TIN TỨC

Lấp lánh yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-11 08:17:39
mail facebook google pos stwis
3240 lượt xem

Sáng 02/4/2022, nhà văn Thu Trân vừa tổ chức ra mắt tiểu thuyết Thế giới phẳng mùa COVID và Văn chương TPHCM đã có bài phóng sự ảnh về sự kiện vui này. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu bài viết đăng trên Văn nghệ Công an của nhà thơ Bùi Phan Thảo.

BÙI PHAN THẢO

“Thế giới chưa bao giờ khiến người ta phải giấu mình như giấu mình trong đại dịch corona… Người ta phải giấu hết nỗi lòng trong cơn dịch bệnh. Sự khủng khiếp. Nỗi kinh ngạc. Những rối loạn âu lo. Hằng hà cái chết đến rất nhanh mà không được nhìn mặt nhau, không được nói lời từ biệt nhau đã khiến loài người khủng hoảng”…

Nhà văn Thu Trân đã viết như vậy trong tiểu thuyết “Thế giới phẳng mùa COVID”, NXB Đà Nẵng, 2022. Những trang viết trong không gian ngột ngạt của phòng cách ly hay đường phố hoang vắng và hình bóng con người khật khưỡng…, đều chất chứa những ám ảnh nội tâm, day đi day lại đến đớn đau tận cùng.

Hai năm đại dịch hoành hành, thời gian dài thành phố phương Nam thực hiện giãn cách xã hội cũng là những ngày nhà văn trải lòng trên trang viết. Viết như chạy đua, viết với tâm thế ghi chép lại, nhận thức lại những bi kịch của loài người qua lăng kính nhà văn, qua hình tượng nhân vật sống động cùng những tâm tư, tình cảm của từng bản thể trong xã hội những ngày không thể nào quên. Không gian trải rộng từ châu Á sang châu Mỹ, từ Trung Quốc về Việt Nam, những con người quốc tịch khác nhau trong những mốc thời gian đặc biệt của lịch sử loài người như đóng đinh số phận. Và đớn đau, hèn yếu, mạnh mẽ, khôn ngoan, khờ dại, lãng mạn hay thực dụng… đều đã phơi bày, qua lối văn trần thuật, hồi ức đan xen thực tại, từ nhân vật tôi kể chuyện đời mình mà xã hội hiện ra, bối cảnh hiện ra như những thước phim chậm rãi, chạm dần vào tâm cảm người đọc.

Tiểu thuyết bắt đầu từ ngay thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Nghiễm Hoàng, cô giảng viên người Việt đã có 20 năm học và làm việc, đưa cha mẹ sang sống cùng tại thành phố này, có người yêu cũng là giảng viên đại học, tên là Khổng Tước. Thành phố lúc đại dịch hoành hành, mẹ mắc bệnh đang điều trị trong bệnh viện; cô và cha bị cách ly tại chung cư, cha ở tầng 17 còn cô ở tầng 20, áp mái. Như một vở kịch trên nền âm thanh là tiếng rú rít của thần chết, từng xác người chất lên xe, vào những lò thiêu hay những mồ chôn tập thể; mặt hồ công viên đóng váng xanh lè và những ngả đường hoang vắng đến rợn người…

Liên lạc với Khổng Tước không được, Nghiễm Hoàng chỉ có thể nói chuyện với cô bạn thân Bạch Tùng ở Sài Gòn để biết tình hình quê nhà Việt Nam cũng đang căng mình chống dịch. Còn ở tầng áp mái bên này, biết tin mẹ mất ở bệnh viện mà cô bất lực, để bệnh viện lo mai táng cho mẹ. Cũng ở nơi cách ly, 5 y – bác sĩ đã chết. Bác sĩ Hoa Hiên, người trốn lên tầng áp mái, chăm sóc người bệnh, trò chuyện cùng cô, rồi cũng chọn cách tự sát. Hình ảnh bầy quạ đen ở công viên khi cô trốn khỏi khu cách ly như một điềm báo xui rủi. Người đàn ông đeo khẩu trang xanh – như một bóng ma mà cũng là một gặp gỡ định mệnh sau này với cô. Khi cô về đến chung cư, cha cô cũng đã qua đời, con gái 15 tuổi xinh đẹp của Bách Hợp – người giúp việc cho gia đình cô, cũng không sống được trong đại dịch. Ở đây, Nghiễm Hoàng gặp lại Khổng Tước rồi quyết định tìm đường về Việt Nam, “không phải đi trốn dịch như người Việt Nam hay nói, mà đi trốn một ảo giác buồn, từ rất nhiều nỗi buồn cộng lại”.

Hình ảnh hàng ngàn chiếc điện thoại chất chồng bên vệ đường, cạnh hồ nước trong công viên cũng là một biểu tượng của những sự sống bị đại dịch tước đoạt. Có người đàn ông đang ngồi trên đống cellphone và hỏi: “Cô có muốn ngồi cùng không”. “Cảm giác ngồi trên vạn cái cellphone của ông thế nào?”. “Tôi thấy những oan hồn, ngoài vùng phủ sóng và không biết đường về nhà”. Ngũ Long, tên người đàn ông đó cũng là người mang khẩu trang màu xanh, chân mày đen và xếch, từng ngồi nướng quạ ở công viên, cô đã từng gặp hôm trốn khỏi khu cách ly…

Chuyến trở về Việt Nam cũng đầy cạm bẫy, dù đã cảnh giác cô vẫn sa vào đường dây của bọn buôn bán ma túy. Cô đã thoát ra được và về Việt Nam, gặp lại Bạch Tùng rồi Bạch Tùng qua Mỹ tìm người yêu và nhận ra sự thật, Bạch Tùng đi tìm lẽ sống mới trên vùng đất mới. Ở đó, cô làm tình nguyện viên chăm sóc người bệnh trong các khu cách ly và bắt đầu tình yêu với bác sĩ Jack. Một bà cụ nhiễm bệnh đã nhường máy thở cho chàng trai trẻ, còn bà chỉ dùng kháng sinh, lúc bà mất bác sĩ Jack đứng cạnh run lập cập. Sau này, khi lập danh sách người bệnh, Bạch Tùng mới biết đó là mẹ Jack.

Rồi qua tự sự của Bạch Tùng và của Jack, người đọc biết cô và Jack đều nhiễm COVID-19. Cả hai kiên cường chống chọi, tự điều trị tại nhà. Nhưng Bạch Tùng đã không qua khỏi, thiên sứ của Jack đã bay đi. “Hy vọng nơi thiên thu ấy, nàng chỉ nhớ và ôm ấp mỗi bóng hình tôi. Chờ ngày tôi về với nàng. Chúng tôi sẽ ngồi với nhau, nhìn qua khu rừng lá kim, nghe tiếng lá reo mỗi sáng mỗi chiều, thiên thu”…

Trở lại Việt Nam, những ám ảnh rùng rợn, những ẩn ức tâm lý không buông tha Nghiễm Hoàng, gã đàn ông khẩu trang màu xanh vẫn có mặt trong những giấc mơ sắc dục nặng nề, rồi bóng ma và người thực đã có những phút giây giao cảm, không còn sợ hãi, chỉ còn yêu thương. Gã đàn ông mang khẩu trang màu xanh đã tiếp nối, kể câu chuyện đời mình, người phát hiện virus corona, đưa ra cảnh báo song đã muộn và thảm họa gieo xuống toàn cầu để cho anh hối hận cả khi đã là một hồn ma vất vưởng.

Là nhà văn lão luyện tay nghề, Thu Trân đem lại sức hút trên những trang viết. Chẳng hạn những đoạn đặc tả về hai nhà khoa học nghiên cứu tìm ra thuốc chữa bệnh để bán với giá cắt cổ là phơi bày góc khuất khác của không chỉ riêng trên đất nước nào đó mà nhiều nơi trên trái đất này vẫn còn những kẻ táng tận lương tâm, làm giàu trên máu xương đồng loại.

Hơn hết, sau những trang văn đầy ám ảnh là tràn đầy tình yêu cuộc sống và đậm yêu thương. Cô bé An Na đến với Nghiễm Hoàng một cách tình cờ mà tình cảm lớn dần theo năm tháng. Các y bác sĩ, tình nguyện viên – trong đó có Khả Cơ – đã góp phần cứu Will, viên phi công người Anh. Tiểu thuyết cũng khép lại với Nghiễm Hoàng trở lại Vũ Hán, nơi xét xử tội ác của Khổng Tước và đồng phạm, những sợi chỉ rối rắm quanh đời cô được gỡ dần. Và chương viết thêm cũng đầy tâm trạng của một người yêu đất nước, mong dân Việt vượt qua đại dịch, sống vui vẻ, an lành…

Với tài năng của nhà văn, cách sắp xếp nhân vật, tình tiết, những tự sự, những lá thư được kết nối thành câu chuyện lớn lao của đại dịch toàn cầu qua từng thân phận bé mọn của con người. Giữa những hàng chữ là ngồn ngộn thông tin của toàn cầu được cập nhật để người đọc thấy rõ tầm quan trọng của sự kiện. Đặc biệt, những suy tư, cảm nhận về ứng xử của các quốc gia trong đại dịch, tâm trạng của người sống trong cuộc chiến với sự kiên cường, vượt lên mọi khổ đau để tồn tại, hồi sinh. Đồng thời, cuộc sống vẫn tuôn chảy với những hỉ, nộ, ái, ố, chuyện bà con dòng họ, làm ăn sinh lợi, sự chi phối của đồng tiền lên tình cảm gia đình…

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm