thơ Thanh Hoàng luôn tồn tại một khoảng trống đến mênh mông, đến choáng ngợp và luôn có khát khao được bù đắp, được vun đầy.


Nhà thơ Thanh Hoàng và bìa tập thơ mới.

Trong tập thơ “Vẽ nhớ” (Nhà xuất bản HNV, năm 2024) của anh, ngay bài đầu tiên Thanh Hoàng đã dành những yêu thương, kính trọng nhất để nói về mẹ. Tóc tai mắt mũi miệng... này/ Mẹ cầm đời mẹ để vay đất trời... Ta nhớ đã nằm lì trong lòng mẹ ấm/ đổ thừa trâu/ quất đuôi vào bụng mẹ lúc mẹ mang bầu. Ta đón ngày bằng đôi mắt dụi cay/ theo từng luống cày úp vùi gốc rạ/ nhìn đám bù mắt bay/ đuôi trâu đánh chéo mặt đời... Anh nói về mình như vậy. Vồng khoai xưa dáng mẹ mang bầu. - Dây khoai như dây rốn... Nhau con chôn ở đầu truông nảy chồi... Anh nói về mẹ như vậy. Ngay cả khi nói về kỉ niệm của những ngày đầu non dại thì bóng dáng của đứa trẻ quê cùng người mẹ quê cũng gợi một đụng chạm làm cho câu thơ biến thành kỉ niệm không của riêng ai: Mẹ bôi mật đắng vào núm vú mình/ dấu răng con dần lặn/ miếng cơm mẹ nhai thêm nhiều phần nước mắt/ con no miệng cười... Thật khó có thể tìm thấy ở đâu những liên tưởng gần gụi nhưng lại chính xác đến thế.

Nó hợp lí trong cách nhìn, gần gũi với cảm nhận của của đứa trẻ về mẹ. Và càng khôn lớn thêm, hình ảnh về mẹ càng đậm lại: Tảo tần xuôi ngược que nan/ Mẹ gom cơ cực ngồi đan tổ mềm. Không chỉ có thế. Thời gian mẹ mòn nhanh như lưỡi cuốc/ Mẹ soi vào vết chai sần trên tay, nhổ tuổi dư trắng xóa phận mình. Con nhận ra tiếng thời gian trôi qua đời mẹ trên từng sợi tóc trắng nhọc nhằn. Con nhận ra còn những hy sinh lớn lao khác ẩn sâu. Mẹ nợ đêm, những mùa trăng mẹ buồn là một nhận biết khác về mẹ. “Tiếng gàu khua giếng khuya cạn nước”. Tiếng thở dài ướt manh chiếu mục. Đó là hình ảnh mẹ trong những đêm cô lạnh vì góa bụa. Không cần nói rõ. Chỉ hình tượng trăng và tiếng gàu khua chạm đáy giếng cạn cùng những mùa trôi mà tạo được những “thanh âm không tiếng vọng”. Câm nín, hoàn toàn giản dị, không mĩ từ nhưng lại nói được rất nhiều.

Có thể nói thơ Thanh Hoàng có những câu hay nhất đều là thơ nói về Mẹ. Một tay mẹ níu núi rừng/ Chắn ngang gió bão để đừng lạnh con/ Một tay mẹ chẻ suối sông/ Dẫn đường tôm tép vào dòng sữa thơm. Hình ảnh người mẹ hiện lên như bà Đùng, như Nữ Oa trong cổ tích, nhưng không hề là một khoa trương. Mẹ chỉ bình dị như một cây lớn, sẵn sàng chịu mọi bão giông, che chắn và đổ bóng lên đời con dành cho con sự mát mẻ và an toàn. Và rồi Đến lúc chết cũng lén con mà chết/ Mẹ làm như con tránh được đau lòng.

Giận mẹ - bài thơ độc đáo ngay ở cách dùng cả câu chữ và hình tượng. Ngay từ Giận trong tiêu đề bài thơ đã khác biệt. Có ai trưng sự giận, nhất là Giận mẹ mình ra? Sự tò mò được giải đáp ngay sau đó. Từ “Lén” rất giỏi. Một từ ấy thôi cũng đủ hình dung ra tất cả một đời người, một hành trình sống, một hoàn cảnh và hơn hết nó nói lên được một bao trùm phủ dầy của tình cảm người mẹ dành cho con. Nó trái với thông lệ, người đời thường trước lúc chia xa luôn mong muốn có được đủ đầy con cháu vây quanh. Có người mẹ vì hoàn cảnh buộc phải giấu con để đi lấy chồng (Không mưa cũng thể phập phồng/ Lừa tôi ngõ trước, mẹ vòng lối sau - Mưa - Nguyễn ngọc Ly). Có thể hiểu được. thông cảm được. Nhưng trốn con đi chết thì quá đau. Cái lí do đưa ra càng nói lên tấm lòng mẹ vì con. Mẹ muốn con tránh được nỗi đau. Là mẹ hy vọng vậy thôi. Con làm sao tránh đau cho được. Thân xác con có được chính nhờ mẹ. Mẹ đã cầm cố cả đời mẹ vay đất trời để tạo ra con. Và món nợ đó cho đến ngày mẹ về với mây trắng con vẫn không giúp mẹ trả được.

Cha mẹ quên con, lần lượt về trời/ chiếc thuyền giấy rã dần trong mưa gió. Chiếc thuyền giấy chở tuổi thơ đắm chìm luôn khi không còn cha mẹ khiến tất cả những “phải chi - giá mà - nếu được...” bỗng không còn là ước ao nữa mà biến thành một nỗi tuyệt vọng. Những câu thơ như những nhát vồ nện vào đất cằn, như dằm cứa vào tim ta vệt nắng chiều như vết roi quất vào nỗi nhớ. “Mẹ quăng con lại dọc đường/ Rồi theo chiêng trống, khói hương lên đồi/ Mẹ chơi rứa/ Ai thèm chơi? Mẹ sống cực vậy mà khi về trời chỉ nhẹ nhàng như một đùa nghịch rong chơi, như một thoảng bay của chiếc lá vàng trong chiều gió lào thổi thốc. Mấy câu thơ cuối như một ẩn ức kiểu con trẻ làm dậy lên những rưng rưng.

Gió thốc, ngày trôi... và con vẫn loay hoay không thoát ra được cái vòng lẩn quẩn của những được thua, vay trả. Con nhổ vội phận mình giâm xứ khác/ Nhánh bụi đời chen cỏ mọc từng nơi. Một cố gắng nhằm đổi thay số phận Nhưng có vẻ như cuộc “cách mạng số phận” ấy đã không thành công: Con cầm khốn khó lang thang/ Vay thương trả nhớ trăm - ngàn - được – thua/ Tiêu dần cạn hết vốn xưa/ Bao lần đáo hạn con chưa nên người. Một cái nhìn chua chát về mình trong ngáy sinh nhật. Thất bại đến như một tất yếu. như một bắt buộc của số phận. Thanh Hoàng nhận ra việc xa quê của mình như một cây non bị bứng khỏi mảnh đất quen thuộc để chen chân tìm một chỗ đứng nơi cỏ dại quê người. Câu kết Con đã gọt sượng sùng nơi góc phố/ Sao mãi còn thương cuống rốn mình đau... đã nói lên tất cả. Hầu như những gian khó nhọc nhằn của phận người, của cả một vùng đất được khắc họa chỉ bằng mấy câu thơ như vậy. Bữa chiều nhà bên thơm khói bếp/ Đêm con mơ mút lợt ngón tay mình... Thật ấn tượng. Cái hay của thơ Thanh Hoàng nằm ở đây. Cách chọn hình tượng độc đáo và khác lạ. Cái độc, lạ được tạo nên bằng những hình tượng rất đỗi giản dị, nhặt từ cuộc sống thực, ai cũng đã chứng kiến, ai cũng từng bắt gặp. Đêm con mơ mút lợt ngón tay mình... Người đọc nhìn ra cả một tuổi thơ nghèo và nhận thấy từ những hình tượng giản dị ấy những chứa đựng ẩn sâu...

con rón rén rời làng trăng xuyên vách nát/sợ khói nhang rơi làm ba mẹ giật mình/ giống như ta đợi đến khi mẹ mất/ mới biết sông đau lỗ thủng đáy thuyền...

Có lúc cơm bụi dọc đường con mượn chiếc bàn riêng/ Cắm đũa thay nhang mời cha ghé dự. Có khuya sân ga, trên chiếu thuê con rủ/ Bạn giang hồ uống rượu cúng cha, say.

Luôn trong thơ Thanh Hoàng có những hình tượng gợi sự liên tưởng khá hay. Nó hay vì những câu chữ hình ảnh ấy được đặt đúng chỗ, đắc địa chứ không phải vì sự cầu kì biến dạng câu chữ. Thơ là thế. Có cần đâu dài dòng, vân vi dãi bày nọ kia. Chỉ một vài từ, một vài hình ảnh thế thôi cũng đủ lấy đi nước mắt bao người.

Thanh Hoàng yêu hội họa. Trong thơ anh cũng vẫn là một họa sỹ. Dùng câu chữ làm cọ, kỉ niệm làm màu. Và như một họa sỹ ngồi trước khung toan trắng nhưng hẹp, anh luôn phải ý thức tiết kiệm. Tiết kiệm màu đã đành. Phải tiết kiệm cả không gian bày biện. Anh không thể vung bút theo cảm xúc mà chỉ có thể ở mỗi chủ đề, mỗi dòng nhớ chọn ra những chi tiết hình tượng ý nghĩa, đặc trưng nhất, đắt nhất. Trong ta lắng vết bùn/ Trâu lăn sình vũng cạn/ Tiếng ruồi ve mê sảng/ Bay vù trong giấc mơ. Kỉ niệm của gã trai quê cùng tuổi yêu đầu non dại được vẽ nên bằng những hình ảnh quê kiểng. Tiếng ruồi ve, đám mây tụ bởi đám bù mắt vần vũ, mùi bùn tanh cùng lằn roi đuôi trâu quất chéo mặt... tất cả lặn vào giác mơ mê sảng.

Tháng Tư miền Trung riêng một mặt trời/ Suốt hai mươi bốn giờ đứng bóng...

Tất cả những khô khát bỏng cháy đặc thù của miền trung khô cằn bởi nắng lửa được gói gọn vào hai câu thơ vừa ảo vừa thật. Nó ảo như câu thơ của Hàn Mặc Tử: “Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh...”. Và nó thật như đất cằn dưới chân. Như đá đang tự vỡ trong gió lào khô cháy. Như giọt mồ hôi người chưa kịp rơi xuống đã bốc hơi trên mặt người đen sạm. Cái bóng luôn như bị vo tròn, phải tự lẩn trốn dưới chân người. Rất riêng. Không thể trộn lẫn.

Gặp lại mình lẫn trong rêu thẵm/ Khẳng khiu cành từ vết nứt vươn ra. Không còn là bức tường vô tri vô giác nữa. Bức tường gạch đã là một kho chứa kỉ niệm, là bức tranh về nơi anh đã từng được cưu mang. Cái xóm đứng trưa mặt trời mới ló vừa là một phát hiện vừa có sự ẩn tầng trong ý nghĩa của câu chữ. Ta hình dung ra một xóm nghèo chật chội, nhà nọ đan xen nhà kia nên chỉ đứng trưa khi mặt trời ngự đỉnh đầu ánh sáng mới có thể chiếu xuống được. Nếu chỉ là để tả về cái chật chội, chen chúc thì câu thơ như vậy đã đủ được coi là hay nhờ sự tinh nhạy trong phát hiện sự việc. Nhưng câu kết Nên láng giềng biết thắp sáng cho nhau. Lại là một lí giải cho những yêu thương đầy tình nghĩa láng giềng. Và chính ở nơi tăm tối ẩm thấp này tình người lại được soi rọi rõ nhất bằng những hành động “Tự thắp sáng cho nhau”, tự sưởi ấm cho nhau. Thật dung dị nhưng là đôi cánh nâng bổng câu thơ lên và cho câu thơ một ý nghĩa vừa mang tính phát hiện vừa triết lí. Đồng thời cũng là một lí giải cho sự ích kỉ, quay lưng với nhau kiểu đèn nhà ai nấy rạng thường thấy ở những nơi dư thừa ánh sáng, dư thừa của cải vật chất, dư thừa không khí mà cái ngột ngạt, cô lạnh vẫn ngự trị?!

Và khi biên độ thơ không còn bó hẹp trong chủ đề gia đình, mở ra tới cả kiếp nhân sinh thì cũng vẫn là ý thức chọn lọc. “Tượng đài của chị” như một câu chuyện kể. Đọc một lần rồi nhắm mắt không dám đọc lại. Có gì đó thật trong sáng mà quặn thắt. Có gì đó uất nghẹn mà rồi lại đành cười. Đồng đội điểm danh, vẫn nghe tiếng đáp “có tôi” mà sờ không thấy người. Bởi sau trận đánh, người thương binh còn sống sót nhưng Chân tay lạc mất rừng sâu/ Thân còn như dấu chấm câu giữa đời. Rồi hòa bình về gặp lại người yêu xưa... Giữ lời hẹn trước, họ vẫn thành đôi lứa nhưng không thể hưởng mật ngọt của hạnh phúc. Và ƯỚC: Giá như ngày ấy giữa rừng/ Điểm tên sau trận, anh đừng “có tôi”/ Mối đùn thành nấm mồ côi/ Thì em không phải lẻ - loi - bên - chồng... Có lẽ đây là lời ước thật nhất, mà vô lí nhất, đau nhất. Nó như không còn là tiếng của người mà là tiếng của bom rơi đạn nổ và chết chóc... Bức tranh thời hậu chiến hiện lên với gam màu chủ đạo: trầm cùng những nét vẽ đứt đoạn, rời rạc như từng nhát cuốc mòn bổ vào đất sỏi làm dậy lên những âm thanh nhiều khi nghe đến quặn thắt. Và như Tiếng Lục lạc của người cha bị chất độc da cam mua về đón con vang trong sân bệnh viện Phụ sản trong truyện Nguyễn Quang Lập. Người cha không biết đứa con của mình chỉ mới là một hài nhi dị tật. Thanh Hoàng quả đã chạm đến tận cùng nỗi đau của chiến tranh. Cái chết nhiều khi không đáng sợ bằng cái sống.

Chăm anh, em bế em bồng/ Đừng em/ Anh có làm chồng được đâu... Người thương binh mất cả tay chân được vợ bồng bế lên ngực như một tượng đài: Vợ vô tư, cứ hay đùa/ Bồng anh trước ngực, đâu thua tượng đài... Không, một ngàn lần hơn những tượng đài. Đất nước có tới hàng ngàn bức tượng mẹ bồng con. Nhưng có mấy bức tượng người thiếu phụ bồng chồng? Và có lẽ chỉ những người lính khi trở về phải lê thân kiếm ăn nơi xó chợ, phải vót đũa bán giữa một cái làng thiếu ăn mới có thể đùa được như vậy!!!

Có vẻ Thanh Hoàng rất mạnh ở chủ đề này. Điều đáng chú ý, thơ của Thanh Hoàng cũng như tranh của anh luôn có một gam chủ đạo là gam trầm. Nét cọ đưa có lúc khỏe mạnh, thanh thoát nhưng cũng không ít khi dùng dằng. Cứ như ngồi chấm cọ lên toan rồi ngập ngừng di, ngập ngừng đưa đẩy không biết tới sẽ là đâu. Rồi lặng giữa cô độc để mặc cho những giọt màu tự rịn, tự chảy xuôi. Như nước mắt. Như mồ hôi. Nhưng chính có lẽ từ những chảy xuôi ấy mà bức tranh lại nói được nhiều hơn.

Bằng sự dấn thân cùng kinh nghiệm, sự từng trải, Thanh Hoàng luôn giữ cho mình sự bình tĩnh cần thiết. Anh soi vào mỗi phận người, mỗi góc đời tăm tối. Tìm lấy sự đồng cảm và sẻ chia. Không thương vay khóc mướn. Không ban phát ân tình. Anh nhập hồn vào từng số phận và trong tâm thức của một người trong cuộc anh đã tìm ra những hình ảnh, câu chữ, những chi tiết sống động đặc trưng nhất, đắt nhất. Cũng không bi lụy, không tuyệt vọng. Lấp lánh trong những trang thơ buồn của Thanh Hoàng vẫn có chỗ cho cái đẹp, cho lòng tin và tình yêu trú ngụ. Nó như một ngọn lửa trong đêm đông giá, có thể nhỏ nhoi, có thể lúc nào đó leo lắt nhưng không tắt. Đây là một phẩm chất cần thiết và rất đáng quý đối với một người cầm bút chân chính.

“Lòng như rêu bám mộ bia...” Cũng như một đời người, không ảo tưởng, không kì vọng quá nhiều. Một đời thơ cũng vậy: Cả đời người gom lửa/ Được chút khói loang chiều. Thế thôi. Và có lẽ cũng chỉ cần được như thế. Được như thế cũng là đủ. Người giúp nhau thả thơ lên trời/ Ta lặng lẽ gieo từng vần vào đất/mực chiết riêng lòng nên thơ ta khác/ chỉ tươi xanh bên chỗ đợi ta về. Có thể coi đây là quan điểm về thơ của Thanh Hoàng. Nó làm luôn một định hướng cho hành động. Bám vào đất mẹ mà làm thơ. Lặng lẽ chiết gieo từng giọt thơ vào đất mẹ. Và khi đó Thơ trở nên tươi xanh bởi ủ mầm hy vọng.

Sài Gòn, 27 tháng 7

K.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm