TIN TỨC

Gã Phục điên từ bao giờ?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-01-12 05:55:39
mail facebook google pos stwis
1592 lượt xem

 CHỢT NHỚ VÀ KHÓ QUÊN

TÔ HOÀNG

1- Tôi viết những dòng này không nhắm “rủa” ông bạn vàng của tôi- nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Cũng không nhắm biện minh cho những gì anh đã và đang nói; đã và đang làm hôm nay. Tôi kể lại câu chuyện xẩy ra với anh cách đây đã 30 năm mà tôi là một chứng nhân. Trước hết bởi một nỗi day dứt lâu nay thường ám ảnh tôi: Mình biết một sự thật về Phục mà khỏang chục năm trước không thể kể, không thể viết, bây giờ được “tháo cũi sổ lồng”, sao mình không kể đi? Nếu bỗng dưng một ngày nào đó ông bạn nhiều bệnh họan, hay nghĩ ngợi, thích dâng hiến đến kiệt cùng sức lực này “đốc chứng” muốn đi theo đám bạn bè Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Lâm, Nghiêm Đa Văn, Tường Vân, Phạm Tiến Duật, Lý Biên Cương…? Tôi viết còn vì một thôi thúc nữa: Sao thiên hạ bây giờ nhiều người mắc phải căn bệnh “quay quắt” khốn khổ đến như vậy? Họ đang cố thanh minh thanh nga rằng họ sáng suốt, họ rạch ròi đã từ rất lâu; họ đã biết xua tay không hề tham dự vào công việc này, sự kiện nọ; họ bị bắt buộc, bị thúc ép, họ không mù quáng, cuồng tín đâu, nhưng họ đơn chiếc, lẻ loi, mà đã là số ít họ “đành” phải theo số đông.


Nhà văn - biên kịch Nguyễn Khắc Phục

Tôi sẽ kể lại chuyến đi Liên Xô học đạo diễn điện ảnh VGIK của Phục vào mùa hè năm 1980.

Có người nói, anh sang Moskva không học nổi nghề này nên “bị đuổi” về nước. Có người nói anh ở nước Nga đâu đó một năm rồi mới về Việt Nam. Có người khẳng đinh anh chỉ ở Moskva chừng 2 tháng. Lại có người vắn gọn: Gã ấy làm sao sống nổi ở nơi ấy thì bỏ về thôi...

Tôi là người bạn đồng hành lớn tuổi duy nhất cùng sang Moskva với Phục chuyến ấy, tôi cũng không rõ nguyên do nếp tẻ ra sao. Thành thử nghe gì, thấy gì cứ kể lại để bạn hữu, đồng nghiệp của anh biết cho vui thôi...

Phục lưu lại Moskva chừng hơn tháng.

Nhớ trước hôm ra sân bay về nước đâu đó hai, ba ngày, Phục mở toang cái vali và gọi bạn bè tới:

“Các cậu muốn gửi cho bố mẹ, vợ con phim ảnh, đồng hồ báo thức, sâm nước (những mặt hàng dạo đó về Việt Nam bán chạy, lời lãi khá cao) cứ ném ráo vào đây, tớ sẽ chuyển giùm cho. Nhưng làm chứng giúp tớ một điều: Tớ sang Nga và quay về ngay như thế này không phải để đánh quả đâu nhé!”

Ngược thời gian, cách đó chừng ba tuần, tôi theo Phục lên Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô. Một gã quan chức mặt bự thịt, mắt ti hí gian giảo vừa nhìn thấy Phục đã cao giọng phủ đầu: “Anh thừa biết, bao nhiêu người mơ ước mà không được sang đây. Còn Nhà nước bỏ tiền mua vé máy bay, chi tiền cho anh ăn học ở đây 5 năm nữa, bỗng dưng anh nằng nặc đòi về lại Việt Nam nà nà, nàm sao? Anh dám phung phí từng ấy tiền bạc của Nhà nước a?”.

Gã quan chức “Sứ” thao thao, hùng hổ đến tóat cả mồ hôi trán. Phục im lặng, cười cười. Chờ cho gã kia đã thấm mệt, Phục hỏi: “Thưa, ông đã nói hết chưa? “. Gã kia chán: “Hết rồi !”. Phục: “Bây giờ tôi xin phép được hỏi lại ông. Đúng là Nhà nước đã tốn từng ấy tiền mua vé máy bay cho tôi. Nhưng sang tới đây tôi tự thấy mình sẽ không học tiếp nổi. Vậy xin hỏi ông, Nhà nước có nên tiếp tục tốn tiền để cho một thằng như tôi ở lại đây thêm 5 năm nữa, hay nên cho tôi về nước để giảm bớt chi phí ăn học của tôi 5 năm tới?”. Lẽ đương nhiên quan “Sứ” đuối lý đành ký xọet vào tờ đơn để Phục “hồi hương”!

Trước khi kể tiếp chuyện du ký ngắn ngày của Phục tại nước Nga, người kể chuyện xin được lược ghi tiểu sử trích ngang sáng tác của Phục – tính đến thời điểm đó.

Bạn văn chương cùng lứa tuổi chúng tôi hẳn còn nhớ, khỏang những năm 1966, 1967, 1968 những truyện ngắn của Đỗ Chu hầu như thống lĩnh văn đàn văn xuôi của những cây bút trẻ mới xuất hiện những năm đầu chiến tranh chống Mỹ. Bất ngờ, trên tạp chí “Văn nghệ quân đội” xuất hiện truyện ngắn “Hoa cúc biển”  và ngay sau đó là “Ngã ba Vô Tình” của Phục. Vẫn là chất trong sáng, nhân hậu, đầy chất thơ như văn chương của Đỗ Chu, mà khác hẳn Đỗ Chu, mà tài năng ngang ngửa Đỗ Chu. Một cú mở đầu ngọan mục khiến thiên hạ lao xao ngơ ngác. Và Phục nhanh chóng gia nhập hàng ngũ cùng những Thi Hòang, Hòang Hưng, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt… Rồi Phục lên đường vào Chiến trường Khu V để không bao lâu sau có ngay trường ca “Ăn cốm giữa sân”, kịch “Vườn thày Năm”. Vào năm 1977, 1978, anh có kịch bản văn học “Thành phố không bị chiếm” (Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới – Hội Nhà văn đã in vở kịch này thành sách), đạo diễn Phạm Kỳ Nam dựng thành một bộ phim truyện nhựa dài 9 cuốn với tên mới “Tự thú trước bình minh”. Từ chiến tranh bước ra, 30 tuổi, gia tài văn chương như vậy đâu có phải là mỏng?

Chín tháng học tiếng Nga ở Thanh Xuân, Phục vui vẻ, hào hứng. Và thấy rõ, Phục cũng hào hứng với chuyến ra nước ngòai lần đầu. Sau tháng 4 năm 1975, Phục lang thang ở Sài gòn, vùi đầu đọc đủ các lọai sách, tiếp xúc với đủ lọai người, làm quen và hưởng thụ nền văn minh Akai, Honda chừng hai năm. Anh tỏ ra “sành điệu” để “ tân trang” cho tôi nào giày mũi quả táo, quần ống loe , áo chim cò thắt ngang lưng... những mốt thời thượng thuở ấy của Sài gòn. Nhưng tôi đoan chắc rằng, Phục vẫn rất yêu, thậm chí sủng mộ Liên xô và nền văn hóa Nga và Xô viết, như tất cả anh em thế hệ tôi. Chả thế mà, khi con trai tôi chào đời, nhờ Phục đặt tên giúp, anh đặt tên cháu là Tô Đòai Minh. Phục giải thích cho vợ chồng tôi hiểu “Đòai Minh tức Phương Tây sáng”. Cái Phương Tây ấy, ở thời điểm ấy, tôi đoan chắc đối với Phục tuyệt nhiên không phải, chưa phải là Pháp, là Nhật, là Mỹ như sự ngưỡng mộ của các bạn trẻ bây giờ.

Vậy sao Phục lưu lại ở Moskva chỉ hơn một tháng và nằng nặc đòi về?

2- Máy bay rời sân bay Nội Bài (hồi đó những bác thợ cày quanh vùng vẫn có thể ngang nhiên khóac áo tơi lá, thung thăng dắt trâu cắt qua đường băng) vào một chiều mùa hè mây giăng mù mịt, mưa rơi tầm tã. Mù mịt, tầm tã như thế qua đất Lào, Myanma . Và máy bay hạ thấp độ cao, nghỉ tiếp dầu ở hai sân bay Canquýt ta (Ấn Độ), Carachi (Pakistan). Vào tới phòng đợi sân bay là chìm ngập trong những quầy hàng đủ lọai quần Jeal, áo Pul, rượu mạnh; là lần đầu nhìn thấy tivi mầu với các chương trình quảng cáo của Nhật, của Mỹ. Cái gì cũng mới, cũng lạ đến hoa cả mắt, chóng cả mặt. Phục tỏ ra sành sỏi gỉai thích cho chúng tôi mọi thứ. Thiếp ngủ chừng 7, 8 tiếng đồng hồ nữa, 3 giờ sáng xe chở chúng tôi vào thành phố Moskva. Ấn tượng đầu tiên- thành phố chỉ một màu điện đỏ vừa đủ soi tầm nhìn (sau này chúng tôi biết rằng, người Nga không khuyến khích vui chơi về đêm, cần ngủ sớm để tái sản xuất sức lao động, vì thế khỏang 9, 10 giờ tối nhà máy đèn được lệnh giảm công xuất). Tuyệt nhiên không hề có những tấm biển nhấp nháy đèn đủ màu để quảng cáo hàng. Thỉnh thỏang lướt qua cửa xe là những khẩu hiệu thắp bằng bóng điện to đùng: “Liên Xô -trụ cột hòa bình”, “Vinh quang thay Đảng cộng sản Liên Xô ”, “ Nguyên tử dùng vào mục đích hòa bình”, “Lao động là vinh quang”… Chỉ những tấm biển khẩu hiệu ấy, Phục nói bên tai tôi: “Y hệt bên nước mình!”

Chúng tôi phải theo học 9 tháng tiếng Nga nữa tại Khoa dự bị, Đại học Lomonosov. Người ta giải thích, học nghề đạo diễn, tiếng Nga phải giỏi cả nghe lẫn nói. Đã học một năm tiếng Nga tại Trường Ngọai ngữ Thanh Xuân, Hà Nội. Lại thêm một năm ngọai ngữ nữa. Sau chiến tranh Phục đang ấp ủ bao nhiêu dự định cho tiểu thuyết, trường ca, kịch bản điện ảnh và sân khấu (như ta biết, sau khi ở Nga về, Phục lần lượt cho ra đời bộ ba tiểu thuyết “Học phí trả bằng máu”, “Đầu sóng”, “Thành phố đứng trước biển” và hàng chục vở kịch sân khấu…). Phải chăng, đây là lý do để Phục đòi trở về nước?

Phục theo học khóa tiếng Nga buổi đực buổi cái. Không cặp, không túi, cuốn vở tập nhét túi quần. Thời gian còn lại thường ngồi cà phê hút thuốc, đăm chiêu. Hoặc ra rạp xem phim để về riễu cợt, chê bai các phim công thức, giáo huấn của Điện ảnh Xô viết. Ở lớp dự bị tiếng, dù học để tăng cường khả năng nghe và nói tiếng Nga nhưng cũng đủ các môn như địa lý, lịch sử, văn chương, chính trị. Giáo trình phát cho sinh viên, Phục lật xem rất nhanh và phát hiện cũng rất nhanh: “Địa lý, sử sách, văn chương ráo trọi đều nói về người Nga, nước Nga thôi. Không một dòng nào đả động đến văn hóa văn minh thế giới cả. Thế nghĩa là làm sao?” - Phục lưu ý chúng tôi. Ở Moskva đâu đó chừng ba tuần, Phục mua một tấm bản đồ thành phố Moskva về mở rộng trước mặt chúng tôi để có thêm một phát hiện nữa: “Người Nga tự hào coi Moskva là trung tâm văn hóa của nhân lọai. Các cậu xem này, đến ông Paven Coorsaghin, bà Doia Cosmedienskaia còn được đặt tên cho đường phố. Thế mà đố tìm ra một bức tượng, một dãy phố nào mang tên Xervangtet, Xechspia, Dicken, Huygo hay ông bà Quyri?”.

Nhưng điều khiến Phục buồn bã, nghĩ ngợi nhiều hơn cả có lẽ là tình trạng “cứu đói khẩn cấp”- như mấy chữ Phục thích dùng dạo đó, của lưu học sinh, nghiên cứu sinh người mình ở Moskva. Sáng lên lớp, trưa ăn nguội ở búyphê, ngay sau đó túi nải khóac vai, như một đàn kiến tha mồi, chúng tôi đã vội vã sục sạo các ngõ ngách Moskva để lùng hàng; hoặc tới các khách sạn có người quen từ Việt Nam sang để bán hộ hàng kiếm chút lời, hoặc nhờ vả để gửi hàng về cho người thân trong nước. Còn phải 3,4 năm nữa người Việt lao động xuất khẩu mới sang bên này, nhưng việc mua bán, nhận hàng sang gửi hàng về nhà đã trở nên họat động sôi sục, năng động và thiết thực nhất của sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam. Bởi một lẽ đơn giản: gửi về được tới Việt nam cứ 5 cuốn phim “Svetma” Nga bán đi đã bằng một tháng lương, một chiếc bàn là Nga bằng 4, 5 tháng lương của cha mẹ, vợ con mình. Mà ở quê hương thì đang đói, đang thiếu đủ mọi thứ. Từ mảnh vải hoa, chiếc soong nhôm, cái phích đựng nước đến sợi mayso, cái kim khâu, cục xà phòng đen, nắm bùi nhùi bằng thép để cọ bựa cơm trong nồi… Cái gì gửi được về Việt Nam cũng đều có giá, đều được cha mẹ, vợ con viết thư sang tỏ ý hỉ hả, mừng rỡ, coi người chồng, đứa con như một người anh hùng, một bậc cứu tinh. Những chàng lính, những cô thanh niên xung phong chúng tôi, thóat chết vì chiến tranh, vội vã lấy vợ lấy chồng, vội vã sinh con để nối nghiệp tổ tông, phải lao vào cuộc mưu sinh này còn là điều hợp lẽ. Đám trẻ hơn, mới 16, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp phổ thông, sang đến đây cũng đã biết bó mồm bó miệng, dành dụm từng đồng rúp học bổng để mua hàng Nga gửi về trợ giúp cha mẹ nuôi đàn em nhỏ. Mua chân gà, cẳng heo (những thứ ở cửa hàng bán từng ký người Nga mua về cho chó ăn) để nấu và đưa ra ngòai cửa sổ giá rét thành thịt đông ăn dần cả tuần với bắp cải luộc. Thay nhau nghỉ ở nhà, rắc gạo rủ chim bồ câu vào phòng, bắt chim để hầm để ninh, để bớt tiền mua thịt thà, bơ sữa. Chứng kiến các em các cháu như đàn kiến tụ vào, tỏa ra ở các cửa hàng cửa hiệu để kiếm một lọai kháng sinh, chiếc đồng hồ báo thức gửi về cho cha mẹ, nghĩ mà tội nghiệp. Đàn chú, đàn anh đã không biết tới tuổi thanh xuân vì bị cuốn vào cuộc chiến; chả lẽ đến lượt các em, các cháu cũng không được sống đúng tuổi hồn nhiên, vô tư của chúng vì miếng cơm manh áo sao đây? Loắt choắt, bé như viên kẹo cũng len lỏi, chen lấn giữa các bà phụ nữ Nga bụng to như cái thúng cái để giành giật mua cho được mươi mét vải láng đen, dăm ba chục mét vải màn. Giữa mùa đông giá rét, các em các cháu tóat mồ hôi, lôi kéo, khênh vác hàng chục thùng gỗ nặng chịch khỏi cửa hàng. Hỏi ra, mỗi thùng chứa khỏang 50 cục xà phòng đen..

Phục không đi “đánh hàng” nhưng dù ngồi ở ký túc xá, tối tối Phục vẫn phải chứng kiến cái không khí hỉ hả, mãn nguyện hoặc than van, ủ dột vì bị làm nhục sau một buổi chiều đi “đánh quả” trở về của đám đồng hương lớn bé. Những lúc như thế, anh thường im lặng, hít hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác và dù râu tóc chưa bạc phếch như bây giờ, nhưng tôi nhớ như in gương mặt anh nhăn nhúm, méo mó y như một quả táo khô. Nhớ một lần, sang chơi bên Nhạc viện Chaikovsky về, Phục bỏ cơm, chăn trùm kím đầu, tôi đã ngỡ anh bị cảm lạnh. Nằm lâu lắm, Phục hất chăn ra. nhỏ giọng nói với tôi: “Thằng K, thằng H bên ấy hôm nay nói thẳng vào mặt mình: Học hành, nghiên cứu làm gì. Hãy vứt ráo sách vở vào sọt rác mà đi buôn thôi! Đã tới thời buổi thằng nào nhiều tiền, thằng ấy là thống sóai! Có tiền thì bằng cấp, chức tước, tiếng tăm, thậm chí đến quyền lực cũng mua được tất. Có đúng là đã xuất hiện thời buổi ấy rồi không, ông?”.

Có thể vì bức tranh ảm đạm của người Việt ở Moskva như vậy mà Phục nằng nặc xin về nước?…

3- Trở về với chuyện “Tại sao họ lại giống mình thế ?”. (Sau này, khi tâm sự với một anh bạn Nga, anh ta sửng sốt hỏi lại chúng tôi: “Tại sao chúng tao giống chúng mày a? Phải ngược lại chứ! Chúng mày giống chúng tao mới phải. Thi hào Pushkin chẳng từng nói: Tất cả đều từ ống tay áo này mà bay ra là gì?).

Phục tìm đâu được quyển Điều lệ của Đòan Comxomon (Đòan Thanh niên Cộng sản) Liên Xô quăng cho chúng tôi. “Đọc ngay phần mở đầu thôi! Có phải trong ấy ghi Đòan thanh niên là cánh tay, đội hậu bị của Đảng không? Chả lẽ các bậc tiền bối của chúng ta chỉ là những người dịch tồi thôi à?”.

Thời gian đầu, sinh viên Việt Nam Khoa dự bị tiếng Nga được bố trí ở tầng 3, tầng 4. Ít lâu sau bị dồn hết lên tầng 8- tầng cao nhất, cùng với sinh viên các nước châu Phi. Lý do đơn giản, vì sinh viên Việt hay mang nước mắm đi lại trong tháng máy, hay nướng chân gà, chân giò heo trong khu bếp chung - những mùi vị mà người Tây rất dị ứng. Ở đầu thang gác lối xuống tầng dưới có treo một tấm pano dán ngay ngắn chừng trên 20 tấm bưu ảnh về đời sống và họat động cách mạng của ông Lê Nin. Một buổi sáng, trên tấm pano ấy có ai bóc lấy đi 4 tấm. Những ô trống quả là nom như những con mắt mù. Buổi chiều, ông phụ trách người nước ngòai -một sỹ quan Hồng quân cấp tá thời chiến tranh - bỗng triệu tập tất cả sinh viên Việt Nam trong một cuộc họp. (Tôi xin nói ngay, tất cả những cựu sỹ quan Liên Xô đã từng tham gia Chiến tranh cứu nước năm 1941-1945 như ông phụ trách chúng tôi và những người chúng tôi có dịp làm quen sau này, đều rất nhân hậu, rất thương yêu, tôn trọng sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam nói chung, cánh lính chúng tôi nói riêng. Đối với đám sinh viên là lính chúng tôi, điều đầu tiên các cựu binh Nga thường quan tâm là, vấn đề tiếp tục việc học hành và giải quyết công ăn việc làm cho các quân nhân Việt Nam sau chiến tranh ra sao? Bởi theo họ, đây từng là vấn đề đeo đẳng lâu dài và làm đau đầu xã hội Xô viết nhất hàng chục năm sau khi chiến tranh kết thúc). Tôi còn nhớ rõ, sau khi ông già cựu binh người Nga phụ trách Khoa dự bị tiếng giải thích lý do triệu tập cuộc gặp mặt, Phục là người giơ tay đầu tiên cật vấn, đại ý: Tại sao ở đầu bên kia tầng 8 có rất đông sinh viên châu Phi mà mất mấy tấm bưu ảnh Lê Nin, ông lại triệu tập riêng sinh viên Việt Nam? Đợi Phục nói dứt, ông già Nga mỉm cười hiền lành trả lời: “Nếu các sinh viên châu Phi mà yêu ông Lênin đến như vậy, chúng tôi thật mừng! Các bạn Việt Nam cứ bình tĩnh góp ý với nhau, làm như thế là không văn hóa đâu!”. Hôm sau, họp riêng Việt Nam, chúng tôi tìm ngay ra, thủ phạm là một em sinh viên quê Nghệ An đã bóc bốn bức bưu thiếp Lênin để gửi về quê cho cha mẹ. Còn lý do à? Đơn giản lắm. Để bớt được vài chục xu mua 4 tấm bưu ảnh - số tiền ấy có thể mua 2 cái bắp cải. Tối ấy Phục lục xục trong chăn mãi không ngủ, khói thuốc lá phun kín căn phòng, anh cười nói với chúng tôi: “Cái anh vô sản ViệtNam yêu lãnh tụ Lê Nin quả là theo đúng cách Việt nam!”.

Một chuyện khác. Gần ký túc xá của chúng tôi có một khuôn viên nhỏ trồng cỏ xanh, xây mấy chòi ngồi nghỉ, mấy cái đu bập bềnh giành cho bọn trẻ nhỏ. Những buổi chiều tôi không đi dạo phố xá lùng hàng, Phục thường rủ tôi ra đấy ngồi. Ở nơi này chúng tôi đã kết bạn với một ông già, cựu binh Nga. Ông già Nga thường ra đây chơi với cậu cháu nội, tên Xêriogia, bẩy tuổi. Cậu bé ưa trò sưu tầm tem. Một lần, nhận thư vợ từ Hà Nội gửi sang, tôi bóc khéo con tem vẽ anh bộ đội Việt Nam, tay cầm khẩu AK đứng dưới lá cờ Tổ quốc mang tặng Xêriogia. Dĩ nhiên chú bé Nga rất thích con tem này. Ngắm nghía con tem một lúc, chú bé Nga thản nhiên nói với ông nội và hai đứa tôi: “Người là của các ông. Vũ khí là của chúng tôi!”. Tôi và Phục thật bất ngờ. Ông cựu sỹ quan Hồng quân lúng túng, ngượng ngùng hồi lâu, mãi một lúc sau mới nói được: “Tôi xin lỗi hai anh. Ông bà nội ngọai nó, bố mẹ nó không bao giờ dạy nó như vậy cả. Nhưng còn ở nhà trường và xã hội…”. Trên đường trở về ký túc, Phục ngúc ngắc đầu rên rẩm: “Thật không thể nào hiểu nổi! Thật không thể nào …”.

Câu chuyện kể về Phục hình như đã quá dài. Trước khi kể nốt hai mẩu chuyện cuối, nên chăng lặp lại điều đã nói. Phục hiểu sâu sắc và đánh giá rất cao nền văn hóa Nga của Pushkin, Lev Tolstoi, Repin, Levitan, Turgenev, Chekhov…Anh nhiều lần nói với tôi: Văn học hiện sinh Tây Âu được khởi nguồn bởi chính ông già điên họ Đốt. Với chế độ Xô viết cũng thế. Phục nói, nuớc Nga hồi cuối thế kỷ 19 thường bị phương Tây coi thường như xứ sở của những gã nghiện rượu, suốt mùa đông ngủ li bì trên lò sưởi đắp đất. Công lao ông Lênin là ở chỗ, ông ta đã quất roi vào đít những gã mudic lúc nào cũng say bí tỉ ấy, ép họ tới làm việc ở các công trường cộng sản. Do vậy nước Nga vượt qua được đói nghèo của những năm Tân kinh tế, thực hiện điện khí hóa tòan quốc để rồi lập nên hai kỳ tích Mỹ, Anh, Pháp phải cúi đầu bái phục: đánh thắng bọn phát xít Đức và phóng ông Gagarin lên vũ trụ. Vốn tính nhậy cảm kết hợp với một bộ óc thông minh, cặp mắt quan sát nhanh nhậy hiếm có, Phục dị ứng rất nhanh với cái đơn điệu, tẻ nhạt, với thứ trì trệ, ngưng đọng, với bệnh công thức, giáo điều của xã hội Nga - những gì mà sau này trong thời kỳ Đổi mới chính người Nga đã lên án gay gắt. Phục từng áp tải xàlan chở gạo, đường, mì chính từ cảng Hải Phòng ra vào tiếp tế cho các tỉnh phía nam khu IV cũ trong những năm máy bay phản lực, hạm tầu Mỹ phong tỏa gắt gao vùng biển miền Bắc. Anh từng theo du kích Gia rai, Edê ra phục kích xe giặc trên đỉnh đèo Măng Giang, từng đạt kỷ lục vác bao gạo nặng nhất từ các làng ven biển miền Trung, len lỏi qua các đồn bốt, các chốt phục kích của bọn Mỹ lên chiến khu để cứu đói cho đồng chí dồng đội. Phục không từ nan hiểm nguy, gắn bó từng vui buồn, âu lo với cuộc sống của bà con dân thường, bộ đội, du kích ở những vùng chiến sự ác liệt nhất. Không hút sách, không trai gái chơi bời, không thu vén bất cứ thứ tài sản gì cho bản thân khi sống ở các đô thị miền Nam sau ngày giải phóng. Giống như tất cả anh chị em cùng thế hệ mình, trong kiệt cùng những chịu đựng, những cố gắng và sự tự hòan thiện mình như thế chỉ để mong được kết bện máu thịt với xứ sở của mình, dân tộc mình, để hiểu ra rằng nhân dân là khái niệm có thật chứ không phải là những bích trương, những tem mác lòe lọet ai đó cố tình trương ra nhắm che đậy những mục đích vụ lợi bẩn thỉu. Sang Nga, Phục quá sửng sốt khi nhận ra người mình sao chép vội vã, không chọn lọc, chưa kịp tiêu hóa những mô hình của Nga; dù quê hương còn lạc hậu, đói nghèo anh phản ứng quyết liệt thái độ kể công hoặc ban ơn của siêu cường; anh không co rúm người, khiếp hãi trước những gì của thế giới văn minh, hiện đại; sau hết anh đau đáu xót xa, phập phồng dõi theo thân phận dật dờ, truân chiên của đồng bao mình chưa kịp hồi phục sau cuộc chiến này đã phải bước vào một cuộc chiến khác…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm