TIN TỨC

Khúc biến tấu “Mặt nạ hương”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-05-01 12:56:46
mail facebook google pos stwis
1043 lượt xem

Đọc thơ, như là phép hóa thân, tan chảy cảm xúc của mình cùng cảm xúc bài thơ. Người đọc lắng lòng theo con chữ, hòa điệu với nhịp điệu của ngôn từ. Tôi may mắn tìm thấy sự đồng điệu đầy hứng thú khi đọc thơ Nguyễn Thánh Ngã.

Hơn thế nữa, Ngã dắt ta vào thế giới của sự bay bổng, thực mà ảo tan quyện nhau. Chỉ có ngôn ngữ của thơ mới có quyền năng và phép mầu làm cho chất thơ lung linh biến ảo lạ thường. Bằng lối viết đầy cảm xúc trong trẻo, với cách “nhấn nhá” khá chắc tay, hồn thơ tung tẩy mà vẫn đọng lại dư ba ngọt ngào, nồng chất thơ và nhạc. Thơ hiện đại đa phần thiếu chất thơ vốn có của thơ. Các nhà thơ dường như mê mãi với sở trường của riêng mình, đôi khi không cần biết đến chất thơ đã bị bào mòn âm thầm. Phải chăng chất liệu của đời sống không còn thơ?

Riêng với nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã, dù viết đề tài nào, Ngã luôn dành phần cho chất thơ sâu lắng…trên cái nền hiện thực có lúc lắm xù xì, gai góc. Nhà thơ có tài là kẻ biết thổi hồn cho con chữ thoát xác bay lên. Đó là dụng công, bản lĩnh làm nên bản sắc của nhà thơ. Chất thơ còn lại của bài thơ là chất xúc tác cho âm nhạc, như một cặp song sinh…

Ngã vừa tung bài lên “fecabook” hôm trước, hôm sau đã có nhạc sĩ phổ thành bài hát… “Mùa hoang/Giọt nước đi hoang/Mồ côi tạt vào khung cửa/Ve sôi, phượng xòe ngón lửa/Mây ơi /Mây vội vàng chi… Tháng tư hoa kèn đã nở/Áo em trinh nguyên ngày nọ/Mưa ơi, có còn long lanh/Dòng sông có còn trong xanh/Đò xưa, con đường bến chợ/Chỉ còn em, và nỗi nhớ… Mây ơi/Mây vội vàng chi…”(Vội vàng mùa hạ)

Một nỗi gì xa vắng, một chút gì mong manh tìm về như “đòi nợ” nhà thơ, quá khứ đi qua còn đọng lại. Cảm giác đó làm sao diễn đạt cho thật nồng nàn sâu lắng? Khi sự đồng điệu tìm thấy nhau, nhạc sĩ đã chấp cánh cho bài thơ “Vội vàng mùa hạ” thành bài hát. Bằng những quãng âm cao vút như khoét vào hồn ta nỗi thảng thốt về không gian, thời gian , kiếp người thăm thẳm… không thể diễn tả hết bằng lời, chỉ có âm thanh cộng hưởng làm cho giai điệu bài hát càng cuốn hút, mê hoặc…với điệp khúc “mây ơi, mây vội vàng chi” như câu hỏi tưởng vu vơ lại đầy ám ảnh!

Từ một điểm nhìn còn mơ hồ, bằng sự nhạy cảm riêng, Ngã đã “kiến trúc” cho đường nét ngôi nhà thơ thành hình, định dạng. Từ những “miền hoang” xa khuất trong đường biên của trí tưởng đến muôn mặt đời thường. Ý thơ được khái quát, lạ hóa một cách nhẹ nhàng, tránh sự tẻ nhạt theo lối biên chép kể lể… Nếu bài thơ không có “năng lượng”, bạn đọc dễ bị chán; như trong cuộc chạy đua không được tiếp sức; nó không có khả năng giữ bạn ngồi lâu, dù bàn tiệc ngôn ngữ dọn ra lắm sắc màu. Bài thơ khả dĩ làm ta ám ảnh bởi một nửa chưa định dạng; một nửa còn phôi thai, vừa dư ba vừa dư hương…

Trong thơ, ngôn ngữ luôn có tính biểu tượng hai mặt. Nhà thơ dụng công cài đặt đa tầng đa nghĩa. Và với trường liên tưởng rộng, bài thơ có nhiều đáp án… Đây là thơ có khả năng “hầu chuyện” bạn đọc lâu dài. Ngược lại là thơ nông; đọc xong là xong!

“Mặt nạ hương” là tập thơ thứ 8 trong gia tài thơ của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã. Chính sự sáng tác đều tay cũng góp phần làm nên “thương hiệu” nhà thơ. Trời cho Ngã tâm hồn thi sĩ đích thực, thơ theo từng bước đường, Ngã chưa lúc nào bỏ cuộc trên hành trình tìm kiếm chính mình, tìm về chính mình, bằng ngôn ngữ hiện đại, luôn tìm cách bứt phá đến với cái mới lạ trong cách nhìn, cách thể hiện.

Chưa có nhà thơ nào tỏ lộ về cách viết của mình trong cách thể hiện hình thức bài thơ, ví dụ như : Khi chữ đầu dòng không viết hoa; phải chăng ngầm thông diễn những chi tiết còn tiếp tục khai mở; làm cho ta có cảm giác ý thơ còn vương vấn đâu đó chưa thể nói hết?…

Câu thơ không dàn ngang mà xuống dòng như nét chấm phá đột biến. Ở đó chữ như bơi, như lặn, như mọc, lúc sáng, lúc tối, khi là đường , khi là nhà, khi tròn khi khuyết…

mặt em

mọc từ vầng trăng mẹ

tròn khuyết thâu canh

đôi mắt em bơi

đôi môi em lặn

vào thính giác cô đơn

mẹ khâu giấc mơ mặt nạ

đắp khuôn trăng

rong ruổi khắp bầu trời tối sẩm

ánh sáng em là đường

nỗi nhớ em là nhà

nhưng trái tim em là hương

lan tỏa một tình yêu lặng lẽ…

(Mặt nạ hương)

Mỗi loài hoa luôn mang một sắc thái biểu cảm khác nhau. Sắc là của hoa; màu là  góc nhìn mỗi người phối trộn riêng nên phải chăng vô tình hoa mang “mặt nạ” khác nhau? Theo cách diễn tả riêng của mỗi người?

Hương là nguyên bản thẳm sâu, bởi hương không tạo dáng mà thắm đẩm cốt cách dâng hiến thiêng liêng. Khúc biến tấu giữa hoa – hương luôn kỳ thú và huyền ảo! Bãng lãng trong không gian một làn hương, một tình yêu lặng lẽ. Lặng lẽ bởi hương vốn không ồn ào, ta nhận ra hay không nhận ra, hương cũng âm thầm tự tan mất. Mặt nạ có nhiều(…), hương chỉ là hương? Đó là giá trị đích thực của hương! Hay cũng chính là giá trị tiềm ẩn của tâm hồn? Bởi con người được ví như “hoa của đất”. Đó là ẩn dụ sâu xa,ý vị của bài thơ.

 Nếu sự cảm của người đọc trùng khít với ý của nhà thơ, đó là sự đồng điệu thâm sâu. Nếu không, có khi lại mở ra tầng liên tưởng khác, không kém phần thú vị dành cho người đọc được quyền khám phá, nhằm mang lại khoái cảm thẫm mỹ riêng. Thơ luôn khát khao tìm kiếm không gian mới. Mỗi bài thơ là một thể nghiệm đầy ám ảnh… để chạm vào “những quặng nghĩa nằm trong lòng chữ”; “quặng nghĩa sẽ dâng cho đời tầng vỉa hương thơm”.

Nhưng lạ thay! trong niềm vui sáng tạo, sau khi đã leo lên tận đỉnh; thơ quay về hòa nhịp với tiết tấu dưới chân mình. Sau khi hành hương xuyên cõi mộng; thơ mới ngộ ra “thi tánh” lòng mình. Sau khi bung tỏa cảm xúc; thơ lại thích lắng yên trong ngôi nhà minh triết để “thu hoạch” những “giấc mơ”… “Giấc mơ của người gieo trồng là mùa thu hoạch/Giấc mơ của ngôn từ là ý nghĩa của đau thương/Núi đau thương sẽ hút những gì quăng ra khỏi nó/Nếu không ra ngoài quỹ đạo của Tình yêu” (Từ trường chữ)

Điều đáng quý còn lại của thơ Ngã là chất thơ còn đọng lại cho mỗi câu thơ, ý thơ… như món quà tặng bạn đọc. Ngã không làm người đọc thất vọng khi kết thúc bài thơ của mình; luôn gởi gắm một điều gì đó như lời bộc bạch thân tình “Nhờ tưởng tượng thơ luôn bắt đầu mà không có kết thúc…” ; “người thở /hay hơi thở/mà tiếng thở dài/cột vòng quanh trái đất…”

“Ngạc nhiên”  Ngã âm thầm phát hiện ra vấn đề khi một lần vô tình chạm trán với cánh cửa kính trong suốt.Ta có lần cũng bất ngờ như thế trong đời, rồi xuýt xoa bỏ đi. Riêng Ngã có bài thơ để lại, còn tinh ý nhận ra một vật cản đáng sợ hơn: đó chính là cái vô hình không thể gọi tên, quy kết… “bước vào quán cà phê/trán tôi đập vào cửa kính trong suốt/ngạc nhiên!/và ngạc nhiên khiến tôi chợt hiểu/có những vật cản nhìn thấy/có những vật cản không nhìn thấy trong đời…”(Ngạc nhiên)

Có lần cùng trò chuyện về thơ, tôi nói lời nhận xét chủ quan: “Thơ bây giờ dường như đã mất giá”. Ngã không ngần ngại đáp lời tôi như một phản đề: “Thơ vô giá chứ ”! Bởi xét cho cùng, giá trị vĩnh cửu của thơ ca biết lấy gì cân, đong, đo, đếm để so sánh? khi thơ cũng là thú chơi tao nhã sang trọng, trí tuệ, rất riêng; vậy thì tất cả đều bình đẳng trong cuộc chơi này. Ngã không bao giờ tuyên ngôn, lập thuyết cho thơ phải thế này, thế nọ. Ngã tuyên ngôn bằng chính bài thơ của mình. Đó là cách định nghĩa về thơ hay nhất, thuyết phục nhất. Người làm thơ, hầu như ai cũng có thể đúc kết kinh nghiệm về tiêu chuẩn bài thơ hay. Nhưng làm được bài thơ hay lại là chuyện khác.

 Bài “Lời tụng ca vết thương” đã vỡ lẽ điều ấy:

“sợi chỉ đã chịu đóng đinh vào da thịt con người/ngậm nỗi đau mà không oán trách/bị vất vào sọt rác mà không oán trách/sự thầm lặng của chữ cũng vậy/nghĩa chữ xuyên thời gian/xác chữ còn nằm trong hố thẳm ngôn từ/có khi cũng là sợi chỉ mong manh”. Vâng! Sợi chỉ mong manh có thể cứu được mạng người, khi nó biết khâu lành vết thương “cho niềm tin kéo da non”. Không ngoài nghĩa ấy, “nghĩa chữ” xuyên thời gian, có khả năng xoa dịu tâm hồn.  Như con tàu khát vọng vượt mọi cách ngăn “kết nối đôi bờ da thịt”; như một nghi lễ, cho thơ tụng ca vết thương!

Cảm ơn đời với những cơn đau cho thơ phát lộ; là đường băng cho thơ cất cánh. Nỗi đau là nhân, thơ là quả! Chính lúc này ta mới hiểu vì đâu “Thơ vô giá”!

Vũ Tuấn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm