TIN TỨC

Lại nhớ Tết xưa | Nguyễn Minh Ngọc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-06 16:13:00
mail facebook google pos stwis
4560 lượt xem

NGUYỄN MINH NGỌC

Dường như khi bắt đầu luống tuổi, người ta thường hay sa vào hoài niệm, mà giới trẻ nếu không thấu hiểu thì dễ cười nhạo, thậm chí cho rằng ấy sự “lẩn thẩn” của các cụ bô, âu đó cũng là chuyện thường tình. Bởi mỗi thế hệ có một cách nghĩ, cách cảm riêng, ấy là chưa nói đến quan niệm nhân sinh. Có điều, những gì đáo qua cuộc đời mỗi con người, cho dẫu ngọt ngào hay đắng đót thì đều để lại chút dư vị bồi hồi. Trong nhiều sự kiện bề bộn của một đời người, có lẽ mỗi dịp Tết đến, xuân về, thường để lại những kỷ niệm khó quên nhất, lắm khi nó cứ dai dẳng và ám ảnh mãi không thôi.

Ngày tôi còn bé, ở vùng quê Đức Thọ (Hà Tĩnh), bên dòng Lam, càng về cuối năm, thời tiết hay trở nên đỏng đảnh, hanh hao, cóng rét, thất thường tựa như một ả đàn bà góa. Vòm trời u ám, xám ủng, như thể mặt ai đó đương sa sầm ngó xuống trần gian vậy. Cây cối thi nhau rào rào trút lá, những hàng xoan gầy guộc chỉ còn trơ lại cành khẳng khiu, chọc thẳng lên trời. Chỉ vườn rau với những su hào, cải bắp, rau diếp, hành ngò… trên đất phù sa mỡ màu là mướt mát xanh, bất chấp giá lạnh. Rồi khi mưa phùn gió bấc tràn về, lạnh tái tê, rét từ trong ruột cuộn ra. Có manh áo tấm quần cũ kỹ nào người ta bèn đem ra “diện”, bởi vải càng dày thì càng hữu dụng. Nhớ câu “No cơm tấm, ấm áo vá” là vậy. Ngắm chiếc áo bông chần ô quả trám, cũ sờn, bợt bạt của người già, mới thấy thương, thấy tội. Vậy nhưng đâu phải ai cũng có. Lắm người hễ ra đường là khoác áo tơi dày cộm để gió khỏi quật ngã. Dễ bắt gặp những cặp chân trần mốc thếch như da bụng rắn vì giá rét, tóp teo lồ lộ trong làng, ngoài ruộng. Có lẽ đó là những nét không thể giấu vào đâu của một thời khốn khó, đói ăn, thiếu ấm. Cổ nhân có câu “bụng đói cật rét”. Khi ông “anh ruột” lép kẹp, thì chừng như giá lạnh càng được thể hoành hành ác liệt, ngồi đâu cũng thấy co ro!

Quanh năm ăn đói, thức ăn chủ lực là “dưa cà… dưa cà, nhút”; còn mặc thì phong phanh, nên lũ trẻ như tôi thời ấy chỉ mong mỗi dịp nhà có giỗ chạp hay Tết nhất. Vì những lúc ấy nếu không được chén “thả ga”, thì chí ít cũng có chút chất tươi chấm mút, thêm miếng thịt, miếng cá ấm chân răng. Và cảm thấy đời “thung thướng” đến vậy. Ấy là cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” thì nghĩ thế, có biết đâu để có được một cái tết đúng nghĩa thì mẹ tôi đã phải lo đến thắt cả ruột gan. Thành thử năm nào cũng vậy, cứ vào dịp đầu tháng Chạp, mặc dù đương bận rộn cắm mặt ngoài ruộng lo gieo cấy vụ đông xuân, rét cóng xương, tê tái, nhưng về đến nhà, có lúc thấy mẹ tôi ngồi thừ ra trên bậu cửa, mắt nhìn xa xăm, đăm chiêu. Hình như có tiếng thở dài nén lại.

Sau này lớn lên, dần dà tôi mới hiểu cái câu thành ngữ: “Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo”. Để có được một cái tết tươm tươm một chút thì mọi thứ phải được chuẩn bị từ sớm theo kiểu “kiến tha lâu đầy tổ”. Ăn nhau ở vai trò bà nội tướng - nhạc trưởng “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Ai biết lo toan và vén khéo thì chồng con được nhờ và ngược lại. Hằng năm, cứ ra giêng nhiều gia đình đã phải tính chuyện nuôi lợn, chăn gà, thả vịt, vừa để có thực phẩm sống cân nộp “nghĩa vụ”, nuôi bộ đội và các cơ quan đoàn thể, bù lại xã viên chỉ được trả bằng công điểm, đến mùa vụ thì nhận vài chục cân thóc. Nhưng trong số cả đàn gia súc gia cầm ấy, thể nào người ta cũng phải chọn một chú ỉn dành để vỗ béo, chờ cận tết thì mấy nhà hàng xóm bàn nhau đụng thịt để gói bánh chưng, giã giò, đánh tiết canh, làm món dồi, món luộc, rồi hấp, nấu đông, lấy xương hoặc chân giò ninh măng miến… Nói vậy chứ nếu hộ nào chưa “tròn” nghĩa vụ với ông nhà nác mà dám cả gan chọc tiết lợn… eng éc, thì đừng có giỡn mặt nhé. Chỉ đám gà qué là được “xử” tự do thôi, nhưng đừng tưởng lúc nào cũng có thể “lên đĩa” nhé. Nhà nghèo, đâu dám ăn “sang”, còn phải cắc củm mang ra chợ, bán kiếm tiền còm, sắm sanh thứ khác chứ. Ấy là chuyện nuôi nấng bình thường, chớ không may gặp trận dịch, gà toi cả lũ, thì coi như khóc ròng! Ai giỏi, khéo thiến được cặp gà trống, nuôi béo mầm, thì có thể yên tâm. Vừa có gà cúng tất niên, vừa có thịt gà chén ba ngày tết, không ngán. Ngoài ra, người nào siêng thì ra đồng kiếm thêm mớ tôm, tép, xúc mớ cá vụn; sang hơn thì úp nơm kiếm mớ con rô, ít con trắm, hay vài con diếc, con tràu (cá lóc), hoặc thả trúm kiếm ít lươn mang về nữa thì có ba bữa Tết xông xênh rồi.

Thời chiến tranh phá hoại, hầu hết các vùng nông thôn khu Bốn, người dân đều vào hợp tác xã nông nghiệp. Nhưng rồi cái kiểu cứ đánh kẻng ghi tên, cơm vua ngày giời, tới đâu thì tới chả chết ai. Thì vẫn “bờ xôi ruộng mật” ấy thôi mà sao vẫn “cặm cụi” làm lụng mà chẳng nên ăn, cứ vêu vao, đói dài! Biết vậy, nhưng chả biết kêu ai. Đành tranh thủ mò thêm giỏ cua, cáy, hay ra sông cào hến cho lành. Khi mà quanh năm ngày tháng sống dưới tầm bom rơi đạn vãi, thú thật chả mấy ai dám nghĩ sẽ đón năm mới thế nào. Bởi mạng sống của con người mong manh lắm, chỉ cần nghe tiếng gầm rú của đàn quạ phản lực Mỹ thôi, ngồi dưới hầm kèo chữ A hay đường hào giao thông, trước tiên, ai cũng chỉ cầu trời khấn Phật sao cho làng quê mình, gia đình mình được bình an là đủ. Nên chi cái việc lo Tết bị hạ xuống hàng thứ yếu. Nhưng nói vậy, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì cũng không ai dám nghĩ chuyện “tiêu cực”, phó mặc rồi bỏ bê chuyện tết nhất, cúng kiếng tổ tiên, ông bà. Bởi Tết Nguyên đán là dịp khép lại năm cũ, mở đầu cho một năm mới. Nên bao giờ cũng hết sức thiêng liêng và trọng đại trong tâm thức mỗi người Việt, cho dẫu có ở tận chân trời góc biển nào đi chăng nữa! Nhưng nỗi lo cơm áo luôn đè nặng lên đôi vai của phụ nữ, các bà nội trợ bạc mặt toan tính. Này nhé, ngoài phần “cứng” là khoản thực phẩm “nhà trồng được” thì mỗi lần đi chợ phiên, mẹ tôi phải khởi động việc tích cóp hàng tết dần từ độ tháng mười âm lịch, chứ không đợi vô một chạp mới mua. Mẹ cứ lẳng lặng sắm dần. Có khi gồng một gánh rau, củ, quả trĩu trịt ra chợ, chỉ thu được một nắm tiền lẻ nhàu nát, chả dám mua đồng quà tấm bánh cho con, nhưng bao giờ cũng nhớ liễn trầu xanh óng, chùm cau với khúc rễ chay về cho bà nội tôi. Thường khi mua sớm, thì tất nhiên giá cả có mềm hơn chút đỉnh, lại tha hồ lựa chọn. Từ ít măng khô lưỡi lợn, đến vào bó miến dong, rồi nấm hương, mộc nhĩ, hạt tiêu…

Kiến tha lâu cũng đầy tổ. Đến giữa tháng Chạp, khi mọi thứ đã hòm hòm đâu vào đấy, mẹ tôi vẫn còn kiểm đếm xem còn thiếu thức gì để bổ sung trong phiên chợ cuối năm. Hầu như lúc này, chỉ còn mua vài bó lá dong với ống giang chẻ lạt gói bánh, gói giò, thêm ít hương trầm nữa là đủ. Kiểu gì, thì ba ngày Tết cũng phải có nồi măng hầm chân giò, đây là món chủ lực. Sau khi mổ lợn, có thịt làm nhân, mẹ tôi hông đậu xanh chà rồi lấy ra vo từng nắm, thì cha tôi trải nong ra giữa nhà tự tay gói. Chẳng cần khuôn, ông gói bộ vậy mà mười chiếc như một chục, thảy đều vuông chằn chặn và chắc khừ. Xếp lên nhau nom đến là thích mắt. Bao giờ, ông cũng dành ra gói một vài cái bé tẹo, gọi là bánh “đầu đày” dành cho lũ con được nếm ngay khi nồi bánh chín. Đó là một cái thú mà các đấng sinh thành thường dành cho con cái. Cứ chập tối hăm tám hoặc hăm chín thì kê đá, quây chắn gió rồi chất củi gộc, nhóm bếp, bắc nồi bánh chưng. Lửa hực suốt đêm, cánh đàn ông con trai thay nhau canh nồi bánh sôi sùng sục, vừa để châm nước thêm, vừa gạt than bắc ké nồi măng ra bên cạnh. Có khi giải chiếu tụm nhau chơi tú-lơ-khơ hoặc đánh tam cúc để giết thời gian. Gần sáng thì rút bớt củi, đến tinh mơ mới vớt bánh. Đem dúng nhanh vào chậu nước sạch, lấy ra xếp lên bàn, kiếm miếng ván đậy lại, rồi chất cối đá hay vật nặng bên trên để ép bánh cho kiệt nước, có vậy thì bánh chưng mới rền. Kịp chiều 30 thì có bánh sắp lên thờ tổ tiên và cúng tất niên. Cái nếp ấy, thời yên hàn hay cả lúc giặc giã chiến tranh vẫn vậy. Gói bánh chưng đi liền với giã giò để kịp bắc nồi luộc. Món này chỉ đàn ông lực lưỡng, khỏe tay mới làm nổi. Thịt nạc sau khi lọc hết mỡ, thái quân cờ cho vào cối đá, rắc tiêu, rồi quết. Hai tay, hai chày gỗ, cứ thi nhau giã phùm phụp liên hồi kỳ trận, tới lúc thịt sánh nhuyễn, dẻo mệt thì dừng. Véo một chút đưa lên mũi, nghe mùi thơm là được. Quê tôi, khi giã giò, thường người ta hay bỏ thêm ít bột nếp, bột gạo trộn đều, để khi quết thịt tăng thêm độ dẻo, độ dính. Có dạo, tôi cứ thắc mắc, nghĩ hay tại quê mình nghèo nên độn thêm vào giò cho nhiều chăng? Tôi lấy làm lạ, hỏi thì cha tôi bảo không phải như con nghĩ đâu. Đói no chi cũng ba bữa Tết, chẳng lẽ ngả cả con lợn vài chục cân, lại thiếu thịt chắc? Và sự thật, khi cầm miếng giò mịn màng đưa lên miệng nhấm nháp, đọng lại nơi cần cổ, có đủ dư vị thơm, bùi, béo ngậy... và dai.

Thời ấy làm gì có tủ lạnh, tủ cấp đông, một cây giò nếu ăn sẻn được cả tuần mà vẫn không hề giảm hương vị. Hóa ra mỗi nơi người Việt bất kể giàu nghèo đều có một bí kíp riêng trong nghệ thuật ẩm thực. Rồi tục chặt tre dựng cây nêu trước Tết, nam thanh nữ tú thì chơi đu quay, hoặc ném vòng cổ vịt, hát đối đáp… Con nít thì xúm nhau đánh đáo, túi rủng rỉnh những đồng xu. Nhưng thời đạn bom ì ùng, ai nấy lo củng cố hầm hào để giữ cái mạng sống trước nhất. Nếu có được khoảng trống do ngưng bắn thì chuyện chơi vẫn bị xếp sau chuyện ăn. Rồi kinh tế eo hẹp, việc ngăn sông cấm chợ, hàng hóa khan hiếm, thứ gì cũng phân phối và xếp hàng, nên chẳng mấy ai còn tâm địa nào mà nghĩ đến chuyện lễ, chuyện hội. Nhiều trò chơi dân gian cứ thế dần mai một. Giờ đây, nhắc chuyện tết tư ngày trước, lớp trẻ giờ khó mà hình dung, sao ông bà ngày trước cơ cực vậy? Xã hội phát triển, kinh tế nở nồi, chả ai còn phải lo tích trữ gom góp như thời ông bà ngày trước. Mọi thức phục vụ Tết bây giờ luôn có sẵn trong các siêu thị hoặc cửa hàng tiện lợi. Muốn gì có nấy, hàng hóa ê hề. Không sợ thiếu, chỉ lo không nhiều tiền! Dẫu không phải ai cũng đều có cuộc sống dư giả, nhưng có lẽ bước sang thiên niên kỷ thứ ba này, không còn mấy người phải bận tâm mong chờ đến Tết để có miếng ăn ngon như ngày trước nữa. Nhu cầu ăn bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Chuyện chơi được chú trọng hàng đầu.

Người ta nghĩ chuyện Tết này sẽ đi du lịch những đâu, đến những nơi chưa đến. Các tour du lịch mời chào, chỉ sợ không đủ sức và tiền bạc để đi mà thôi. Nhưng mối hiểm họa đại dịch còn treo lơ lửng trên đầu, nên nhiều người chọn cách du xuân gần, thậm chí là “án binh bất động” cho lành. Thật khó mà triệt tiêu hoàn toàn Covid-19, chỉ còn cách là chấp nhận sống chung với nó một cách an toàn và thông minh nhất mà thôi. Cho dù có rất nhiều luồng ý kiến bàn luận về việc có nên duy trì Tết Nguyên đán nữa hay không, thì phần đông người Việt vẫn luôn coi đây là dịp thiêng liêng để hướng lòng mình về nguồn cội. Vấn đề là làm sao bảo tồn được truyền thống của ông cha từ ngàn xưa truyền lại, gạn đục khơi trong, coi trọng và giữ gìn những nét đẹp văn hóa. Nhân dịp sắp đón Tết ông Hổ, xin có đôi lời. Gọi là “ôn cố tri tân”! 

Nguồn: Văn nghệ số 4+5+6/2022 (Tết Nhâm Dần)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm
Chân mây - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Trước khi nghỉ hưu dăm bảy năm. Mình chuyển về phòng làm việc có cửa sổ rộng quay ra mặt hồ. Đó là một hồ nước lớn. Cây cổ thụ xanh mướt vây quanh. Bên hồ là công viên cây xanh nổi tiếng của thành phố. Mùa thu những vòm cây bừng nở những sắc hoa. Khi đó hương hoa ngào ngạt tràn ngập không gian. Hương hoa tràn ngập căn phòng của mình.
Xem thêm