TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà thơ Trần Hà Yên: “Viết cho trẻ con để thấy đời mình không sống mòn”

Nhà thơ Trần Hà Yên: “Viết cho trẻ con để thấy đời mình không sống mòn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-10 13:29:03
mail facebook google pos stwis
2052 lượt xem

TỐNG PHƯỚC BẢO

Mãi đến khi chia tay nhau trong một đêm tối muộn của tháng 5, trên con đường mưa thưa người ngay khu trung tâm thành phố, giữa ánh đèn vàng vọt phảng phất vào gương mặt của Trần Hà Yên, tôi bất giác nhớ hai câu thơ của chị: “Phấn son vẫn rạng nét cười/ Yêu thương em vẫn rạng ngời mắt môi”.

Quả thực trong nét rạng rỡ của ngày hôm nay, tôi chẳng thể tưởng tượng một Trần Hà Yên đã kiên trì trong 10 năm qua để chiến đấu với căn bệnh ung thư. Và chính những tháng ngày ngỡ như tận cùng số phận, văn chương như một loại “biệt dược” giúp chị vững vàng đi tiếp cõi người còn lắm yêu thương này.

Tái sinh cuộc đời từ văn chương

Trần Hà Yên vốn dĩ quê quán ở Quảng Ngãi, nhưng lại sinh ra trên đất Hà Nội, tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn, đi dạy tận Phú Yên và giờ sống ở TP Hồ Chí Minh. Chỉ nội cái khoảng chằng chịt những tháng năm ruổi rong đời mình ở nhiều vùng đất cũng đủ thấy một Trần Hà Yên mang sẵn trên mình nhiều nỗi gian truân. Nhưng chẳng hề gì, chị cùng ông xã, cũng là một giáo viên luôn thắp lên trong nhau những ngọn lửa đủ ấm để cùng đi qua bao giông bão. Mái ấm của chị đong đầy yêu thương.

Tôi vẫn nói với chị, trong phần số của chị, có rủi và may. Thăng trầm đi qua, tưởng đã đến lúc với tay hái trái ngọt của đời mình thì một lần nữa, chị đối diện với cửa tử. Ranh giới mỏng manh đó, may mắn chị có gia đình luôn cạnh bên, hết mực chăm lo và kiên trì cùng chị.

Phụ nữ, mà nhất là phụ nữ quàng vào thân mình cái nghiệp văn chương, kỳ thực mấy ai được như chị. Những trang bản thảo đầu tiên luôn được chính chồng chị đọc trước nhất. Thậm chí, những khi đi làm về muộn, anh tự chọn cách giải trí là ngồi vào máy tính, và tìm các tác phẩm mới viết của chị để đọc. Anh không phải là người viết, nhưng trước nhất anh yêu chị nên yêu luôn cả câu chữ của chị. Đó là phước hạnh của mối lương duyên mà trời ban cho chị. Vậy nên, sóng gió bão giông phủ xuống đời chị 10 năm nay, luôn có vợ chồng đồng lòng tát cạn.

Trần Hà Yên vốn dĩ sống và viết lặng thầm, nhưng bền bỉ so với nhiều bạn văn phía Nam. Đều đặn in sách và góp mặt trong các báo in, cả văn lẫn thơ. Nhưng có lẽ, với thơ mới là cốt lõi của văn chương chị. Chính thơ Trần Hà Yên mới dẫn dắt tôi tìm đến chị bởi những câu thơ đau đáu phận người, những câu thơ dạt dào xúc cảm, những câu thơ đọc lên và cay xè sống mũi ngay tức thì: “Ở nơi đây/ chỉ có những cái đầu trọc lóc/ vợ thương chồng gói tròn tiếng khóc/ mẹ thương con chiếu chăn lăn lóc/ lặng lẽ nhìn nhau/ đôi mắt đỏ/ rưng rưng”. Khi đọc bài thơ “Ranh giới” mà chị làm trong những tháng ngày điều trị căn bệnh ung thư, tôi tự hỏi những ám ảnh, những đọa đày, cả những chấp chới sinh tử, người phụ nữ này chỉ có thơ để gói ghém tấc dạ và vỗ về chính mình trong cuộc chiến giành lấy quyền được sống.

Hơn 10 năm trước, khi nghe bác sĩ nói mình bị ung thư, chị khụy xuống, nắm chặt tay vịn cầu thang và nhất quyết trả lời bác sĩ: “Tôi phải sống”. Ngay thời khắc đối diện án tử chị chỉ nghĩ đến chồng, đến hai người con và cuộc đời này còn nhiều thứ để mình tiếp tục. Tế bào ung thư di căn, chị đối diện với ca nạo hạch sâu trong hố chậu, vậy mà vẫn phải tập đi, hai người con dìu mẹ từng bước đau đớn. Trên đường về sau ca xạ trị, chị sợ những ảnh hưởng từ thuốc khiến mình ói hoặc ngất xỉu nên ngồi sau xe con chị chọn hát. Hát tất cả những bài hát trong đầu mình chợt nhớ để quên đi cái đau. Để thấy mình vẫn còn sống như chính mình mong muốn. Và văn chương nảy lên trong chị những câu từ, thể như đúng mùa hoa nở, đúng thời khắc cần phải có.

Những khoảng nghỉ một mình với căn nhà trống khi chồng con đi làm, câu chữ từ những cảm xúc chợt nảy lên trong đầu, và chị chọn ghi lại, cùng với bản năng văn chương tự khắc những dòng nguệch ngoạc đầu tiên thành thơ. Nếu tin văn chương cũng có thân phận thì chính thời khắc sinh tử, văn chương gá thân vào chị, cộng sinh với chị để cùng tái sinh. Và Trần Hà Yên điềm tĩnh dùng văn chương để an ổn đi qua chuỗi hành trình 10 năm kiên cường.


Một số tác phẩm của Trần Hà Yên

Xác tín mình bằng thơ thiếu nhi

Cho đến bây giờ chị đã có 8 đầu sách được in ấn, và mới nhất chính là tập thơ thiếu nhi “Từ vườn hoa nhà em” (NXB Văn học). Từ những câu chuyện chị ghi lại trên trang mạng cá nhân, ban đầu chỉ để lưu lại chút gì đó cho chồng con lỡ chị không đi trọn hành trình cuộc đời, cho đến lúc nhận được sự ủng hộ của chính người đọc, Trần Hà Yên mới tự tin dấn thân sâu cùng văn chương.

Thơ chị luôn mạnh về cảm xúc, và giàu thông điệp yêu thương. Dẫu trong mỗi bài thơ luôn lấp ló những khoảng buồn, những trăn trở và những chông chênh của thân phận con người hữu hạn trong cõi đời vô hạn này. Nhưng, riêng mảng thơ thiếu nhi, Trần Hà Yên như đắm mình vào sự tươi non và trong trẻo một cách hòa hợp rất nhuần nhuyễn. Có lẽ chính những đứa cháu nhỏ hằng ngày hiện hữu trong trái tim chị, đã khiến thơ thiếu nhi của Trần Hà Yên vô cùng tự nhiên.

Trần Hà Yên bắt đầu đến với thơ thiếu nhi chỉ hai năm nay, những lần từ ô cửa nhà mình nhìn đám cháu sáng sớm tíu tít chào bà rồi đi học, hoặc mỗi chiều hôm cháu ùa vào lòng bi bô kể chuyện ở trường, và cả những ngày nghỉ cùng cháu dạo chơi khắp phố phường khiến chị được đắm mình vào không gian trẻ thơ, cảm xúc dẫn dắt lúc nào chẳng hay. Có khi chị hóa thành hoa cỏ, ong bướm, cũng có khi là chính lời đứa cháu dệt thành câu chữ. Linh hoạt trong cách chọn góc nhìn, và ứng biến trong câu chữ của mình.

Thơ thiếu nhi của Trần Hà Yên vì thế rất đỗi trong trẻo và gần gũi, hiện đại như: “Vội gì lo ăn sáng/ Cùng bố mẹ tập bơi/ Sau này có đi chơi/ Không sợ mình đuối nước”. Hay như câu chuyện hai đứa bé chạy chơi quanh nhà và làm vỡ cái bình, Trần Hà Yên thu vào tầm mắt và rồi thơ cũng tinh nghịch như chính lời trẻ con: “Chiều về thấy vậy bố hỏi/ Sao bình bị vỡ thế này/ Anh hai ngập ngừng nhìn bố/ Tí thưa: tại nó bị say”. Phải quan sát và phải hòa mình vào với trẻ nhỏ thì mới hiểu được nét tinh nghịch lẫn vô tư của các con. Thơ thiếu nhi cần thiết là sự đồng điệu tâm hồn thì mới có thể khiến độc giả nhí thích thú, bởi chính các con trẻ thấy mình trong từng câu chữ. May mắn thay, ở Trần Hà Yên có được điểm này.

Hơn 40 bài thơ nhỏ gọn, xinh xắn trong tập thơ là những câu chuyện ghi lại cảm xúc cũng như cuộc sống hằng ngày của trẻ con, từ đó góc nhìn của Trần Hà Yên nở ra những điều giản dị thân thuộc và cảm xúc tươi mới, non xanh nhưng đầy những yêu thương mà chính trẻ nhỏ mang đến cho người lớn.

Lan rộng ra hơn, đó là tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai cho chính chúng ta từ việc hằng ngày được tắm tưới tâm hồn bởi sự trong trẻo của trẻ nhỏ. Tôi tin đây chính là dụng ý của Trần Hà Yên khi tìm đến với thơ thiếu nhi, không chỉ là thể nghiệm cho nghề viết mà là sự xác tín của hành trình văn chương đóng dấu tên mình. Bởi khi tôi hỏi vì sao chọn thơ thiếu nhi trong khi trải nghiệm sống của chị chính là mảng đề tài mà chẳng mấy ai có được. Câu chuyện đời chị vốn dĩ đã là mảnh đất màu mỡ nhiều vấn đề để khai thác ra trăm ngàn chất liệu cho sáng tác. Trần Hà Yên lẳng lặng đôi phút rồi thủ thỉ những lúc viết cho trẻ con chị thấy đời mình không sống mòn.

Trong cơn mưa lất phất của tháng 5, chồng chị chào tôi và lại dắt tay người vợ đứng nép vào mái hiên của quán cà phê và chờ xe. Khoảnh khắc đó, tôi tin chị đã sống một cuộc đời trọn vẹn của yêu thương, của cho và nhận, của một số phận gá mình cùng văn chương. Quãng đường về, tôi thả lòng mình cùng hai vế câu mà chị đã trả lời cho tôi, trẻ con và không sống mòn. Thiếu nhi như những mầm non, đó là tương lai, và chí ít nhìn các con, quả thật chúng ta thấy đời này không có điều gì để phải sống mòn.

 Nguồn: VNCA

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm