TIN TỨC

Lê Tiến Vượng và hai tập lục bát liền hơi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-04 08:30:38
mail facebook google pos stwis
591 lượt xem

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Như thế là tôi đã đọc liền hai tập lục bát của Lê Tiến Vượng xuất bản cuối năm 2016 (Lục bát khóc cười) và cuối năm 2018 (Lục bát phố). Hai năm khoảng 150 bài. Năng suất cao. Rất cao so với mọi người viết bây giờ.

Anh tìm thơ ngay trong đời sống thực của nơi anh sống và của chính lòng anh. Thơ anh như phóng sự xã hội và thấp thoáng trong ấy là nhật kí lòng anh.

Bút pháp giản dị, ngôn ngữ gần với văn báo chí. Rất ít mỹ từ pháp, ít gần như không ẩn dụ, biểu tượng. Đọc lên thấy nghĩa ngay hiểu ý ngay. Nhiều khi anh lập tứ cũng dễ dàng:

- Đây là một cách: lấy ý chính của bài, ý một nửa, làm cái bản lề xoay ra các phía mà tìm chi tiết, những chi tiết đồng dạng về hình thức nhưng đối nhau, hoặc bổ sung nhau, về ý. Cứ thế mà kéo một hơi đến hết bài. Bài thơ mười khổ, mỗi khổ hai câu Xin trich hai khổ

Mang danh nghệ sĩ nửa vời

Nửa ngồi, nửa đứng, nửa đời tỉnh mê

Nửa cơm áo, nửa khen chê

Nửa con tim giữ lời thề hôm xưa  

- Bài thơ mang tên Ru thì lấy luôn động từ ru ấy mà ru mọi thứ

Ta ngồi ru cỏ ngày xưa;

Ta ngồi ru nắng bên cầu;

Ru cau tỏa bóng trầu không;

Ta ngồi ru những cơn mưa;

Ta ngồi ru mấy câu thơ  

vv…

 


Nhà thơ Vũ Quần Phương (phải) và họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Những câu tôi vừa trích đều là các câu mở đầu cho mỗi khổ thơ, bốn câu. Để làm đầy cho bốn câu đó thì nhân ru cỏ anh kể ra cỏ may cỏ gà. Rồi từ vần gà anh ru chiếc lá đa. Rồi từ đa anh ru sang chú Cuội chả chú cuội ngồi gốc cây đa mà. Còn ở khổ thơ ru nắng thì không hiểu sao anh lại Chí Phèo Thị Nở đi lâu không về. Cái khô thơ Ru cau ru trầu thì anh ru luôn rặng duối ý hẳn ru các lọai cây thân thuộc ở quanh nhà: Ru cau tỏa bóng trầu không Ta ru rặng duối tơ hồng nghêu ngao. Đến đây thì cái vần ao nó kéo anh ru ngược lên trời Ta nằm ru mấy vì sao. Chắc là các ông sao trong đồng dao: một ông sao sáng hai ông sáng sao… vì câu sau chõng tre bầy trẻ hát gào bi bô. Tôi đoán thế. Nghĩa là nguyên liệu làm nên khổ thơ tưởng xa nhau nhưng vẫn trong một không gian cảm xúc. Cả bài thơ cứ hồn nhiên, câu gọi câu, tự lôi nhau đến, do ý hoặc do vần, thanh thoát lắm. Người xưa sẽ khen là văn hoạt chứ chưa phải văn già. Nhưng cả bài thơ không chỉ chạy trên một mặt phẳng ấy mà chấm hết. Ở những câu kết, Lê Tiến Vượng, vẫn trong tư thế ngữ pháp ấy nhưng nâng lên một mặt phẳng khác, cao hơn, đụng vào trái tim người đọc, ở đây, tới ba nấc đụng, đụng vào thân phận, kiếp người rồi, chứ không phải gặp đâu ru đó như phía trên:

Ta ngồi ru mấy câu thơ

Làm con thuyền nhỏ bơ vơ trở về
 

Ru tình tình vẫn đang mê

Ru đời, đời vẫn tái tê nỗi đời
        

Ta ngồi ru với ta thôi

Lời ru mẹ dạy

ta ngồi ru ta.

Nếu các khổ trên ru cỏ ru cây ru nắng ru mưa… có hơi thơ tự sự, thống kê đồng mức thì ở phần kết, thơ hóa trữ tình ở mức sâu và nặng hơn. Thủ pháp này hay được anh áp dụng nhưng với nhiều biến hóa. Cũng là một khía cạnh tài tử tài tình. Có bài thật như phóng sự, trong chất liệu, trong giọng kể. Người đọc thú vị tiếp nhận lượng thông tin, thoáng và vui. Nhưng đến hết bài thì hóa lại ra đang tiếp nhận lượng tâm hồn, thấm thía, hàm xúc. Có bài cấu tứ kiểu định nghĩa, cứ hai câu thành một khổ, câu trước tả sự câu sau tả tâm. Xin trích, ở bài tuổi thơ, làm bằng chứng:

Tuổi thơ vùng vẫy cầu ao

Có con đom đóm bay vào giác mơ
 

Tuổi thơ là chiếc gầu đôi

Mẹ cha tát nước ta ngồi đếm sao
 

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang

Bom rơi nhà cháy cả làng đưa ma

Đấy là phần đóng góp làm nên nét đặc sắc dễ đọc dễ thân dễ phổ cập của thơ Lê Tiến Vượng. Nhưng để hưởng thụ được ưu điểm ấy, chúng ta cần đọc vào toàn khối bài thơ, nắm lấy ý bao quát, nhận ra cái giọng xuyên suốt của nó. Bỏ qua những du di chữ nghĩa. Lê Tiến Vượng, có lẽ do muốn đạt tính liền mạnh của hơi thơ, anh ít chịu dừng lại trong lao động chữ. Phía trên tôi dùng cụm từ “du di chữ nghĩa” là muốn nói có những chữ anh dùng như một nét nhòe của nghĩa chứ không phải nét mảnh chính xác của nó. Tôi không dám nghĩ đây là một nhược điểm vì trong nét nhòe bạn đọc có thể nhận ra nhiều nghĩa gần đúng của câu thơ. Sự tiếp nhận có thể phong phú hơn chăng. Tuy nhiên, như trong bài thơ Ru vừa nói trên, Ta ngồi ru chiếc lá đa / lại thương chú Cuội bỏ nhà đi đâu thì ba từ chiếc lá đa sợ không chính xác. Người ta có thể lẫn ý nghĩa của nó với chiếc lá đa trong câu ca Sự đời như chiếc lá đa...  Vả lại lá đa thì không dính gì đến chú Cuội. Chú Cuội ngồi gốc cây đa kia mà. Giá anh viết Ta ngồi ru gốc cây đa/ Lại thương chú Cuội… thì mạch thơ tung hứng thanh thoát hơn nhiều.

Một đặc điểm trong việc tìm thơ của Lê Tiến Vượng là anh tôn trọng tính chân thật. Dù là thơ, nơi người ta nói rộng vô bờ bến tính lãng mạn, anh vẫn muốn miêu tả hiên thưc như nó vốn có. Bài Hà Nội trong tôi, chủ đề cố nhiên là ngợi ca Hà Nội, nhưng trong thân xác các câu thơ thì nó như một phóng sự nghiêm cẩn: Sông thì đục, khói thì đen / Ta hòa Hà Nội vào đêm tự tình. Đêm tự tình thì mơ mộng quá, thần tiên quá nhưng nước ô nhiễm trời ô nhiễm thì vẫn cứ phải nói là ô nhiễm. Nói, mà tự tình thì vẫn cứ tự tình. Đấy là bản lĩnh của phép trữ tình Lê Tiến Vượng. Nhà thơ phải nấu chính mình. Nấu mình, cho mình thử lửa chứ không phải nịnh mình. Phải chăng anh đã học vào cảm xúc khỏe mạnh của dân gian trong ca dao. Ca dao nịnh vợ mà dám nịnh đến thế này:

Đêm nằm thì ngáy o o

Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.

Ngáy thì phải tả là ngáy, tượng thanh hẳn hoi o...o, gợi cảm lắm (kinh!) nhưng chồng yêu vợ lại thấy đó là du dương thì cứ nói du dương, chứ sao!

Lê Tiến Vượng quan niệm công dụng của thơ:

Thơ là thuốc chữa tin yêu

Cho bao tâm sáng ngộ điều chúng sinh

Tác dụng giác ngộ, tác dụng tỉnh thức, nhận ra khát vọng của “chúng sinh", Tìm là tìm chất thơ lớn lao vất vả của đời. Chứ không phải những giác mơ tiên, nhân tạo con con xinh xắn. Tôi nghĩ đấy là một quan niệm đúng, để thực hiên được không dễ:

Những khi trời đất đaỏ điên

Có thơ tung giấc mơ tiên...mà về

Thực thi quan niệm ấy, thơ Lê Tiến Vượng đã thu đươc một công dụng phụ, có sức hấp dẫn, ấy là tính trào lộng trong cảm xúc trữ tình. Đôi khi nhà thơ tự hạ mình xuống vì tính thật thà. Nhưng câu thơ thật thà, nhiều khi bài hước ấy lại nâng anh lên. Thế mới sướng, tác giả đứng cao hơn bài thơ:

Ví đời như giọt mắt em

Ta kẻ chết đuối vớt lên... lại chìm

Tôn trọng hiện thực trong cảm xúc, trong tư duy… đã đành, anh còn vận dụng ngôn ngữ thường ngày của đời sống thành ngôn ngữ thơ. Anh khuyên người tình:

          Em à, em cứ thơ ngây

          Đừng mang cái vẻ ta đây làm gì

          Đâu phải Phật để từ bi

          Người quê chất phác có gì dùng thôi

Cái vẻ ta đây, có gì dùng thôi nó là ngôn ngữ nói để mộc, vào đây nó lại rất nên thơ vì thơ cũng đang khuyên người yêu cứ để mộc mà sống, vôi ve vào làm gì:

          Em à, hãy nhẹ nước son

          Để anh tỉnh táo mà còn nhận ra.

Bài thơ đến đấy thôi. Hai câu anh viết cho đủ khổ lại phá cảm xúc.

Tính chân thật phát huy lợi thế nhất khi thơ nói về chính người viết. Giọng tự trào hồn nhiên xuất phát từ sự dám nói. Nói trong một ngày sinh nhật:

          Sen từ bùn đất lớn lên

          Ta từ cái khó cái hèn bước ra

          Phập phù nửa Phật nửa ma

          Tổ tiên phù trợ nay ta thành người

Nói, khi chính mình chạm đến tuổi già

          Tuổi già đang đến thật gần

          Bây giờ đến cái khóa quần cũng quên

          Vào ra chẳng nhớ tắt đèn

          Đêm nằm ngủ ngáy như kèn đám ma
 

          Năm mươi bạn bảo là già

          Mấy em bảo trẻ, suy ra… bình thường

Câu thơ có duyên ở cái logic “suy ra” này. Cái giọng thơ này là một thương hiệu của Lê Tiến Vượng. Nó nhất quán trong cả 150 bài tôi đọc liền hơi.

Viết cứ như đuà mà nhiều bài sâu sắc sự đời. Bài thơ về Mặt có sức khái quát xã hội:

          Cùng là cái mặt ở đời

          Kẻ thì gớm ghiếc, kẻ hơi bị lành

          kẻ “mặt thớt" kẻ đành hanh

          Mặt la mày lém, mặt xanh nanh vàng

          Kẻ thì mặt đỏ như vang

          mặt vàng như nghệ mênh mang cõi đời

          Cùng là cái mặt thế thôi

          Sao em lại cứ rạng ngời thế kia

Từ trào phúng sang trữ tình thật nhẹ nhàng. Vui, tếu mà thâm trầm. Bài thơ viết đêm trung thu, nhân trẻ con chơi trò mặt nạ. Cuối bài lại có gì thấm thía nhân tình, hỏi vào trời đất tiêu tao: Bao nhiêu là mặt, mặt nào cho ta. Bài thơ Làm vua (tr47) vừa bi vừa hài, tùy cách nhìn của bạn đọc nhưng nó là chân thực. Thực nên mới bi và cũng vì thực nên mới hài:

          Cuối cùng còn một cái tên

          Lưu danh muôn thuở hay quên muôn đời

Lê Tiến Vượng đã tuyên dương vua bằng giọng của hề chèo. Các bài Công sở, Chạy, Đi chợ, Làm quan… cũng có kiểu khái quát như vậy. Khái quát bằng thống kê gạch đầu dòng… mà thuyết phục. Có lẽ nó đã là những việc nhỡn tiền từng được nhiều người của nhiều thời nói đến. Hiện thực đã thành biểu tượng mà anh vốn là họa sĩ rất tài sáng tạo logo.

Giọng thơ anh là một yếu tố thẩm mỹ quan trọng. Nó nói ra được tâm trạng ẩn giấu vốn khó nói hoặc không muốn nói. Ngay trong thơ thất tình, vốn dễ khêu gợi tình cảm, anh cũng không nói quá, Mà trong đời thì nghiêm túc với khôi hài nhiều lúc lẫn vào nhau. Tình cảnh đáng khóc mà lại làm người ta cười. Dào dạt, buồn thương gì gì thì cũng cứ nói như nó vốn thế. Ấy vậy mà lại hóa ra đúng mức trong sự vui buồn. Chỗ này vốn khó. Thất tình ư. Cố nhiên buồn. Nhưng mếu máo quá thì thành hài hước, mà hùng hổ quá thì cũng vô duyên. Anh Vượng viết như tự thú. Thật thà nên dễ được chia xẻ:

