TIN TỨC

Lấp lánh yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-11 08:17:39
mail facebook google pos stwis
3311 lượt xem

Sáng 02/4/2022, nhà văn Thu Trân vừa tổ chức ra mắt tiểu thuyết Thế giới phẳng mùa COVID và Văn chương TPHCM đã có bài phóng sự ảnh về sự kiện vui này. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết đăng trên Văn nghệ Công an của nhà thơ Bùi Phan Thảo.

BÙI PHAN THẢO

“Thế giới chưa bao giờ khiến người ta phải giấu mình như giấu mình trong đại dịch corona… Người ta phải giấu hết nỗi lòng trong cơn dịch bệnh. Sự khủng khiếp. Nỗi kinh ngạc. Những rối loạn âu lo. Hằng hà cái chết đến rất nhanh mà không được nhìn mặt nhau, không được nói lời từ biệt nhau đã khiến loài người khủng hoảng”…

Nhà văn Thu Trân đã viết như vậy trong tiểu thuyết “Thế giới phẳng mùa COVID”, NXB Đà Nẵng, 2022. Những trang viết trong không gian ngột ngạt của phòng cách ly hay đường phố hoang vắng và hình bóng con người khật khưỡng…, đều chất chứa những ám ảnh nội tâm, day đi day lại đến đớn đau tận cùng.

Hai năm đại dịch hoành hành, thời gian dài thành phố phương Nam thực hiện giãn cách xã hội cũng là những ngày nhà văn trải lòng trên trang viết. Viết như chạy đua, viết với tâm thế ghi chép lại, nhận thức lại những bi kịch của loài người qua lăng kính nhà văn, qua hình tượng nhân vật sống động cùng những tâm tư, tình cảm của từng bản thể trong xã hội những ngày không thể nào quên. Không gian trải rộng từ châu Á sang châu Mỹ, từ Trung Quốc về Việt Nam, những con người quốc tịch khác nhau trong những mốc thời gian đặc biệt của lịch sử loài người như đóng đinh số phận. Và đớn đau, hèn yếu, mạnh mẽ, khôn ngoan, khờ dại, lãng mạn hay thực dụng… đều đã phơi bày, qua lối văn trần thuật, hồi ức đan xen thực tại, từ nhân vật tôi kể chuyện đời mình mà xã hội hiện ra, bối cảnh hiện ra như những thước phim chậm rãi, chạm dần vào tâm cảm người đọc.

Tiểu thuyết bắt đầu từ ngay thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Nghiễm Hoàng, cô giảng viên người Việt đã có 20 năm học và làm việc, đưa cha mẹ sang sống cùng tại thành phố này, có người yêu cũng là giảng viên đại học, tên là Khổng Tước. Thành phố lúc đại dịch hoành hành, mẹ mắc bệnh đang điều trị trong bệnh viện; cô và cha bị cách ly tại chung cư, cha ở tầng 17 còn cô ở tầng 20, áp mái. Như một vở kịch trên nền âm thanh là tiếng rú rít của thần chết, từng xác người chất lên xe, vào những lò thiêu hay những mồ chôn tập thể; mặt hồ công viên đóng váng xanh lè và những ngả đường hoang vắng đến rợn người…

Liên lạc với Khổng Tước không được, Nghiễm Hoàng chỉ có thể nói chuyện với cô bạn thân Bạch Tùng ở Sài Gòn để biết tình hình quê nhà Việt Nam cũng đang căng mình chống dịch. Còn ở tầng áp mái bên này, biết tin mẹ mất ở bệnh viện mà cô bất lực, để bệnh viện lo mai táng cho mẹ. Cũng ở nơi cách ly, 5 y – bác sĩ đã chết. Bác sĩ Hoa Hiên, người trốn lên tầng áp mái, chăm sóc người bệnh, trò chuyện cùng cô, rồi cũng chọn cách tự sát. Hình ảnh bầy quạ đen ở công viên khi cô trốn khỏi khu cách ly như một điềm báo xui rủi. Người đàn ông đeo khẩu trang xanh – như một bóng ma mà cũng là một gặp gỡ định mệnh sau này với cô. Khi cô về đến chung cư, cha cô cũng đã qua đời, con gái 15 tuổi xinh đẹp của Bách Hợp – người giúp việc cho gia đình cô, cũng không sống được trong đại dịch. Ở đây, Nghiễm Hoàng gặp lại Khổng Tước rồi quyết định tìm đường về Việt Nam, “không phải đi trốn dịch như người Việt Nam hay nói, mà đi trốn một ảo giác buồn, từ rất nhiều nỗi buồn cộng lại”.

Hình ảnh hàng ngàn chiếc điện thoại chất chồng bên vệ đường, cạnh hồ nước trong công viên cũng là một biểu tượng của những sự sống bị đại dịch tước đoạt. Có người đàn ông đang ngồi trên đống cellphone và hỏi: “Cô có muốn ngồi cùng không”. “Cảm giác ngồi trên vạn cái cellphone của ông thế nào?”. “Tôi thấy những oan hồn, ngoài vùng phủ sóng và không biết đường về nhà”. Ngũ Long, tên người đàn ông đó cũng là người mang khẩu trang màu xanh, chân mày đen và xếch, từng ngồi nướng quạ ở công viên, cô đã từng gặp hôm trốn khỏi khu cách ly…

Chuyến trở về Việt Nam cũng đầy cạm bẫy, dù đã cảnh giác cô vẫn sa vào đường dây của bọn buôn bán ma túy. Cô đã thoát ra được và về Việt Nam, gặp lại Bạch Tùng rồi Bạch Tùng qua Mỹ tìm người yêu và nhận ra sự thật, Bạch Tùng đi tìm lẽ sống mới trên vùng đất mới. Ở đó, cô làm tình nguyện viên chăm sóc người bệnh trong các khu cách ly và bắt đầu tình yêu với bác sĩ Jack. Một bà cụ nhiễm bệnh đã nhường máy thở cho chàng trai trẻ, còn bà chỉ dùng kháng sinh, lúc bà mất bác sĩ Jack đứng cạnh run lập cập. Sau này, khi lập danh sách người bệnh, Bạch Tùng mới biết đó là mẹ Jack.

Rồi qua tự sự của Bạch Tùng và của Jack, người đọc biết cô và Jack đều nhiễm COVID-19. Cả hai kiên cường chống chọi, tự điều trị tại nhà. Nhưng Bạch Tùng đã không qua khỏi, thiên sứ của Jack đã bay đi. “Hy vọng nơi thiên thu ấy, nàng chỉ nhớ và ôm ấp mỗi bóng hình tôi. Chờ ngày tôi về với nàng. Chúng tôi sẽ ngồi với nhau, nhìn qua khu rừng lá kim, nghe tiếng lá reo mỗi sáng mỗi chiều, thiên thu”…

Trở lại Việt Nam, những ám ảnh rùng rợn, những ẩn ức tâm lý không buông tha Nghiễm Hoàng, gã đàn ông khẩu trang màu xanh vẫn có mặt trong những giấc mơ sắc dục nặng nề, rồi bóng ma và người thực đã có những phút giây giao cảm, không còn sợ hãi, chỉ còn yêu thương. Gã đàn ông mang khẩu trang màu xanh đã tiếp nối, kể câu chuyện đời mình, người phát hiện virus corona, đưa ra cảnh báo song đã muộn và thảm họa gieo xuống toàn cầu để cho anh hối hận cả khi đã là một hồn ma vất vưởng.

Là nhà văn lão luyện tay nghề, Thu Trân đem lại sức hút trên những trang viết. Chẳng hạn những đoạn đặc tả về hai nhà khoa học nghiên cứu tìm ra thuốc chữa bệnh để bán với giá cắt cổ là phơi bày góc khuất khác của không chỉ riêng trên đất nước nào đó mà nhiều nơi trên trái đất này vẫn còn những kẻ táng tận lương tâm, làm giàu trên máu xương đồng loại.

Hơn hết, sau những trang văn đầy ám ảnh là tràn đầy tình yêu cuộc sống và đậm yêu thương. Cô bé An Na đến với Nghiễm Hoàng một cách tình cờ mà tình cảm lớn dần theo năm tháng. Các y bác sĩ, tình nguyện viên – trong đó có Khả Cơ – đã góp phần cứu Will, viên phi công người Anh. Tiểu thuyết cũng khép lại với Nghiễm Hoàng trở lại Vũ Hán, nơi xét xử tội ác của Khổng Tước và đồng phạm, những sợi chỉ rối rắm quanh đời cô được gỡ dần. Và chương viết thêm cũng đầy tâm trạng của một người yêu đất nước, mong dân Việt vượt qua đại dịch, sống vui vẻ, an lành…

Với tài năng của nhà văn, cách sắp xếp nhân vật, tình tiết, những tự sự, những lá thư được kết nối thành câu chuyện lớn lao của đại dịch toàn cầu qua từng thân phận bé mọn của con người. Giữa những hàng chữ là ngồn ngộn thông tin của toàn cầu được cập nhật để người đọc thấy rõ tầm quan trọng của sự kiện. Đặc biệt, những suy tư, cảm nhận về ứng xử của các quốc gia trong đại dịch, tâm trạng của người sống trong cuộc chiến với sự kiên cường, vượt lên mọi khổ đau để tồn tại, hồi sinh. Đồng thời, cuộc sống vẫn tuôn chảy với những hỉ, nộ, ái, ố, chuyện bà con dòng họ, làm ăn sinh lợi, sự chi phối của đồng tiền lên tình cảm gia đình…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm