TIN TỨC

Lê Tiến Vượng và hai tập lục bát liền hơi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-04 08:26:28
mail facebook google pos stwis
1872 lượt xem

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Như thế là tôi đã đọc liền hai tập lục bát của Lê Tiến Vượng xuất bản cuối năm 2016 (Lục bát khóc cười) và cuối năm 2018 (Lục bát phố). Hai năm khoảng 150 bài. Năng suất cao. Rất cao so với mọi người viết bây giờ.

Anh tìm thơ ngay trong đời sống thực của nơi anh sống và của chính lòng anh. Thơ anh như phóng sự xã hội và thấp thoáng trong ấy là nhật kí lòng anh.

Bút pháp giản dị, ngôn ngữ gần với văn báo chí. Rất ít mỹ từ pháp, ít gần như không ẩn dụ, biểu tượng. Đọc lên thấy nghĩa ngay hiểu ý ngay. Nhiều khi anh lập tứ cũng dễ dàng:

- Đây là một cách: lấy ý chính của bài, ý một nửa, làm cái bản lề xoay ra các phía mà tìm chi tiết, những chi tiết đồng dạng về hình thức nhưng đối nhau, hoặc bổ sung nhau, về ý. Cứ thế mà kéo một hơi đến hết bài. Bài thơ mười khổ, mỗi khổ hai câu Xin trich hai khổ

Mang danh nghệ sĩ nửa vời

Nửa ngồi, nửa đứng, nửa đời tỉnh mê

Nửa cơm áo, nửa khen chê

Nửa con tim giữ lời thề hôm xưa  

- Bài thơ mang tên Ru thì lấy luôn động từ ru ấy mà ru mọi thứ

Ta ngồi ru cỏ ngày xưa;

Ta ngồi ru nắng bên cầu;

Ru cau tỏa bóng trầu không;

Ta ngồi ru những cơn mưa;

Ta ngồi ru mấy câu thơ  

vv…

 


Nhà thơ Vũ Quần Phương (phải) và họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Những câu tôi vừa trích đều là các câu mở đầu cho mỗi khổ thơ, bốn câu. Để làm đầy cho bốn câu đó thì nhân ru cỏ anh kể ra cỏ may cỏ gà. Rồi từ vần gà anh ru chiếc lá đa. Rồi từ đa anh ru sang chú Cuội chả chú cuội ngồi gốc cây đa mà. Còn ở khổ thơ ru nắng thì không hiểu sao anh lại Chí Phèo Thị Nở đi lâu không về. Cái khô thơ Ru cau ru trầu thì anh ru luôn rặng duối ý hẳn ru các lọai cây thân thuộc ở quanh nhà: Ru cau tỏa bóng trầu không Ta ru rặng duối tơ hồng nghêu ngao. Đến đây thì cái vần ao nó kéo anh ru ngược lên trời Ta nằm ru mấy vì sao. Chắc là các ông sao trong đồng dao: một ông sao sáng hai ông sáng sao… vì câu sau chõng tre bầy trẻ hát gào bi bô. Tôi đoán thế. Nghĩa là nguyên liệu làm nên khổ thơ tưởng xa nhau nhưng vẫn trong một không gian cảm xúc. Cả bài thơ cứ hồn nhiên, câu gọi câu, tự lôi nhau đến, do ý hoặc do vần, thanh thoát lắm. Người xưa sẽ khen là văn hoạt chứ chưa phải văn già. Nhưng cả bài thơ không chỉ chạy trên một mặt phẳng ấy mà chấm hết. Ở những câu kết, Lê Tiến Vượng, vẫn trong tư thế ngữ pháp ấy nhưng nâng lên một mặt phẳng khác, cao hơn, đụng vào trái tim người đọc, ở đây, tới ba nấc đụng, đụng vào thân phận, kiếp người rồi, chứ không phải gặp đâu ru đó như phía trên:

Ta ngồi ru mấy câu thơ

Làm con thuyền nhỏ bơ vơ trở về
 

Ru tình tình vẫn đang mê

Ru đời, đời vẫn tái tê nỗi đời
        

Ta ngồi ru với ta thôi

Lời ru mẹ dạy

ta ngồi ru ta.

Nếu các khổ trên ru cỏ ru cây ru nắng ru mưa… có hơi thơ tự sự, thống kê đồng mức thì ở phần kết, thơ hóa trữ tình ở mức sâu và nặng hơn. Thủ pháp này hay được anh áp dụng nhưng với nhiều biến hóa. Cũng là một khía cạnh tài tử tài tình. Có bài thật như phóng sự, trong chất liệu, trong giọng kể. Người đọc thú vị tiếp nhận lượng thông tin, thoáng và vui. Nhưng đến hết bài thì hóa lại ra đang tiếp nhận lượng tâm hồn, thấm thía, hàm xúc. Có bài cấu tứ kiểu định nghĩa, cứ hai câu thành một khổ, câu trước tả sự câu sau tả tâm. Xin trích, ở bài tuổi thơ, làm bằng chứng:

Tuổi thơ vùng vẫy cầu ao

Có con đom đóm bay vào giác mơ
 

Tuổi thơ là chiếc gầu đôi

Mẹ cha tát nước ta ngồi đếm sao
 

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang

Bom rơi nhà cháy cả làng đưa ma

Đấy là phần đóng góp làm nên nét đặc sắc dễ đọc dễ thân dễ phổ cập của thơ Lê Tiến Vượng. Nhưng để hưởng thụ được ưu điểm ấy, chúng ta cần đọc vào toàn khối bài thơ, nắm lấy ý bao quát, nhận ra cái giọng xuyên suốt của nó. Bỏ qua những du di chữ nghĩa. Lê Tiến Vượng, có lẽ do muốn đạt tính liền mạnh của hơi thơ, anh ít chịu dừng lại trong lao động chữ. Phía trên tôi dùng cụm từ “du di chữ nghĩa” là muốn nói có những chữ anh dùng như một nét nhòe của nghĩa chứ không phải nét mảnh chính xác của nó. Tôi không dám nghĩ đây là một nhược điểm vì trong nét nhòe bạn đọc có thể nhận ra nhiều nghĩa gần đúng của câu thơ. Sự tiếp nhận có thể phong phú hơn chăng. Tuy nhiên, như trong bài thơ Ru vừa nói trên, Ta ngồi ru chiếc lá đa / lại thương chú Cuội bỏ nhà đi đâu thì ba từ chiếc lá đa sợ không chính xác. Người ta có thể lẫn ý nghĩa của nó với chiếc lá đa trong câu ca Sự đời như chiếc lá đa...  Vả lại lá đa thì không dính gì đến chú Cuội. Chú Cuội ngồi gốc cây đa kia mà. Giá anh viết Ta ngồi ru gốc cây đa/ Lại thương chú Cuội… thì mạch thơ tung hứng thanh thoát hơn nhiều.

Một đặc điểm trong việc tìm thơ của Lê Tiến Vượng là anh tôn trọng tính chân thật. Dù là thơ, nơi người ta nói rộng vô bờ bến tính lãng mạn, anh vẫn muốn miêu tả hiên thưc như nó vốn có. Bài Hà Nội trong tôi, chủ đề cố nhiên là ngợi ca Hà Nội, nhưng trong thân xác các câu thơ thì nó như một phóng sự nghiêm cẩn: Sông thì đục, khói thì đen / Ta hòa Hà Nội vào đêm tự tình. Đêm tự tình thì mơ mộng quá, thần tiên quá nhưng nước ô nhiễm trời ô nhiễm thì vẫn cứ phải nói là ô nhiễm. Nói, mà tự tình thì vẫn cứ tự tình. Đấy là bản lĩnh của phép trữ tình Lê Tiến Vượng. Nhà thơ phải nấu chính mình. Nấu mình, cho mình thử lửa chứ không phải nịnh mình. Phải chăng anh đã học vào cảm xúc khỏe mạnh của dân gian trong ca dao. Ca dao nịnh vợ mà dám nịnh đến thế này:

Đêm nằm thì ngáy o o

Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.

Ngáy thì phải tả là ngáy, tượng thanh hẳn hoi o...o, gợi cảm lắm (kinh!) nhưng chồng yêu vợ lại thấy đó là du dương thì cứ nói du dương, chứ sao!

Lê Tiến Vượng quan niệm công dụng của thơ:

Thơ là thuốc chữa tin yêu

Cho bao tâm sáng ngộ điều chúng sinh

Tác dụng giác ngộ, tác dụng tỉnh thức, nhận ra khát vọng của “chúng sinh", Tìm là tìm chất thơ lớn lao vất vả của đời. Chứ không phải những giác mơ tiên, nhân tạo con con xinh xắn. Tôi nghĩ đấy là một quan niệm đúng, để thực hiên được không dễ:

Những khi trời đất đaỏ điên

Có thơ tung giấc mơ tiên...mà về

Thực thi quan niệm ấy, thơ Lê Tiến Vượng đã thu đươc một công dụng phụ, có sức hấp dẫn, ấy là tính trào lộng trong cảm xúc trữ tình. Đôi khi nhà thơ tự hạ mình xuống vì tính thật thà. Nhưng câu thơ thật thà, nhiều khi bài hước ấy lại nâng anh lên. Thế mới sướng, tác giả đứng cao hơn bài thơ:

Ví đời như giọt mắt em

Ta kẻ chết đuối vớt lên... lại chìm

Tôn trọng hiện thực trong cảm xúc, trong tư duy… đã đành, anh còn vận dụng ngôn ngữ thường ngày của đời sống thành ngôn ngữ thơ. Anh khuyên người tình:

          Em à, em cứ thơ ngây

          Đừng mang cái vẻ ta đây làm gì

          Đâu phải Phật để từ bi

          Người quê chất phác có gì dùng thôi

Cái vẻ ta đây, có gì dùng thôi nó là ngôn ngữ nói để mộc, vào đây nó lại rất nên thơ vì thơ cũng đang khuyên người yêu cứ để mộc mà sống, vôi ve vào làm gì:

          Em à, hãy nhẹ nước son

          Để anh tỉnh táo mà còn nhận ra.

Bài thơ đến đấy thôi. Hai câu anh viết cho đủ khổ lại phá cảm xúc.

Tính chân thật phát huy lợi thế nhất khi thơ nói về chính người viết. Giọng tự trào hồn nhiên xuất phát từ sự dám nói. Nói trong một ngày sinh nhật:

          Sen từ bùn đất lớn lên

          Ta từ cái khó cái hèn bước ra

          Phập phù nửa Phật nửa ma

          Tổ tiên phù trợ nay ta thành người

Nói, khi chính mình chạm đến tuổi già

          Tuổi già đang đến thật gần

          Bây giờ đến cái khóa quần cũng quên

          Vào ra chẳng nhớ tắt đèn

          Đêm nằm ngủ ngáy như kèn đám ma
 

          Năm mươi bạn bảo là già

          Mấy em bảo trẻ, suy ra… bình thường

Câu thơ có duyên ở cái logic “suy ra” này. Cái giọng thơ này là một thương hiệu của Lê Tiến Vượng. Nó nhất quán trong cả 150 bài tôi đọc liền hơi.

Viết cứ như đuà mà nhiều bài sâu sắc sự đời. Bài thơ về Mặt có sức khái quát xã hội:

          Cùng là cái mặt ở đời

          Kẻ thì gớm ghiếc, kẻ hơi bị lành

          kẻ “mặt thớt" kẻ đành hanh

          Mặt la mày lém, mặt xanh nanh vàng

          Kẻ thì mặt đỏ như vang

          mặt vàng như nghệ mênh mang cõi đời

          Cùng là cái mặt thế thôi

          Sao em lại cứ rạng ngời thế kia

Từ trào phúng sang trữ tình thật nhẹ nhàng. Vui, tếu mà thâm trầm. Bài thơ viết đêm trung thu, nhân trẻ con chơi trò mặt nạ. Cuối bài lại có gì thấm thía nhân tình, hỏi vào trời đất tiêu tao: Bao nhiêu là mặt, mặt nào cho ta. Bài thơ Làm vua (tr47) vừa bi vừa hài, tùy cách nhìn của bạn đọc nhưng nó là chân thực. Thực nên mới bi và cũng vì thực nên mới hài:

          Cuối cùng còn một cái tên

          Lưu danh muôn thuở hay quên muôn đời

Lê Tiến Vượng đã tuyên dương vua bằng giọng của hề chèo. Các bài Công sở, Chạy, Đi chợ, Làm quan… cũng có kiểu khái quát như vậy. Khái quát bằng thống kê gạch đầu dòng… mà thuyết phục. Có lẽ nó đã là những việc nhỡn tiền từng được nhiều người của nhiều thời nói đến. Hiện thực đã thành biểu tượng mà anh vốn là họa sĩ rất tài sáng tạo logo.

Giọng thơ anh là một yếu tố thẩm mỹ quan trọng. Nó nói ra được tâm trạng ẩn giấu vốn khó nói hoặc không muốn nói. Ngay trong thơ thất tình, vốn dễ khêu gợi tình cảm, anh cũng không nói quá, Mà trong đời thì nghiêm túc với khôi hài nhiều lúc lẫn vào nhau. Tình cảnh đáng khóc mà lại làm người ta cười. Dào dạt, buồn thương gì gì thì cũng cứ nói như nó vốn thế. Ấy vậy mà lại hóa ra đúng mức trong sự vui buồn. Chỗ này vốn khó. Thất tình ư. Cố nhiên buồn. Nhưng mếu máo quá thì thành hài hước, mà hùng hổ quá thì cũng vô duyên. Anh Vượng viết như tự thú. Thật thà nên dễ được chia xẻ:

          Cái buồn em chẳng mang đi

Anh đành cất kỹ phòng khi em đòi

Cau vàng trầu héo khô vôi

Không em...rồi cũng có người khác em

Bồ hòn ngậm mãi cũng quen

Rượu buồn uống mãi đứng lên... lại nằm

Rượu buồn uống mãi đứng lên...đà lãng mạn ái tình đang đà bay bổng, bỗng rơi bịch: lại nằm.  Đứng lên...Mà say thì... nằm. Vương tướng gì thì cũng đến thế

Cũng nên chú ý cái giọng chủ đạo của thơ Lê Tiến Vượng là hơi dân gian, bình dân. Nhưng ngay trong không gian ấy lại ủ chứa nhiều mầm suy tưởng rất hàn lâm. Gần như bài nào cũng có câu hay kiểu ấy. Đôi khi, như ở bài Tô Thị ngày nay (tr 70), 5 khổ, 20 câu, nếu chỉ tách 6 câu bút pháp “hàn lâm" ra đủ tạo nên bài nhưng ở một giọng thơ khác. Có khi lại sâu nặng hơn. Tôi nghĩ thế, Lê Tiến Vượng kiểm tra xem:

Đâu cần Xứ Lạng xa xôi

Đã bao Tô thị làng tôi chờ chồng
 

Chồng người về đã lên quan

Chồng mình vẫn phía non ngàn biệt tăm
 

Ngày nay Tô thị sao nhiều

Nào ai có thấu những chiều... Vọng phu

 

Nếu điều đó đúng, thơ Lê Tiến Vượng còn nhiều tiềm ẩn để biến hóa, còn đất trống, ở cả tứ lẫn tình, để hoàn thiện. Xin được gói lại trong ba chữ: Chúc mừng anh!

23-4-2019
V.Q.P.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm