TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-26 18:46:02
mail facebook google pos stwis
585 lượt xem

Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, phối hợp cùng gia đình nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, vừa tổ chức thành công buổi ra mắt hai tác phẩm mới: “Chua ngọt đời văn”“Kẻ khôn hơn vua”. Trong không khí ấm áp và nhiều cảm hứng của buổi giao lưu, một số tham luận giá trị đã được trình bày, góp thêm những góc nhìn sâu sắc về hành trình sáng tác của ông.

Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sinh ngày 31/10/1945 tại Sóc Sơn, Hà Nội. Thuở thiếu niên đam mê bóng đá, nhưng ông không có cơ hội trở thành cầu thủ chuyên nghiệp. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp trung học ở Trường Chu Văn An, ông cùng 8000 bạn bè đồng trang lứa tham gia đoàn thanh niên xung phong Tháng Tám, tạm biệt Thủ đô để tỏa về những vùng khó khăn góp tay xây dựng cuộc sống mới. Ông được phân công nhiệm vụ ở Trạm cơ giới trồng rừng Dốc Đỏ đóng trên địa bàn Đông Triều, Quảng Ninh. Nơi đây, ông tập tành viết lách, và chính thức chào sân văn chương bằng truyện ngắn “Đêm sương muối” đoạt giải ba cuộc thi viết do Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức năm 1968.

Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn phát biểu tại buổi ra mắt sách - Ảnh: N.H.

Cùng thế hệ với Tô Ngọc Hiến, Lê Hường, Nam Ninh, Chử Văn Long, Trần Dũng, Phạm Ngọc Chiểu, Lưu Nghiệp Quỳnh, Đỗ Bảo Châu… trưởng thành trong dòng chảy văn học công nhân, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn được điều chuyển về Công ty Ô tô lâm sản Hà Nội năm 1970. Loanh quanh 36 phố phường vài tháng, ông phát hiện mình cần thực tế để viết, nên đăng ký tình nguyện vào Hương Sơn, Hà Tĩnh làm lái xe tiếp vận cho chiến trường miền Nam. Non sông thống nhất, ông được tuyển chọn nhân sự cho Cục Báo chí và Xuất bản miền Nam, chính thức có mặt tại đô thị phương Nam tháng 11/1975 và định cư đến bây giờ.

Hồi ký “Chua ngọt đời văn” của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không viết theo trình tự thời gian. Ông thông qua 11 cuộc trao đổi với các đồng nghiệp thân thiết, để kể lại quá trình sáng tạo của bản thân, từ câu chuyện “Nhà văn có thể sống bằng nghề?” đến câu chuyện “Nên có cách để nhà văn bớt yếu thế”. Trong hồi ký, ông bày tỏ quan niệm: “Tôi viết văn chỉ với mục đích sống bằng nghề và vì một xã hội tốt đẹp hơn, nên luôn bắt đầu ở mức thấp nhất, vừa với sức mình, để còn đi đường dài… Từ khi quyết định chọn khiêm tốn thử sống bằng nghề, tôi mới ngộ ra, văn chương càng ít hoang tưởng thì hành trình sáng tác càng thoáng”. Đồng thời, trong hồi ký, ông cũng phác họa bức tranh sinh hoạt văn chương một thời: “Khi bắt đầu nổi lên với mấy tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại”, “Đứng trước biển”, “Cù lao Tràm”, tôi hay được các hội văn nghệ, nhà máy, xí nghiệp, trường đại học mời đến nói chuyện hoặc thảo luận về văn học. Hồi ấy, chưa có văn hóa phong bì. Nói chuyện xong, thường được đãi bữa nhậu, rồi kèm theo quà. Ở các tỉnh, họ đưa lên xe chục ký gạo, lạc, đậu xanh hay vài ký tôm khô, kèm giấy chứng nhận hợp pháp để khỏi bị quản lý thị trường tịch thu. Còn ở thành phố Hồ Chí Minh, thì họ cho bột ngọt, thịt cá hộp, thùng mì tôm…”.

Chủ trương sống bằng nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn xin rời biên chế để ưu tiên toàn bộ tâm sức cho chữ nghĩa. Ông không chỉ viết văn, mà lấn sang cả sân khấu, điện ảnh và truyện hình. Tạm tổng kết gia tài Nguyễn Mạnh Tuấn cho đến khi ra mắt hồi ký “Chua ngọt đời văn”, ông có 9 tập truyện ngắn, 12 tiểu thuyết, 17 kịch bản phim chiếu rạp, 23 kịch bản phim truyền hình nhiều tập, 2 kịch bản sân khấu và 2 bộ truyện thiếu nhi 11. Để có được khối lượng tác phẩm đồ sộ như vậy, không thể không nhắc đến một may mắn của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là nhận được sự thấu hiểu và sự hỗ trợ hết mực từ bạn đời – nhà thơ Hà Phương. Nhờ khả năng thu vén mọi sự lớn nhỏ của người vợ tào khang, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn yên tâm đọc rồi viết và viết rồi đọc. Thậm chí, nhà thơ Hà Phương còn lo liệu phát hành sách cho chồng, làm phiên dịch cho chồng mỗi khi làm việc với đối tác quốc tế.

Hồi ký “Chua ngọt đời văn” đầy ắp chi tiết lôi cuốn của một tác giả nhiều trải nghiệm văn chương. Bởi lẽ, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ có những tác phẩm ăn khách, mà ông cũng là người duy nhất trong giới cầm bút đương thời phải mất 7 năm theo đuổi một vụ kiện để lấy lại danh dự, vì những kẻ tung ra tài liệu giả mạo để cáo buộc bôi nhọ ông vi phạm bản quyền kịch bản phim “Hải đường trắng”. Khi hai tiểu thuyết “Đứng trước biển” và “Cù lao Tràm” bùng lên một hiện tượng xã hội, ông cũng trải qua ngày tháng sống giữa sự phản ứng gay gắt và sự ủng hộ ấm áp. Hơn thế nữa, sức ảnh hưởng từ trang viết đã giúp ông có cơ hội gặp gỡ những lãnh đạo hàng đầu quốc gia như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Định…

Trong hồi ký “Chua ngọt đời văn”, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hé lộ ông từng đính hôn với Chín Huệ, em gái của đồng nghiệp Dương Thanh Bình ở Cục Báo chí Xuất bản miền Nam. Ông đã về Thới Bình, Cà Mau hạnh ngộ Chín Huệ và hứa hẹn trăm năm. Dù hoàn cảnh trớ trêu khiến đám cưới không thành, nhưng tính cách Chín Huệ cùng với thái độ sống của nguyên mẫu Năm Trầu (chị vợ của nhà thơ Lê Điệp) đã được ông hun húc tinh thần các nhân vật trong tiểu thuyết “Cù lao Tràm” lừng lẫy. Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn tiết lộ nguồn tư liệu để một người gốc Bắc như ông có thể viết được “Cù lao Tràm” mang không khí sông nước Cửu Long: “Chủ yếu ở những cuốn sách về đất và người Nam bộ của các học giả trong, ngoài nước đang nằm im trong Thư viện tổng hợp TP.HCM. Tôi chỉ may mắn đọc được và chuyển thể thành tiểu thuyết. Do một mình không đủ sức gánh vác, nên tôi nhờ chị Năm Trầu ở Bến Tre và em Chín Huệ ở Cà Mau chia sẻ”.

Sống bằng nghề, thì thu nhập của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn như thế nào? Tập truyện ngắn đầu tay “Tôi vẫn trở về nhà máy cũ” do Nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1978, được trả nhuận bút 4000 đồng (lương cán sự bậc 5 lúc ấy được 72 đồng) đủ để ông mua một căn nhà mặt tiền trên đường Hai Bà Trưng khu vực trung tâm TP.HCM. Nhuận bút tiểu thuyết đầu tay “Những khoảng cách còn lại” in năm 1980 với tổng số 160 nghìn bản, đủ để ông mua một miếng đất 1200 mét vuông khu vực làng hoa Gò Vấp, hiện tại làm trường mầm non Hoa Mai do con gái của ông điều hành.

Nhuận bút nước ngoài trả cho nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, hoàn toàn không giống như sự đồn thổi hay sự tưởng tượng. Tiểu thuyết “Đứng trước biển” dịch sang tiếng Pháp năm 1983 được trả nhuận bút là một chai rượu vang thương hiệu Bordeaux, dịch sang tiếng Nhật năm 1984 được trả nhuận bút là một hộp bút loại xịn ở xứ sở Phù Tang. Tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại” dịch sang tiếng Nga năm 1989 được trả nhuận bút 3500 rúp (thời giá tương đương 1,2 triệu đồng Việt Nam, mua được 4 chỉ vàng).

Còn nhuận bút kịch bản phim nước ngoài cũng oái oăm như nhuận bút sách. Năm 2008, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn nhận được 1,4 tỷ đồng cho kịch bản phim truyền hình “Huyền sử thiên đô” 72 tập, 700 triệu đồng cho kịch bản phim truyền hình “Thái sư Trần Thủ Độ” 35 tập. Cùng lúc, ông được hãng phim BiFrost của Mỹ mời sang đảo du lịch Cebu của Philippines và lo toàn bộ chi phí ăn ở đi lại, để viết kịch bản phim. Trong vòng ba tháng, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết được hai kịch bản phim “Nước mắt phương xa” và “Thủ lĩnh”, mỗi kịch bản phim được trả 14 ngàn USD (thời giá tương đương 450 triệu đồng Việt Nam).

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sử dụng chất liệu văn chương rất linh hoạt. Từ tiểu thuyết, ông dễ dàng chuyển thể sang điện ảnh, và ngược lại. Ví dụ, tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại” được ông viết thành kịch bản phim “Xa và gần”, còn kịch bản phim “Biển sáng” thì ông viết thành tiểu thuyết “Đứng trước biển”. Có sở trường đặc biệt ở dòng văn chương mang tính luận đề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thú nhận, hầu hết tác phẩm của ông đều được sáng tác theo đơn đặt hàng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp trớ trêu, như năm 1987, ông được Ty Thủy lợi Đắk Lắk đón đưa nồng nhiệt hơn cả tháng để viết về thành tựu xây dựng hồ đập. Thế nhưng ông chỉ viết được kịch bản phim tài liệu 45 phút “Giọt nước cao nguyên”, và dành phần lớn kết quả chuyến đi cho tiểu thuyết “Yêu như là sống” phản ánh thanh niên đô thị lập nghiệp trên những đồi cà phê. Ông khẳng định: “Nếu Nhà nước đặt viết về những điều tốt đẹp của Nhà nước, tôi sẽ viết về những điều tốt đẹp mà tôi thấy. Trường hợp chẳng có điều gì tốt đẹp, tôi sẽ viết về những ước muốn tốt đẹp, cuộc đấu tranh cho những điều tốt đẹp. Cho đến nay, đơn đặt hàng của các hãng phim, các đài truyền hình và nhà xuất bản, đến tay tôi, toàn yêu cầu viết tác phẩm chính luận chống tiêu cực, chống tham nhũng, lên án sự tha hóa của con người, của lớp cán bộ có chức có quyền nhưng mất phẩm chất”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm