TIN TỨC

Nhà thơ Thanh Hoàng lặng lẽ chiết gieo thơ vào đất mẹ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-07 08:35:46
mail facebook google pos stwis
1877 lượt xem

KAO SƠN

Với nhiều nhà thơ, cái gốc rễ cùng mảnh đất chôn rau cắt rốn luôn là một điều hết sức thiêng liêng. Nhiều người lấy đấy làm nguồn cảm hứng cho mình khi sáng tác. Thanh Hoàng cũng thế. Mồ côi cha mẹ từ rất sớm và rồi từ rất sớm đã phải xa quê. Chính điều đó đã làm cho Thơ Thanh Hoàng luôn tồn tại một khoảng trống đến mênh mông, đến choáng ngợp và luôn có khát khao được bù đắp, được vun đầy.


Nhà thơ Thanh Hoàng và bìa tập thơ mới.

Trong tập thơ “Vẽ nhớ” (Nhà xuất bản HNV, năm 2024) của anh, ngay bài đầu tiên Thanh Hoàng đã dành những yêu thương, kính trọng nhất để nói về mẹ. Tóc tai mắt mũi miệng... này/ Mẹ cầm đời mẹ để vay đất trời... Ta nhớ đã nằm lì trong lòng mẹ ấm/ đổ thừa trâu/ quất đuôi vào bụng mẹ lúc mẹ mang bầu. Ta đón ngày bằng đôi mắt dụi cay/ theo từng luống cày úp vùi gốc rạ/ nhìn đám bù mắt bay/ đuôi trâu đánh chéo mặt đời... Anh nói về mình như vậy. Vồng khoai xưa dáng mẹ mang bầu. - Dây khoai như dây rốn... Nhau con chôn ở đầu truông nảy chồi... Anh nói về mẹ như vậy. Ngay cả khi nói về kỉ niệm của những ngày đầu non dại thì bóng dáng của đứa trẻ quê cùng người mẹ quê cũng gợi một đụng chạm làm cho câu thơ biến thành kỉ niệm không của riêng ai: Mẹ bôi mật đắng vào núm vú mình/ dấu răng con dần lặn/ miếng cơm mẹ nhai thêm nhiều phần nước mắt/ con no miệng cười... Thật khó có thể tìm thấy ở đâu những liên tưởng gần gụi nhưng lại chính xác đến thế.

Nó hợp lí trong cách nhìn, gần gũi với cảm nhận của của đứa trẻ về mẹ. Và càng khôn lớn thêm, hình ảnh về mẹ càng đậm lại: Tảo tần xuôi ngược que nan/ Mẹ gom cơ cực ngồi đan tổ mềm. Không chỉ có thế. Thời gian mẹ mòn nhanh như lưỡi cuốc/ Mẹ soi vào vết chai sần trên tay, nhổ tuổi dư trắng xóa phận mình. Con nhận ra tiếng thời gian trôi qua đời mẹ trên từng sợi tóc trắng nhọc nhằn. Con nhận ra còn những hy sinh lớn lao khác ẩn sâu. Mẹ nợ đêm, những mùa trăng mẹ buồn là một nhận biết khác về mẹ. “Tiếng gàu khua giếng khuya cạn nước”. Tiếng thở dài ướt manh chiếu mục. Đó là hình ảnh mẹ trong những đêm cô lạnh vì góa bụa. Không cần nói rõ. Chỉ hình tượng trăng và tiếng gàu khua chạm đáy giếng cạn cùng những mùa trôi mà tạo được những “thanh âm không tiếng vọng”. Câm nín, hoàn toàn giản dị, không mĩ từ nhưng lại nói được rất nhiều.

Có thể nói thơ Thanh Hoàng có những câu hay nhất đều là thơ nói về Mẹ. Một tay mẹ níu núi rừng/ Chắn ngang gió bão để đừng lạnh con/ Một tay mẹ chẻ suối sông/ Dẫn đường tôm tép vào dòng sữa thơm. Hình ảnh người mẹ hiện lên như bà Đùng, như Nữ Oa trong cổ tích, nhưng không hề là một khoa trương. Mẹ chỉ bình dị như một cây lớn, sẵn sàng chịu mọi bão giông, che chắn và đổ bóng lên đời con dành cho con sự mát mẻ và an toàn. Và rồi Đến lúc chết cũng lén con mà chết/ Mẹ làm như con tránh được đau lòng.

Giận mẹ - bài thơ độc đáo ngay ở cách dùng cả câu chữ và hình tượng. Ngay từ Giận trong tiêu đề bài thơ đã khác biệt. Có ai trưng sự giận, nhất là Giận mẹ mình ra? Sự tò mò được giải đáp ngay sau đó. Từ “Lén” rất giỏi. Một từ ấy thôi cũng đủ hình dung ra tất cả một đời người, một hành trình sống, một hoàn cảnh và hơn hết nó nói lên được một bao trùm phủ dầy của tình cảm người mẹ dành cho con. Nó trái với thông lệ, người đời thường trước lúc chia xa luôn mong muốn có được đủ đầy con cháu vây quanh. Có người mẹ vì hoàn cảnh buộc phải giấu con để đi lấy chồng (Không mưa cũng thể phập phồng/ Lừa tôi ngõ trước, mẹ vòng lối sau - Mưa - Nguyễn ngọc Ly). Có thể hiểu được. thông cảm được. Nhưng trốn con đi chết thì quá đau. Cái lí do đưa ra càng nói lên tấm lòng mẹ vì con. Mẹ muốn con tránh được nỗi đau. Là mẹ hy vọng vậy thôi. Con làm sao tránh đau cho được. Thân xác con có được chính nhờ mẹ. Mẹ đã cầm cố cả đời mẹ vay đất trời để tạo ra con. Và món nợ đó cho đến ngày mẹ về với mây trắng con vẫn không giúp mẹ trả được.

Cha mẹ quên con, lần lượt về trời/ chiếc thuyền giấy rã dần trong mưa gió. Chiếc thuyền giấy chở tuổi thơ đắm chìm luôn khi không còn cha mẹ khiến tất cả những “phải chi - giá mà - nếu được...” bỗng không còn là ước ao nữa mà biến thành một nỗi tuyệt vọng. Những câu thơ như những nhát vồ nện vào đất cằn, như dằm cứa vào tim ta vệt nắng chiều như vết roi quất vào nỗi nhớ. “Mẹ quăng con lại dọc đường/ Rồi theo chiêng trống, khói hương lên đồi/ Mẹ chơi rứa/ Ai thèm chơi? Mẹ sống cực vậy mà khi về trời chỉ nhẹ nhàng như một đùa nghịch rong chơi, như một thoảng bay của chiếc lá vàng trong chiều gió lào thổi thốc. Mấy câu thơ cuối như một ẩn ức kiểu con trẻ làm dậy lên những rưng rưng.

Gió thốc, ngày trôi... và con vẫn loay hoay không thoát ra được cái vòng lẩn quẩn của những được thua, vay trả. Con nhổ vội phận mình giâm xứ khác/ Nhánh bụi đời chen cỏ mọc từng nơi. Một cố gắng nhằm đổi thay số phận Nhưng có vẻ như cuộc “cách mạng số phận” ấy đã không thành công: Con cầm khốn khó lang thang/ Vay thương trả nhớ trăm - ngàn - được – thua/ Tiêu dần cạn hết vốn xưa/ Bao lần đáo hạn con chưa nên người. Một cái nhìn chua chát về mình trong ngáy sinh nhật. Thất bại đến như một tất yếu. như một bắt buộc của số phận. Thanh Hoàng nhận ra việc xa quê của mình như một cây non bị bứng khỏi mảnh đất quen thuộc để chen chân tìm một chỗ đứng nơi cỏ dại quê người. Câu kết Con đã gọt sượng sùng nơi góc phố/ Sao mãi còn thương cuống rốn mình đau... đã nói lên tất cả. Hầu như những gian khó nhọc nhằn của phận người, của cả một vùng đất được khắc họa chỉ bằng mấy câu thơ như vậy. Bữa chiều nhà bên thơm khói bếp/ Đêm con mơ mút lợt ngón tay mình... Thật ấn tượng. Cái hay của thơ Thanh Hoàng nằm ở đây. Cách chọn hình tượng độc đáo và khác lạ. Cái độc, lạ được tạo nên bằng những hình tượng rất đỗi giản dị, nhặt từ cuộc sống thực, ai cũng đã chứng kiến, ai cũng từng bắt gặp. Đêm con mơ mút lợt ngón tay mình... Người đọc nhìn ra cả một tuổi thơ nghèo và nhận thấy từ những hình tượng giản dị ấy những chứa đựng ẩn sâu...

con rón rén rời làng trăng xuyên vách nát/sợ khói nhang rơi làm ba mẹ giật mình/ giống như ta đợi đến khi mẹ mất/ mới biết sông đau lỗ thủng đáy thuyền...

Có lúc cơm bụi dọc đường con mượn chiếc bàn riêng/ Cắm đũa thay nhang mời cha ghé dự. Có khuya sân ga, trên chiếu thuê con rủ/ Bạn giang hồ uống rượu cúng cha, say.

Luôn trong thơ Thanh Hoàng có những hình tượng gợi sự liên tưởng khá hay. Nó hay vì những câu chữ hình ảnh ấy được đặt đúng chỗ, đắc địa chứ không phải vì sự cầu kì biến dạng câu chữ. Thơ là thế. Có cần đâu dài dòng, vân vi dãi bày nọ kia. Chỉ một vài từ, một vài hình ảnh thế thôi cũng đủ lấy đi nước mắt bao người.

Thanh Hoàng yêu hội họa. Trong thơ anh cũng vẫn là một họa sỹ. Dùng câu chữ làm cọ, kỉ niệm làm màu. Và như một họa sỹ ngồi trước khung toan trắng nhưng hẹp, anh luôn phải ý thức tiết kiệm. Tiết kiệm màu đã đành. Phải tiết kiệm cả không gian bày biện. Anh không thể vung bút theo cảm xúc mà chỉ có thể ở mỗi chủ đề, mỗi dòng nhớ chọn ra những chi tiết hình tượng ý nghĩa, đặc trưng nhất, đắt nhất. Trong ta lắng vết bùn/ Trâu lăn sình vũng cạn/ Tiếng ruồi ve mê sảng/ Bay vù trong giấc mơ. Kỉ niệm của gã trai quê cùng tuổi yêu đầu non dại được vẽ nên bằng những hình ảnh quê kiểng. Tiếng ruồi ve, đám mây tụ bởi đám bù mắt vần vũ, mùi bùn tanh cùng lằn roi đuôi trâu quất chéo mặt... tất cả lặn vào giác mơ mê sảng.

Tháng Tư miền Trung riêng một mặt trời/ Suốt hai mươi bốn giờ đứng bóng...

Tất cả những khô khát bỏng cháy đặc thù của miền trung khô cằn bởi nắng lửa được gói gọn vào hai câu thơ vừa ảo vừa thật. Nó ảo như câu thơ của Hàn Mặc Tử: “Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh...”. Và nó thật như đất cằn dưới chân. Như đá đang tự vỡ trong gió lào khô cháy. Như giọt mồ hôi người chưa kịp rơi xuống đã bốc hơi trên mặt người đen sạm. Cái bóng luôn như bị vo tròn, phải tự lẩn trốn dưới chân người. Rất riêng. Không thể trộn lẫn.

Gặp lại mình lẫn trong rêu thẵm/ Khẳng khiu cành từ vết nứt vươn ra. Không còn là bức tường vô tri vô giác nữa. Bức tường gạch đã là một kho chứa kỉ niệm, là bức tranh về nơi anh đã từng được cưu mang. Cái xóm đứng trưa mặt trời mới ló vừa là một phát hiện vừa có sự ẩn tầng trong ý nghĩa của câu chữ. Ta hình dung ra một xóm nghèo chật chội, nhà nọ đan xen nhà kia nên chỉ đứng trưa khi mặt trời ngự đỉnh đầu ánh sáng mới có thể chiếu xuống được. Nếu chỉ là để tả về cái chật chội, chen chúc thì câu thơ như vậy đã đủ được coi là hay nhờ sự tinh nhạy trong phát hiện sự việc. Nhưng câu kết Nên láng giềng biết thắp sáng cho nhau. Lại là một lí giải cho những yêu thương đầy tình nghĩa láng giềng. Và chính ở nơi tăm tối ẩm thấp này tình người lại được soi rọi rõ nhất bằng những hành động “Tự thắp sáng cho nhau”, tự sưởi ấm cho nhau. Thật dung dị nhưng là đôi cánh nâng bổng câu thơ lên và cho câu thơ một ý nghĩa vừa mang tính phát hiện vừa triết lí. Đồng thời cũng là một lí giải cho sự ích kỉ, quay lưng với nhau kiểu đèn nhà ai nấy rạng thường thấy ở những nơi dư thừa ánh sáng, dư thừa của cải vật chất, dư thừa không khí mà cái ngột ngạt, cô lạnh vẫn ngự trị?!

Và khi biên độ thơ không còn bó hẹp trong chủ đề gia đình, mở ra tới cả kiếp nhân sinh thì cũng vẫn là ý thức chọn lọc. “Tượng đài của chị” như một câu chuyện kể. Đọc một lần rồi nhắm mắt không dám đọc lại. Có gì đó thật trong sáng mà quặn thắt. Có gì đó uất nghẹn mà rồi lại đành cười. Đồng đội điểm danh, vẫn nghe tiếng đáp “có tôi” mà sờ không thấy người. Bởi sau trận đánh, người thương binh còn sống sót nhưng Chân tay lạc mất rừng sâu/ Thân còn như dấu chấm câu giữa đời. Rồi hòa bình về gặp lại người yêu xưa... Giữ lời hẹn trước, họ vẫn thành đôi lứa nhưng không thể hưởng mật ngọt của hạnh phúc. Và ƯỚC: Giá như ngày ấy giữa rừng/ Điểm tên sau trận, anh đừng “có tôi”/ Mối đùn thành nấm mồ côi/ Thì em không phải lẻ - loi - bên - chồng... Có lẽ đây là lời ước thật nhất, mà vô lí nhất, đau nhất. Nó như không còn là tiếng của người mà là tiếng của bom rơi đạn nổ và chết chóc... Bức tranh thời hậu chiến hiện lên với gam màu chủ đạo: trầm cùng những nét vẽ đứt đoạn, rời rạc như từng nhát cuốc mòn bổ vào đất sỏi làm dậy lên những âm thanh nhiều khi nghe đến quặn thắt. Và như Tiếng Lục lạc của người cha bị chất độc da cam mua về đón con vang trong sân bệnh viện Phụ sản trong truyện Nguyễn Quang Lập. Người cha không biết đứa con của mình chỉ mới là một hài nhi dị tật. Thanh Hoàng quả đã chạm đến tận cùng nỗi đau của chiến tranh. Cái chết nhiều khi không đáng sợ bằng cái sống.

Chăm anh, em bế em bồng/ Đừng em/ Anh có làm chồng được đâu... Người thương binh mất cả tay chân được vợ bồng bế lên ngực như một tượng đài: Vợ vô tư, cứ hay đùa/ Bồng anh trước ngực, đâu thua tượng đài... Không, một ngàn lần hơn những tượng đài. Đất nước có tới hàng ngàn bức tượng mẹ bồng con. Nhưng có mấy bức tượng người thiếu phụ bồng chồng? Và có lẽ chỉ những người lính khi trở về phải lê thân kiếm ăn nơi xó chợ, phải vót đũa bán giữa một cái làng thiếu ăn mới có thể đùa được như vậy!!!

Có vẻ Thanh Hoàng rất mạnh ở chủ đề này. Điều đáng chú ý, thơ của Thanh Hoàng cũng như tranh của anh luôn có một gam chủ đạo là gam trầm. Nét cọ đưa có lúc khỏe mạnh, thanh thoát nhưng cũng không ít khi dùng dằng. Cứ như ngồi chấm cọ lên toan rồi ngập ngừng di, ngập ngừng đưa đẩy không biết tới sẽ là đâu. Rồi lặng giữa cô độc để mặc cho những giọt màu tự rịn, tự chảy xuôi. Như nước mắt. Như mồ hôi. Nhưng chính có lẽ từ những chảy xuôi ấy mà bức tranh lại nói được nhiều hơn.

Bằng sự dấn thân cùng kinh nghiệm, sự từng trải, Thanh Hoàng luôn giữ cho mình sự bình tĩnh cần thiết. Anh soi vào mỗi phận người, mỗi góc đời tăm tối. Tìm lấy sự đồng cảm và sẻ chia. Không thương vay khóc mướn. Không ban phát ân tình. Anh nhập hồn vào từng số phận và trong tâm thức của một người trong cuộc anh đã tìm ra những hình ảnh, câu chữ, những chi tiết sống động đặc trưng nhất, đắt nhất. Cũng không bi lụy, không tuyệt vọng. Lấp lánh trong những trang thơ buồn của Thanh Hoàng vẫn có chỗ cho cái đẹp, cho lòng tin và tình yêu trú ngụ. Nó như một ngọn lửa trong đêm đông giá, có thể nhỏ nhoi, có thể lúc nào đó leo lắt nhưng không tắt. Đây là một phẩm chất cần thiết và rất đáng quý đối với một người cầm bút chân chính.

“Lòng như rêu bám mộ bia...” Cũng như một đời người, không ảo tưởng, không kì vọng quá nhiều. Một đời thơ cũng vậy: Cả đời người gom lửa/ Được chút khói loang chiều. Thế thôi. Và có lẽ cũng chỉ cần được như thế. Được như thế cũng là đủ. Người giúp nhau thả thơ lên trời/ Ta lặng lẽ gieo từng vần vào đất/mực chiết riêng lòng nên thơ ta khác/ chỉ tươi xanh bên chỗ đợi ta về. Có thể coi đây là quan điểm về thơ của Thanh Hoàng. Nó làm luôn một định hướng cho hành động. Bám vào đất mẹ mà làm thơ. Lặng lẽ chiết gieo từng giọt thơ vào đất mẹ. Và khi đó Thơ trở nên tươi xanh bởi ủ mầm hy vọng.

Sài Gòn, 27 tháng 7

K.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm