TIN TỨC

Lại nhớ Tết xưa | Nguyễn Minh Ngọc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-06 16:13:00
mail facebook google pos stwis
4779 lượt xem

NGUYỄN MINH NGỌC

Dường như khi bắt đầu luống tuổi, người ta thường hay sa vào hoài niệm, mà giới trẻ nếu không thấu hiểu thì dễ cười nhạo, thậm chí cho rằng ấy sự “lẩn thẩn” của các cụ bô, âu đó cũng là chuyện thường tình. Bởi mỗi thế hệ có một cách nghĩ, cách cảm riêng, ấy là chưa nói đến quan niệm nhân sinh. Có điều, những gì đáo qua cuộc đời mỗi con người, cho dẫu ngọt ngào hay đắng đót thì đều để lại chút dư vị bồi hồi. Trong nhiều sự kiện bề bộn của một đời người, có lẽ mỗi dịp Tết đến, xuân về, thường để lại những kỷ niệm khó quên nhất, lắm khi nó cứ dai dẳng và ám ảnh mãi không thôi.

Ngày tôi còn bé, ở vùng quê Đức Thọ (Hà Tĩnh), bên dòng Lam, càng về cuối năm, thời tiết hay trở nên đỏng đảnh, hanh hao, cóng rét, thất thường tựa như một ả đàn bà góa. Vòm trời u ám, xám ủng, như thể mặt ai đó đương sa sầm ngó xuống trần gian vậy. Cây cối thi nhau rào rào trút lá, những hàng xoan gầy guộc chỉ còn trơ lại cành khẳng khiu, chọc thẳng lên trời. Chỉ vườn rau với những su hào, cải bắp, rau diếp, hành ngò… trên đất phù sa mỡ màu là mướt mát xanh, bất chấp giá lạnh. Rồi khi mưa phùn gió bấc tràn về, lạnh tái tê, rét từ trong ruột cuộn ra. Có manh áo tấm quần cũ kỹ nào người ta bèn đem ra “diện”, bởi vải càng dày thì càng hữu dụng. Nhớ câu “No cơm tấm, ấm áo vá” là vậy. Ngắm chiếc áo bông chần ô quả trám, cũ sờn, bợt bạt của người già, mới thấy thương, thấy tội. Vậy nhưng đâu phải ai cũng có. Lắm người hễ ra đường là khoác áo tơi dày cộm để gió khỏi quật ngã. Dễ bắt gặp những cặp chân trần mốc thếch như da bụng rắn vì giá rét, tóp teo lồ lộ trong làng, ngoài ruộng. Có lẽ đó là những nét không thể giấu vào đâu của một thời khốn khó, đói ăn, thiếu ấm. Cổ nhân có câu “bụng đói cật rét”. Khi ông “anh ruột” lép kẹp, thì chừng như giá lạnh càng được thể hoành hành ác liệt, ngồi đâu cũng thấy co ro!

Quanh năm ăn đói, thức ăn chủ lực là “dưa cà… dưa cà, nhút”; còn mặc thì phong phanh, nên lũ trẻ như tôi thời ấy chỉ mong mỗi dịp nhà có giỗ chạp hay Tết nhất. Vì những lúc ấy nếu không được chén “thả ga”, thì chí ít cũng có chút chất tươi chấm mút, thêm miếng thịt, miếng cá ấm chân răng. Và cảm thấy đời “thung thướng” đến vậy. Ấy là cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” thì nghĩ thế, có biết đâu để có được một cái tết đúng nghĩa thì mẹ tôi đã phải lo đến thắt cả ruột gan. Thành thử năm nào cũng vậy, cứ vào dịp đầu tháng Chạp, mặc dù đương bận rộn cắm mặt ngoài ruộng lo gieo cấy vụ đông xuân, rét cóng xương, tê tái, nhưng về đến nhà, có lúc thấy mẹ tôi ngồi thừ ra trên bậu cửa, mắt nhìn xa xăm, đăm chiêu. Hình như có tiếng thở dài nén lại.

Sau này lớn lên, dần dà tôi mới hiểu cái câu thành ngữ: “Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo”. Để có được một cái tết tươm tươm một chút thì mọi thứ phải được chuẩn bị từ sớm theo kiểu “kiến tha lâu đầy tổ”. Ăn nhau ở vai trò bà nội tướng - nhạc trưởng “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Ai biết lo toan và vén khéo thì chồng con được nhờ và ngược lại. Hằng năm, cứ ra giêng nhiều gia đình đã phải tính chuyện nuôi lợn, chăn gà, thả vịt, vừa để có thực phẩm sống cân nộp “nghĩa vụ”, nuôi bộ đội và các cơ quan đoàn thể, bù lại xã viên chỉ được trả bằng công điểm, đến mùa vụ thì nhận vài chục cân thóc. Nhưng trong số cả đàn gia súc gia cầm ấy, thể nào người ta cũng phải chọn một chú ỉn dành để vỗ béo, chờ cận tết thì mấy nhà hàng xóm bàn nhau đụng thịt để gói bánh chưng, giã giò, đánh tiết canh, làm món dồi, món luộc, rồi hấp, nấu đông, lấy xương hoặc chân giò ninh măng miến… Nói vậy chứ nếu hộ nào chưa “tròn” nghĩa vụ với ông nhà nác mà dám cả gan chọc tiết lợn… eng éc, thì đừng có giỡn mặt nhé. Chỉ đám gà qué là được “xử” tự do thôi, nhưng đừng tưởng lúc nào cũng có thể “lên đĩa” nhé. Nhà nghèo, đâu dám ăn “sang”, còn phải cắc củm mang ra chợ, bán kiếm tiền còm, sắm sanh thứ khác chứ. Ấy là chuyện nuôi nấng bình thường, chớ không may gặp trận dịch, gà toi cả lũ, thì coi như khóc ròng! Ai giỏi, khéo thiến được cặp gà trống, nuôi béo mầm, thì có thể yên tâm. Vừa có gà cúng tất niên, vừa có thịt gà chén ba ngày tết, không ngán. Ngoài ra, người nào siêng thì ra đồng kiếm thêm mớ tôm, tép, xúc mớ cá vụn; sang hơn thì úp nơm kiếm mớ con rô, ít con trắm, hay vài con diếc, con tràu (cá lóc), hoặc thả trúm kiếm ít lươn mang về nữa thì có ba bữa Tết xông xênh rồi.

Thời chiến tranh phá hoại, hầu hết các vùng nông thôn khu Bốn, người dân đều vào hợp tác xã nông nghiệp. Nhưng rồi cái kiểu cứ đánh kẻng ghi tên, cơm vua ngày giời, tới đâu thì tới chả chết ai. Thì vẫn “bờ xôi ruộng mật” ấy thôi mà sao vẫn “cặm cụi” làm lụng mà chẳng nên ăn, cứ vêu vao, đói dài! Biết vậy, nhưng chả biết kêu ai. Đành tranh thủ mò thêm giỏ cua, cáy, hay ra sông cào hến cho lành. Khi mà quanh năm ngày tháng sống dưới tầm bom rơi đạn vãi, thú thật chả mấy ai dám nghĩ sẽ đón năm mới thế nào. Bởi mạng sống của con người mong manh lắm, chỉ cần nghe tiếng gầm rú của đàn quạ phản lực Mỹ thôi, ngồi dưới hầm kèo chữ A hay đường hào giao thông, trước tiên, ai cũng chỉ cầu trời khấn Phật sao cho làng quê mình, gia đình mình được bình an là đủ. Nên chi cái việc lo Tết bị hạ xuống hàng thứ yếu. Nhưng nói vậy, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì cũng không ai dám nghĩ chuyện “tiêu cực”, phó mặc rồi bỏ bê chuyện tết nhất, cúng kiếng tổ tiên, ông bà. Bởi Tết Nguyên đán là dịp khép lại năm cũ, mở đầu cho một năm mới. Nên bao giờ cũng hết sức thiêng liêng và trọng đại trong tâm thức mỗi người Việt, cho dẫu có ở tận chân trời góc biển nào đi chăng nữa! Nhưng nỗi lo cơm áo luôn đè nặng lên đôi vai của phụ nữ, các bà nội trợ bạc mặt toan tính. Này nhé, ngoài phần “cứng” là khoản thực phẩm “nhà trồng được” thì mỗi lần đi chợ phiên, mẹ tôi phải khởi động việc tích cóp hàng tết dần từ độ tháng mười âm lịch, chứ không đợi vô một chạp mới mua. Mẹ cứ lẳng lặng sắm dần. Có khi gồng một gánh rau, củ, quả trĩu trịt ra chợ, chỉ thu được một nắm tiền lẻ nhàu nát, chả dám mua đồng quà tấm bánh cho con, nhưng bao giờ cũng nhớ liễn trầu xanh óng, chùm cau với khúc rễ chay về cho bà nội tôi. Thường khi mua sớm, thì tất nhiên giá cả có mềm hơn chút đỉnh, lại tha hồ lựa chọn. Từ ít măng khô lưỡi lợn, đến vào bó miến dong, rồi nấm hương, mộc nhĩ, hạt tiêu…

Kiến tha lâu cũng đầy tổ. Đến giữa tháng Chạp, khi mọi thứ đã hòm hòm đâu vào đấy, mẹ tôi vẫn còn kiểm đếm xem còn thiếu thức gì để bổ sung trong phiên chợ cuối năm. Hầu như lúc này, chỉ còn mua vài bó lá dong với ống giang chẻ lạt gói bánh, gói giò, thêm ít hương trầm nữa là đủ. Kiểu gì, thì ba ngày Tết cũng phải có nồi măng hầm chân giò, đây là món chủ lực. Sau khi mổ lợn, có thịt làm nhân, mẹ tôi hông đậu xanh chà rồi lấy ra vo từng nắm, thì cha tôi trải nong ra giữa nhà tự tay gói. Chẳng cần khuôn, ông gói bộ vậy mà mười chiếc như một chục, thảy đều vuông chằn chặn và chắc khừ. Xếp lên nhau nom đến là thích mắt. Bao giờ, ông cũng dành ra gói một vài cái bé tẹo, gọi là bánh “đầu đày” dành cho lũ con được nếm ngay khi nồi bánh chín. Đó là một cái thú mà các đấng sinh thành thường dành cho con cái. Cứ chập tối hăm tám hoặc hăm chín thì kê đá, quây chắn gió rồi chất củi gộc, nhóm bếp, bắc nồi bánh chưng. Lửa hực suốt đêm, cánh đàn ông con trai thay nhau canh nồi bánh sôi sùng sục, vừa để châm nước thêm, vừa gạt than bắc ké nồi măng ra bên cạnh. Có khi giải chiếu tụm nhau chơi tú-lơ-khơ hoặc đánh tam cúc để giết thời gian. Gần sáng thì rút bớt củi, đến tinh mơ mới vớt bánh. Đem dúng nhanh vào chậu nước sạch, lấy ra xếp lên bàn, kiếm miếng ván đậy lại, rồi chất cối đá hay vật nặng bên trên để ép bánh cho kiệt nước, có vậy thì bánh chưng mới rền. Kịp chiều 30 thì có bánh sắp lên thờ tổ tiên và cúng tất niên. Cái nếp ấy, thời yên hàn hay cả lúc giặc giã chiến tranh vẫn vậy. Gói bánh chưng đi liền với giã giò để kịp bắc nồi luộc. Món này chỉ đàn ông lực lưỡng, khỏe tay mới làm nổi. Thịt nạc sau khi lọc hết mỡ, thái quân cờ cho vào cối đá, rắc tiêu, rồi quết. Hai tay, hai chày gỗ, cứ thi nhau giã phùm phụp liên hồi kỳ trận, tới lúc thịt sánh nhuyễn, dẻo mệt thì dừng. Véo một chút đưa lên mũi, nghe mùi thơm là được. Quê tôi, khi giã giò, thường người ta hay bỏ thêm ít bột nếp, bột gạo trộn đều, để khi quết thịt tăng thêm độ dẻo, độ dính. Có dạo, tôi cứ thắc mắc, nghĩ hay tại quê mình nghèo nên độn thêm vào giò cho nhiều chăng? Tôi lấy làm lạ, hỏi thì cha tôi bảo không phải như con nghĩ đâu. Đói no chi cũng ba bữa Tết, chẳng lẽ ngả cả con lợn vài chục cân, lại thiếu thịt chắc? Và sự thật, khi cầm miếng giò mịn màng đưa lên miệng nhấm nháp, đọng lại nơi cần cổ, có đủ dư vị thơm, bùi, béo ngậy... và dai.

Thời ấy làm gì có tủ lạnh, tủ cấp đông, một cây giò nếu ăn sẻn được cả tuần mà vẫn không hề giảm hương vị. Hóa ra mỗi nơi người Việt bất kể giàu nghèo đều có một bí kíp riêng trong nghệ thuật ẩm thực. Rồi tục chặt tre dựng cây nêu trước Tết, nam thanh nữ tú thì chơi đu quay, hoặc ném vòng cổ vịt, hát đối đáp… Con nít thì xúm nhau đánh đáo, túi rủng rỉnh những đồng xu. Nhưng thời đạn bom ì ùng, ai nấy lo củng cố hầm hào để giữ cái mạng sống trước nhất. Nếu có được khoảng trống do ngưng bắn thì chuyện chơi vẫn bị xếp sau chuyện ăn. Rồi kinh tế eo hẹp, việc ngăn sông cấm chợ, hàng hóa khan hiếm, thứ gì cũng phân phối và xếp hàng, nên chẳng mấy ai còn tâm địa nào mà nghĩ đến chuyện lễ, chuyện hội. Nhiều trò chơi dân gian cứ thế dần mai một. Giờ đây, nhắc chuyện tết tư ngày trước, lớp trẻ giờ khó mà hình dung, sao ông bà ngày trước cơ cực vậy? Xã hội phát triển, kinh tế nở nồi, chả ai còn phải lo tích trữ gom góp như thời ông bà ngày trước. Mọi thức phục vụ Tết bây giờ luôn có sẵn trong các siêu thị hoặc cửa hàng tiện lợi. Muốn gì có nấy, hàng hóa ê hề. Không sợ thiếu, chỉ lo không nhiều tiền! Dẫu không phải ai cũng đều có cuộc sống dư giả, nhưng có lẽ bước sang thiên niên kỷ thứ ba này, không còn mấy người phải bận tâm mong chờ đến Tết để có miếng ăn ngon như ngày trước nữa. Nhu cầu ăn bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Chuyện chơi được chú trọng hàng đầu.

Người ta nghĩ chuyện Tết này sẽ đi du lịch những đâu, đến những nơi chưa đến. Các tour du lịch mời chào, chỉ sợ không đủ sức và tiền bạc để đi mà thôi. Nhưng mối hiểm họa đại dịch còn treo lơ lửng trên đầu, nên nhiều người chọn cách du xuân gần, thậm chí là “án binh bất động” cho lành. Thật khó mà triệt tiêu hoàn toàn Covid-19, chỉ còn cách là chấp nhận sống chung với nó một cách an toàn và thông minh nhất mà thôi. Cho dù có rất nhiều luồng ý kiến bàn luận về việc có nên duy trì Tết Nguyên đán nữa hay không, thì phần đông người Việt vẫn luôn coi đây là dịp thiêng liêng để hướng lòng mình về nguồn cội. Vấn đề là làm sao bảo tồn được truyền thống của ông cha từ ngàn xưa truyền lại, gạn đục khơi trong, coi trọng và giữ gìn những nét đẹp văn hóa. Nhân dịp sắp đón Tết ông Hổ, xin có đôi lời. Gọi là “ôn cố tri tân”! 

Nguồn: Văn nghệ số 4+5+6/2022 (Tết Nhâm Dần)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm