TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nhà thơ Trần Hà Yên: “Viết cho trẻ con để thấy đời mình không sống mòn”

Nhà thơ Trần Hà Yên: “Viết cho trẻ con để thấy đời mình không sống mòn”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-10 13:29:03
mail facebook google pos stwis
2014 lượt xem

TỐNG PHƯỚC BẢO

Mãi đến khi chia tay nhau trong một đêm tối muộn của tháng 5, trên con đường mưa thưa người ngay khu trung tâm thành phố, giữa ánh đèn vàng vọt phảng phất vào gương mặt của Trần Hà Yên, tôi bất giác nhớ hai câu thơ của chị: “Phấn son vẫn rạng nét cười/ Yêu thương em vẫn rạng ngời mắt môi”.

Quả thực trong nét rạng rỡ của ngày hôm nay, tôi chẳng thể tưởng tượng một Trần Hà Yên đã kiên trì trong 10 năm qua để chiến đấu với căn bệnh ung thư. Và chính những tháng ngày ngỡ như tận cùng số phận, văn chương như một loại “biệt dược” giúp chị vững vàng đi tiếp cõi người còn lắm yêu thương này.

Tái sinh cuộc đời từ văn chương

Trần Hà Yên vốn dĩ quê quán ở Quảng Ngãi, nhưng lại sinh ra trên đất Hà Nội, tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn, đi dạy tận Phú Yên và giờ sống ở TP Hồ Chí Minh. Chỉ nội cái khoảng chằng chịt những tháng năm ruổi rong đời mình ở nhiều vùng đất cũng đủ thấy một Trần Hà Yên mang sẵn trên mình nhiều nỗi gian truân. Nhưng chẳng hề gì, chị cùng ông xã, cũng là một giáo viên luôn thắp lên trong nhau những ngọn lửa đủ ấm để cùng đi qua bao giông bão. Mái ấm của chị đong đầy yêu thương.

Tôi vẫn nói với chị, trong phần số của chị, có rủi và may. Thăng trầm đi qua, tưởng đã đến lúc với tay hái trái ngọt của đời mình thì một lần nữa, chị đối diện với cửa tử. Ranh giới mỏng manh đó, may mắn chị có gia đình luôn cạnh bên, hết mực chăm lo và kiên trì cùng chị.

Phụ nữ, mà nhất là phụ nữ quàng vào thân mình cái nghiệp văn chương, kỳ thực mấy ai được như chị. Những trang bản thảo đầu tiên luôn được chính chồng chị đọc trước nhất. Thậm chí, những khi đi làm về muộn, anh tự chọn cách giải trí là ngồi vào máy tính, và tìm các tác phẩm mới viết của chị để đọc. Anh không phải là người viết, nhưng trước nhất anh yêu chị nên yêu luôn cả câu chữ của chị. Đó là phước hạnh của mối lương duyên mà trời ban cho chị. Vậy nên, sóng gió bão giông phủ xuống đời chị 10 năm nay, luôn có vợ chồng đồng lòng tát cạn.

Trần Hà Yên vốn dĩ sống và viết lặng thầm, nhưng bền bỉ so với nhiều bạn văn phía Nam. Đều đặn in sách và góp mặt trong các báo in, cả văn lẫn thơ. Nhưng có lẽ, với thơ mới là cốt lõi của văn chương chị. Chính thơ Trần Hà Yên mới dẫn dắt tôi tìm đến chị bởi những câu thơ đau đáu phận người, những câu thơ dạt dào xúc cảm, những câu thơ đọc lên và cay xè sống mũi ngay tức thì: “Ở nơi đây/ chỉ có những cái đầu trọc lóc/ vợ thương chồng gói tròn tiếng khóc/ mẹ thương con chiếu chăn lăn lóc/ lặng lẽ nhìn nhau/ đôi mắt đỏ/ rưng rưng”. Khi đọc bài thơ “Ranh giới” mà chị làm trong những tháng ngày điều trị căn bệnh ung thư, tôi tự hỏi những ám ảnh, những đọa đày, cả những chấp chới sinh tử, người phụ nữ này chỉ có thơ để gói ghém tấc dạ và vỗ về chính mình trong cuộc chiến giành lấy quyền được sống.

Hơn 10 năm trước, khi nghe bác sĩ nói mình bị ung thư, chị khụy xuống, nắm chặt tay vịn cầu thang và nhất quyết trả lời bác sĩ: “Tôi phải sống”. Ngay thời khắc đối diện án tử chị chỉ nghĩ đến chồng, đến hai người con và cuộc đời này còn nhiều thứ để mình tiếp tục. Tế bào ung thư di căn, chị đối diện với ca nạo hạch sâu trong hố chậu, vậy mà vẫn phải tập đi, hai người con dìu mẹ từng bước đau đớn. Trên đường về sau ca xạ trị, chị sợ những ảnh hưởng từ thuốc khiến mình ói hoặc ngất xỉu nên ngồi sau xe con chị chọn hát. Hát tất cả những bài hát trong đầu mình chợt nhớ để quên đi cái đau. Để thấy mình vẫn còn sống như chính mình mong muốn. Và văn chương nảy lên trong chị những câu từ, thể như đúng mùa hoa nở, đúng thời khắc cần phải có.

Những khoảng nghỉ một mình với căn nhà trống khi chồng con đi làm, câu chữ từ những cảm xúc chợt nảy lên trong đầu, và chị chọn ghi lại, cùng với bản năng văn chương tự khắc những dòng nguệch ngoạc đầu tiên thành thơ. Nếu tin văn chương cũng có thân phận thì chính thời khắc sinh tử, văn chương gá thân vào chị, cộng sinh với chị để cùng tái sinh. Và Trần Hà Yên điềm tĩnh dùng văn chương để an ổn đi qua chuỗi hành trình 10 năm kiên cường.


Một số tác phẩm của Trần Hà Yên

Xác tín mình bằng thơ thiếu nhi

Cho đến bây giờ chị đã có 8 đầu sách được in ấn, và mới nhất chính là tập thơ thiếu nhi “Từ vườn hoa nhà em” (NXB Văn học). Từ những câu chuyện chị ghi lại trên trang mạng cá nhân, ban đầu chỉ để lưu lại chút gì đó cho chồng con lỡ chị không đi trọn hành trình cuộc đời, cho đến lúc nhận được sự ủng hộ của chính người đọc, Trần Hà Yên mới tự tin dấn thân sâu cùng văn chương.

Thơ chị luôn mạnh về cảm xúc, và giàu thông điệp yêu thương. Dẫu trong mỗi bài thơ luôn lấp ló những khoảng buồn, những trăn trở và những chông chênh của thân phận con người hữu hạn trong cõi đời vô hạn này. Nhưng, riêng mảng thơ thiếu nhi, Trần Hà Yên như đắm mình vào sự tươi non và trong trẻo một cách hòa hợp rất nhuần nhuyễn. Có lẽ chính những đứa cháu nhỏ hằng ngày hiện hữu trong trái tim chị, đã khiến thơ thiếu nhi của Trần Hà Yên vô cùng tự nhiên.

Trần Hà Yên bắt đầu đến với thơ thiếu nhi chỉ hai năm nay, những lần từ ô cửa nhà mình nhìn đám cháu sáng sớm tíu tít chào bà rồi đi học, hoặc mỗi chiều hôm cháu ùa vào lòng bi bô kể chuyện ở trường, và cả những ngày nghỉ cùng cháu dạo chơi khắp phố phường khiến chị được đắm mình vào không gian trẻ thơ, cảm xúc dẫn dắt lúc nào chẳng hay. Có khi chị hóa thành hoa cỏ, ong bướm, cũng có khi là chính lời đứa cháu dệt thành câu chữ. Linh hoạt trong cách chọn góc nhìn, và ứng biến trong câu chữ của mình.

Thơ thiếu nhi của Trần Hà Yên vì thế rất đỗi trong trẻo và gần gũi, hiện đại như: “Vội gì lo ăn sáng/ Cùng bố mẹ tập bơi/ Sau này có đi chơi/ Không sợ mình đuối nước”. Hay như câu chuyện hai đứa bé chạy chơi quanh nhà và làm vỡ cái bình, Trần Hà Yên thu vào tầm mắt và rồi thơ cũng tinh nghịch như chính lời trẻ con: “Chiều về thấy vậy bố hỏi/ Sao bình bị vỡ thế này/ Anh hai ngập ngừng nhìn bố/ Tí thưa: tại nó bị say”. Phải quan sát và phải hòa mình vào với trẻ nhỏ thì mới hiểu được nét tinh nghịch lẫn vô tư của các con. Thơ thiếu nhi cần thiết là sự đồng điệu tâm hồn thì mới có thể khiến độc giả nhí thích thú, bởi chính các con trẻ thấy mình trong từng câu chữ. May mắn thay, ở Trần Hà Yên có được điểm này.

Hơn 40 bài thơ nhỏ gọn, xinh xắn trong tập thơ là những câu chuyện ghi lại cảm xúc cũng như cuộc sống hằng ngày của trẻ con, từ đó góc nhìn của Trần Hà Yên nở ra những điều giản dị thân thuộc và cảm xúc tươi mới, non xanh nhưng đầy những yêu thương mà chính trẻ nhỏ mang đến cho người lớn.

Lan rộng ra hơn, đó là tinh thần lạc quan và niềm tin vào tương lai cho chính chúng ta từ việc hằng ngày được tắm tưới tâm hồn bởi sự trong trẻo của trẻ nhỏ. Tôi tin đây chính là dụng ý của Trần Hà Yên khi tìm đến với thơ thiếu nhi, không chỉ là thể nghiệm cho nghề viết mà là sự xác tín của hành trình văn chương đóng dấu tên mình. Bởi khi tôi hỏi vì sao chọn thơ thiếu nhi trong khi trải nghiệm sống của chị chính là mảng đề tài mà chẳng mấy ai có được. Câu chuyện đời chị vốn dĩ đã là mảnh đất màu mỡ nhiều vấn đề để khai thác ra trăm ngàn chất liệu cho sáng tác. Trần Hà Yên lẳng lặng đôi phút rồi thủ thỉ những lúc viết cho trẻ con chị thấy đời mình không sống mòn.

Trong cơn mưa lất phất của tháng 5, chồng chị chào tôi và lại dắt tay người vợ đứng nép vào mái hiên của quán cà phê và chờ xe. Khoảnh khắc đó, tôi tin chị đã sống một cuộc đời trọn vẹn của yêu thương, của cho và nhận, của một số phận gá mình cùng văn chương. Quãng đường về, tôi thả lòng mình cùng hai vế câu mà chị đã trả lời cho tôi, trẻ con và không sống mòn. Thiếu nhi như những mầm non, đó là tương lai, và chí ít nhìn các con, quả thật chúng ta thấy đời này không có điều gì để phải sống mòn.

 Nguồn: VNCA

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm