TIN TỨC

Má tôi - Tản văn Trần Trọng Trung

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-17 12:10:34
mail facebook google pos stwis
1379 lượt xem

Má tôi là một người phụ nữ đảm đang, hiền thục; có một đức tính thật thà, nhân hậu; có một phẩm chất của người phụ nữ Á Đông  “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”.

Suốt một đời tảo tần, cực khổ; nhưng hết mực thương yêu chồng, con và gánh vác cả “giang san” nhà chồng, làm tròn bổn phận con dâu cả và chị dâu trưởng trong gia đình bên chồng… Như lời chú sáu Trần Huy Hòa (em ruột ba tôi) bày tỏ: “Điển hình cho sự nhân hậu và tình cảm của Chị dâu tôi là ngoài tình cảm thương yêu Chồng, lo tròn nghĩa vụ làm vợ ra, Chị đã thể hiện chan chứa thương 4 đứa em chồng còn nhỏ dại đang tuổi ăn học: Anh thứ tư 11 tuổi, Anh thứ năm 8 tuổi, tôi 6 tuổi và đứa em gái út 4 tuổi! Ngoài ra, còn người chị gái chỉ nhỏ hơn chị dâu 4 - 5 tuổi. Nhưng tình cảm Chị Dâu - Em chồng vẫn ngọt ngào… Gần 10 năm nhờ Anh Chị đùm bọc nuôi ăn học, và trông nom các cháu, theo thời gian tôi mới nhận thấy rõ bản chất nông dân và tình thương của Chị dâu tôi thật tuyệt vời!”

Còn nhớ, trong những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, lúc bấy giờ, tôi chỉ mới lên 6 tuổi là anh cả của 4 đứa em (1 trai, 3 gái). Ba tôi là một văn nghệ sĩ, má tôi là một nông dân “chính hiệu”. Bà nội tôi mất sớm, má tôi là dâu trưởng “Quyền huynh thế phụ, Quyền tẩu thay mẫu” nên má tôi phải thay má chồng vừa chăm sóc đàn em chồng 5 đứa con nhỏ dại…

Trong cuộc mưu sinh đầy sóng gió tưởng chừng không vượt qua được, nhưng má tôi vẫn nổ lực, cố gắng vượt lên chính mình, bươn chải nhiều nghề để kiếm thêm thu nhập phụ với ba tôi để nuôi em chồng và đàn con thơ dại, khôn lớn, nên người.

Suốt một đời tảo tần, chịu thương-chịu khó, má tôi đã nuôi nấng dạy dỗ, dìu dắt chú sáu Trần Huy Hòa ăn học thành tài ra làm thầy giáo dạy Văn cấp III rồi cưới vợ cho em chồng; nuôi dạy đàn con 5 đứa đều tốt nghiệp Trung học phổ thông, tốt nghiệp Đại học và có việc làm ổn định… Nổi bật là nuôi dạy các cháu, đứa là Thạc sĩ-Bác sĩ, đứa tốt nghiệp Đại học kiến trúc, đứa đang học Đại học Ngoai ngữ... thì bất ngờ má tôi ngã bệnh cùng với tuổi cao, sức yếu… má tôi ra đi vĩnh viễn để lại niềm thương tiếc, buồn đau vô tận cho chúng tôi.

Còn nhớ, lúc khỏe mạnh, má thường căn dặn các con: “Khi má còn sống, các con không thường xuyên về thăm má, đến khi má mất các con về thì má cũng đâu có thấy các con. Khi ấy, các con có làm đám tang to, ăn uống, ca hát tưng bừng, náo nhiệt… chẳng qua chỉ là để khoe với người sống mà thôi. Như đám tang ông hai Chệt chết (ông Chệt nhà giàu nứt tiếng ở thị trấn), mấy đứa con trai làm ăn ở đâu không biết, nghe tin ba chết đi xe hơi về rần rần, làm đám ma linh đình, ăn uống mấy ngày đêm, mướn kèn tây thổi inh ỏi, mướn người khóc la rân trời… Thế mà sau đám tang, chúng nó tranh giành nhau tiền phúng điếu, đòi xem di chúc, chia tài sản… chửi bới om xòm, la ó ỏm tỏi… Thậm chí, còn đánh nhau nữa. Thiệt chẳng ra thể thống gì. Tới giờ, cái mả ba của chúng nó cũng không đứa nào xây”.

Nói tới đó giọng má trầm xuống, ngậm ngùi rồi căn dặn các con cháu không nên uống rượu, phải ăn ngủ đều độ, giữ gìn sức khỏe cho thật tốt, vợ chồng phải thương yêu lẫn nhau, xây dựng gia đình hạnh phúc, chăm lo-dạy dỗ con cái nên người… Và ngàn lần như một. Lần nào về thăm má, câu đầu tiên má nói là vợ chồng con muốn ăn gì má đi chợ mua nấu cho các con ăn. “Cơm gà” hé. Rồi má đi vào nhà sau, xách giỏ ra chợ, mặc cho chúng tôi ngăn cản thế nào cũng không được…

Thiệt tình mà nói món cơm gà do má nấu ngon tuyệt. Đây là món gia truyền, má học được từ khi về làm vợ của ba, làm dâu bên chồng, được ba má chồng chỉ dạy và má tôi tiếp thu rất nhanh… Nhanh đến nỗi, cơm gà của má nấu còn có phần ngon hơn người truyền dạy.

Má tôi chế biến rất nhiều món ăn, món nào cũng thơm ngon, hấp dẫn. Song, món “Cơm gà” má nấu là “độc nhất-vô nhị”. Ai đã vinh hạnh được thưởng thức một lần món cơm gà má nấu thì sẽ không bao giờ quên. Giờ đây, chúng tôi rất thèm những món ăn má nấu, thèm những bữa cơm ấm cúng tình nghĩa gia đình và rất thèm món cơm gà đậm đà hương vị đặc trưng của má… Vậy mà má ơi, chúng con tìm má ở đâu bây giờ (?) Má ơi!...

Mỗi lần nhìn di ảnh má trên bàn thờ khói hương nghi ngút mà trong lòng chúng tôi quặn thắt từng cơn. Cả một đời má gian lao, khổ cực nuôi đàn con thơ nên vóc nên hình, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, tạo dựng cơ ngơi, với 3 căn nhà phố liền kề và những tiện nghi sinh hoạt đắt tiền …

T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm
Ký ức Kẻ Gỗ - Tùy bút Phúc Hải
Những ngày cuối năm, mưa lất phất phủ mờ con đường đất đỏ dẫn vào lòng hồ Kẻ Gỗ. Tôi trở lại Cẩm Xuyên, nơi ký ức của những thế hệ đi trước như những cơn sóng lặng lẽ vỗ vào bờ, kéo tôi về một thời mà tôi chưa từng sống, nhưng vẫn cảm nhận rõ qua những câu chuyện kể. Dưới lớp nước xanh thẳm của hồ Kẻ Gỗ hôm nay là cả một thế giới đã ngủ yên, những ngôi làng cổ, những cánh rừng gỗ quý và cả một thời đại “máu và hoa” của một thế hệ rực lửa. Tôi thuộc thế hệ sau, lớn lên khi dòng nước đã hiền hòa chảy tràn đồng ruộng, mang lại màu xanh bát ngát cho làng quê. Thế nhưng, mỗi lần đứng trước mặt hồ mênh mông, lòng tôi vẫn rung lên những nhịp đập thổn thức, như nghe được tiếng thở dài và nhịp đập của một vùng đất từng khô cằn đến cháy lòng.
Xem thêm
Nhớ mẹ khi Tết đến Xuân về - Tản văn Nguyễn Thị Loan
Mùa xuân là mùa của chồi non lộc biếc, với biết bao hi vọng cho một năm dài cây trái tốt tươi ở phía trước. Với mỗi người thì mùa xuân cũng luôn là dấu mốc khởi đầu của một năm để hoài bão, ước mơ cho sự may mắn và những điều tốt đẹp nhất. Vâng, đúng là mùa xuân bất cứ ai cũng chộn rộn biết bao niềm vui trong không khí lễ Tết, thông qua những chuyến đi du xuân, thăm viếng lẫn nhau, tham dự hội làng, du lịch đâu đó... Thế nhưng, với riêng tôi thì từ gần chục năm trở lại đây, mỗi khi mùa xuân tới trở về nhà đoàn tụ ăn Tết cùng gia đình nơi quê nhà, tôi không chỉ buồn mà cảm thấy rất buồn, bởi không còn trông thấy bóng dáng của mẹ nữa.
Xem thêm
Người lính trở về từ “cửa tử” thành cổ Quảng Trị
Tết đến, khi mỗi gia đình sum họp, ta càng nhớ đến những người đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Xem thêm
Tết này các anh đã về mái nhà chung
Sau gần 60 năm thân phận còn chìm trong bóng tối lịch sử vì những đặc thù khốc liệt của chiến trường đô thị, 49 chiến sĩ Biệt động Sài Gòn quả cảm năm xưa nay đã chính thức được công nhận là Liệt sĩ.
Xem thêm
Đồng Vọng, tiếng thơ từ trầm tích một đời
65 bài thơ ứng với 65 mùa xuân đời người, mang dáng dấp của một sự sắp đặt có chủ ý giữa nghệ thuật và đời sống. Tập thơ “Đồng vọng” của Ngô Hoài Chung vì thế vừa là một ấn phẩm kỉ niệm, vừa là một hành trình tinh thần được chưng cất cẩn trọng từ những trải nghiệm dày dặn của một đời người.
Xem thêm
Thèm sách - Bút ký của nhà thơ Thanh Thảo
Những gì mỗi quyển sách đem lại cho ta, chính ta cũng không biết hết, nhớ hết. Nhưng chắc chắn là có. Và cái có ấy, cái được ấy, sẽ còn lại trong ta cho đến cuối cuộc đời.
Xem thêm
Xuân tha hương..
Bao năm sống nơi xứ người, tóc đã thay màu, đôi chân mòn mõi theo từng bước đường lập nghiệp, trái tim kẻ tha hương vẫn quay quắt hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Giữa nhịp sống ồn ã của trời Tây, nhiều lúc tôi thấy lòng mình chùng xuống, như ai đó vừa gọi khẽ tên mình từ bờ sông tuổi thơ xa lắc.
Xem thêm
Vó ngựa vùng quê - Bút ký Nguyễn Sự
Cù lao Thới Sơn, phường Thới Sơn (tỉnh Đồng Tháp) được khai thác du lịch từ năm 1988. Do đặc thù vùng sông nước, miệt vườn cho nên doanh nghiệp đã liên kết hộ nhà vườn để đầu tư khai thác du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng với nhiều sản phẩm đặc trưng. Đặc biệt, du khách đến đây được đi xe ngựa len lỏi vào các tuyến đường nông thôn, vườn cây ăn trái.
Xem thêm
Sông Đuống trôi đi… một dòng lấp lánh - Bút ký của Tô Ngọc Thạch
Mùa đông về bất chợt, từng làn gió bấc mang theo hơi lạnh luồn vào các hang cùng ngõ hẻm của từng xóm phố. Bầu trời hôm nay phủ kín một màu xám bạc, những chiếc lá vàng cuối cùng còn sót lại trên cành cây đang đung đưa lần cuối trước khi rơi xuống đất, để chờ một mùa mới hồi sinh.
Xem thêm
Những người yêu rùa biển
Bài đăng Văn nghệ TPHCM số Xuân Bính Ngọ 2026
Xem thêm
Nhớ quê trong gió bấc mưa phùn - Tạp bút Nguyễn Gia Long
Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Bắc nước ta, nơi có những tháng mùa đông đi qua đầy khắc nghiệt, với mưa phùn, gió bấc và cái lạnh tái tê như muốn cắt da thịt, nên tuổi thơ tôi có biết bao nhiêu những kỷ niệm với mùa đông và miền quê thân thương ấy. Đó là những buổi ra đồng nhổ mạ, cấy lúa cùng mẹ vào dịp cuối năm, mặc dù thời tiết lạnh căm căm. Đó là những buổi chiều lùa trâu ra đồng chăn thả, kệ cho những cơn gió hun hút tràn về. Hay như những hôm trời u ám với gió bấc, mưa phùn giăng đầy trời vậy mà mẹ vẫn bắt mấy anh chị em chúng tôi ra đồng để kiếm rau mang về nấu cám cho lợn ăn. Rồi nữa, có không ít những chiều đông rét mướt, tôi vẫn cùng những đứa trẻ cùng trang lứa trong xóm ra đồng be bờ tát mương, bắt cua, cá, tôm, ốc…, mang về cải thiện cho bữa cơm sinh hoạt gia đình thêm phần tươm tất.
Xem thêm
Một hành trình từ xứ Nghệ ra biển lớn
Bài đăng Tạp chí Sông Lam Online
Xem thêm
Ao làng tháng Chạp trong ký ức tuổi thơ tôi - Tản văn Nguyễn Thúy Uyên
Nơi tôi sinh ra là một làng quê ven thành phố và dẫu nơi đây đã, đang trong đà đô thị hoá mạnh mẽ nhưng vẫn còn sót lại một số ao, hồ. Với người dân quê tôi nói riêng cũng như hết thảy những làng quê Việt Nam nói chung, thì có lẽ hình ảnh cái ao làng luôn gần gũi, rất thân thương, bởi lẽ những cái ao là nơi cung cấp nước tưới cho cây cối trong vườn nhà; ao là nơi thoát nước trong những ngày mưa triền miên; và ao cũng là nơi cung cấp nguồn thực phẩm cá, tôm, cua, ốc… cho con người, cũng như làm nơi thả bèo dùng cho việc chăn nuôi gia cầm gia súc.... Đối với trẻ thơ chúng tôi ngày thơ bé, thì ao làng còn là nơi tắm mát “giải nhiệt”, vui chơi đùa nghịch trong những buổi trưa hè oi ả, nóng bức…
Xem thêm