          Cái buồn em chẳng mang đi

Anh đành cất kỹ phòng khi em đòi

Cau vàng trầu héo khô vôi

Không em...rồi cũng có người khác em

Bồ hòn ngậm mãi cũng quen

Rượu buồn uống mãi đứng lên... lại nằm

Rượu buồn uống mãi đứng lên...đà lãng mạn ái tình đang đà bay bổng, bỗng rơi bịch: lại nằm.  Đứng lên...Mà say thì... nằm. Vương tướng gì thì cũng đến thế

Cũng nên chú ý cái giọng chủ đạo của thơ Lê Tiến Vượng là hơi dân gian, bình dân. Nhưng ngay trong không gian ấy lại ủ chứa nhiều mầm suy tưởng rất hàn lâm. Gần như bài nào cũng có câu hay kiểu ấy. Đôi khi, như ở bài Tô Thị ngày nay (tr 70), 5 khổ, 20 câu, nếu chỉ tách 6 câu bút pháp “hàn lâm" ra đủ tạo nên bài nhưng ở một giọng thơ khác. Có khi lại sâu nặng hơn. Tôi nghĩ thế, Lê Tiến Vượng kiểm tra xem:

Đâu cần Xứ Lạng xa xôi

Đã bao Tô thị làng tôi chờ chồng
 

Chồng người về đã lên quan

Chồng mình vẫn phía non ngàn biệt tăm
 

Ngày nay Tô thị sao nhiều

Nào ai có thấu những chiều... Vọng phu

 

Nếu điều đó đúng, thơ Lê Tiến Vượng còn nhiều tiềm ẩn để biến hóa, còn đất trống, ở cả tứ lẫn tình, để hoàn thiện. Xin được gói lại trong ba chữ: Chúc mừng anh!

23-4-2019
V.Q.P.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nguyễn Minh Châu và sự đổi mới tư duy trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh cách mạng
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp văn học của ông không chỉ gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc ở những năm kháng chiến mà còn gắn với những tháng năm đầy ưu tư của thời hậu chiến với bước chuyển dạ diệu kỳ, chuẩn bị cho tiến trình đổi mới đất nước về mọi phương diện, trong đó có văn học.
Xem thêm
Hữu Thỉnh và chiến sĩ xe tăng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian nan khốc liệt của dân tộc Việt Nam trong gần một phần tư thế kỷ như một bản trường ca âm vang giai điệu trầm lắng bi hùng, đã phản ánh phẩm chất cao đẹp sáng ngời của mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba miền. Những người tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cầm súng trực diện đấu tranh với quân thù có những chiến sĩ làm văn nghệ thuộc đủ binh chủng như: Nguyễn Thi (1928-1968), Lê Anh Xuân (1940-1968), … và Hữu Thỉnh. Trong đó, xuất thân từ một chiến sĩ xe tăng, Hữu Thỉnh được coi là một gương mặt thơ xuất sắc nổi trội trong nền văn học có lửa của giai đoạn 1954-1975.
Xem thêm
Lê Quang Sinh và nghệ thuật phê bình thơ
Bài viết của PGS.TS Hồ Thế Hà
Xem thêm
Anh nằm đây – trẻ mãi tuổi hai mươi
Bài viết về thơ Trần Ngọc Phượng
Xem thêm
“Gặp” lại nhà văn Lưu Thành Tựu với “Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5”
Nhà văn Lưu Thành Tựu hiện là phó ban điều hành phân hội văn học, hội văn học nghệ thuật Bình Dương. Truyện ngắn Hoa xương rồng trên cửa sổ tầng 5 của anh là tác phẩm đạt giải tại Cuộc thi truyện ngắn Đông Nam bộ năm 2022, đã đăng trên vanvn.vn và Tạp chí Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh như một sự ra mắt sau khi tác giả được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Xem thêm
Chất Folklore trong Lục bát khóc cười và Lục bát phố
Cầm hai tập thơ thuần thể loại lục bát quen thuộc, nghĩ đọc cũng hơi ngại bởi cứ đều đều một điệu, dễ chán. Nhưng đọc một vài bài mở đầu trong tập “Lục bát khóc cười” và “Lục bát phố” của Lê Tiến Vượng thì cảm giác ấy dần mất đi và thay vào đó là cảm giác hào hứng và thú vị.
Xem thêm
Trăn trở sự tồn tại người - Gía trị nhân bản trong thơ Văn Cao
Đọc thơ Văn Cao, ở nhiều thi phẩm như: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Những người trên cửa biển, Khuôn mặt em, Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, Lá, Trôi, Thời gian, Cánh cửa, Thu cô liêu, Năm buổi sáng không có trong sự thật, Ba biến khúc tuổi 65, Linh cầm tiến… bạn đọc cũng có thể thấy sự đa dạng cung bậc cảm xúc, có xôn xao, có sâu lắng bâng khuâng… nhưng dường như chủ đạo vẫn là những thì thầm tự vấn, suy tư trăn trở, đau buồn và thậm chí nhiều khi hoang mang, kinh hãi, lo âu. Phải chăng, tất cả những thể nghiệm cảm xúc nội tâm ấy bắt nguồn sâu xa từ những “chấn thương” tinh thần của tác giả bởi tác động của hoàn cảnh sống? Và dưới tầng sâu lớp ngôn từ của mỗi thi phẩm ẩn giấu bao mỹ cảm mà chúng ta cần suy ngẫm“giải mã”?
Xem thêm
Nguyễn Trọng Tạo mà đời vẫn say, mà hồn vẫn gió
Hôm nay 12/6, Nhà lưu niệm nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (1947-2019) được khánh thành tại đội 6, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Xem thêm
Số phận các nhân vật nữ trong tập truyện ngắn “Đảo” của Nguyễn Ngọc Tư
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, là nhà văn, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Năm 2018, cô được trao Giải thưởng Văn học Liberaturpreis 2018 do Litprom (Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ Latin ở Đức) bình chọn, dựa trên việc xem xét các bản dịch tiếng Đức tác phẩm nổi bật của các tác giả nữ đương đại tiêu biểu trong khu vực. Giải thưởng được trao hàng năm nhằm vinh danh các tác giả nữ đến từ châu Á, Phi, Mỹ Latin, Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) và vùng Caribe.
Xem thêm
Lê Khánh Mai và hành trình nhà thơ nữ bứt phá
Nhà thơ, nhà văn Lê Khánh Mai đến nay (năm 2024) đã ấn hành 12 đầu sách, trong đó có 7 tập thơ, 1 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 chuyên luận văn học, 1 tập tiểu luận phê bình văn học, 1 tập tản văn và tuỳ bút. Sức sáng tạo ở một tác giả nữ như vậy là liên tục và rất mạnh mẽ. Thơ là thể loại chính của ngòi bút Lê Khánh Mai nhưng văn xuôi và lý luận, phê bình cũng đạt nhiều thành tựu. Tất cả làm nên tên tuổi của một nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của tỉnh Khánh Hoà và của văn học Việt Nam hiện đại.
Xem thêm
Trần Đàm đi tìm một bản ngã
Đã ngoài tám mươi mà mỗi lần theo ông, cánh hậu sinh chúng tôi cách ông cả giáp vẫn thấy hụt hơi. Đúng là không nói ngoa cả khi leo dốc, đường trường lẫn khi viết lách, chơi bời.
Xem thêm
Đọc Người xa lạ của Albert Camus bằng chiếc gương soi của chủ nghĩa hiện sinh
Giàu Dương Nếu triết học cổ điển đề cao bản chất và dấn thân vào việc tìm kiếm những định nghĩa về bản chất, thì trào lưu hiện sinh tập trung vào sự tồn tại của bản thể, lấy đó làm điểm khởi nguyên cho mọi sự phóng chiếu vào thực tại khách quan. Người xa lạ (L’Étranger) của Albert Camus ra đời như một dấu ấn sâu sắc của triết thuyết hiện sinh ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX. Là một triết gia, nhà văn tài hoa, Camus đã mở ra những cánh cửa để người đọc bước vào thế giới của “kẻ xa lạ” Meursault – một người đàn ông tự mình chọn lấy thế đứng bên lề của xã hội. Hành trình của Meursault không đi tìm một kết luận duy nhất của sự tồn tại mà chỉ trình bày sự tồn tại như nó vốn là.
Xem thêm
Một thế giới rất ‘đời’ trong sáng tác của Tản Đà
Nhà thơ, nhà báo Tản Đà (SN 1889), quê làng Khê Ngoại, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Xem thêm
Cây có cội, nước có nguồn
Nguồn: Báo Văn nghệ số 19/2024
Xem thêm
Khát vọng Dế Mèn
Sự ra đời của Giải thưởng Dế Mèn cùng với phát ngôn của đại diện Hội Nhà văn Việt Nam đã chạm đến khát vọng lâu nay vẫn nằm đâu đấy trong những người yêu và hiểu rõ hiện trạng văn học thiếu nhi nước nhà…
Xem thêm
Tác giả trẻ chinh phục cuộc thi Thơ Hay!
Bài viết của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn
Xem thêm