TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chua ngọt một đời cầm bút

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-26 18:46:02
mail facebook google pos stwis
689 lượt xem

Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh, phối hợp cùng gia đình nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, vừa tổ chức thành công buổi ra mắt hai tác phẩm mới: “Chua ngọt đời văn”“Kẻ khôn hơn vua”. Trong không khí ấm áp và nhiều cảm hứng của buổi giao lưu, một số tham luận giá trị đã được trình bày, góp thêm những góc nhìn sâu sắc về hành trình sáng tác của ông.

Văn Chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thiếu Nhơn như một tiếp nối của cuộc trò chuyện đẹp này.

LÊ THIẾU NHƠN

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sinh ngày 31/10/1945 tại Sóc Sơn, Hà Nội. Thuở thiếu niên đam mê bóng đá, nhưng ông không có cơ hội trở thành cầu thủ chuyên nghiệp. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp trung học ở Trường Chu Văn An, ông cùng 8000 bạn bè đồng trang lứa tham gia đoàn thanh niên xung phong Tháng Tám, tạm biệt Thủ đô để tỏa về những vùng khó khăn góp tay xây dựng cuộc sống mới. Ông được phân công nhiệm vụ ở Trạm cơ giới trồng rừng Dốc Đỏ đóng trên địa bàn Đông Triều, Quảng Ninh. Nơi đây, ông tập tành viết lách, và chính thức chào sân văn chương bằng truyện ngắn “Đêm sương muối” đoạt giải ba cuộc thi viết do Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức năm 1968.

Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn phát biểu tại buổi ra mắt sách - Ảnh: N.H.

Cùng thế hệ với Tô Ngọc Hiến, Lê Hường, Nam Ninh, Chử Văn Long, Trần Dũng, Phạm Ngọc Chiểu, Lưu Nghiệp Quỳnh, Đỗ Bảo Châu… trưởng thành trong dòng chảy văn học công nhân, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn được điều chuyển về Công ty Ô tô lâm sản Hà Nội năm 1970. Loanh quanh 36 phố phường vài tháng, ông phát hiện mình cần thực tế để viết, nên đăng ký tình nguyện vào Hương Sơn, Hà Tĩnh làm lái xe tiếp vận cho chiến trường miền Nam. Non sông thống nhất, ông được tuyển chọn nhân sự cho Cục Báo chí và Xuất bản miền Nam, chính thức có mặt tại đô thị phương Nam tháng 11/1975 và định cư đến bây giờ.

Hồi ký “Chua ngọt đời văn” của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không viết theo trình tự thời gian. Ông thông qua 11 cuộc trao đổi với các đồng nghiệp thân thiết, để kể lại quá trình sáng tạo của bản thân, từ câu chuyện “Nhà văn có thể sống bằng nghề?” đến câu chuyện “Nên có cách để nhà văn bớt yếu thế”. Trong hồi ký, ông bày tỏ quan niệm: “Tôi viết văn chỉ với mục đích sống bằng nghề và vì một xã hội tốt đẹp hơn, nên luôn bắt đầu ở mức thấp nhất, vừa với sức mình, để còn đi đường dài… Từ khi quyết định chọn khiêm tốn thử sống bằng nghề, tôi mới ngộ ra, văn chương càng ít hoang tưởng thì hành trình sáng tác càng thoáng”. Đồng thời, trong hồi ký, ông cũng phác họa bức tranh sinh hoạt văn chương một thời: “Khi bắt đầu nổi lên với mấy tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại”, “Đứng trước biển”, “Cù lao Tràm”, tôi hay được các hội văn nghệ, nhà máy, xí nghiệp, trường đại học mời đến nói chuyện hoặc thảo luận về văn học. Hồi ấy, chưa có văn hóa phong bì. Nói chuyện xong, thường được đãi bữa nhậu, rồi kèm theo quà. Ở các tỉnh, họ đưa lên xe chục ký gạo, lạc, đậu xanh hay vài ký tôm khô, kèm giấy chứng nhận hợp pháp để khỏi bị quản lý thị trường tịch thu. Còn ở thành phố Hồ Chí Minh, thì họ cho bột ngọt, thịt cá hộp, thùng mì tôm…”.

Chủ trương sống bằng nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn xin rời biên chế để ưu tiên toàn bộ tâm sức cho chữ nghĩa. Ông không chỉ viết văn, mà lấn sang cả sân khấu, điện ảnh và truyện hình. Tạm tổng kết gia tài Nguyễn Mạnh Tuấn cho đến khi ra mắt hồi ký “Chua ngọt đời văn”, ông có 9 tập truyện ngắn, 12 tiểu thuyết, 17 kịch bản phim chiếu rạp, 23 kịch bản phim truyền hình nhiều tập, 2 kịch bản sân khấu và 2 bộ truyện thiếu nhi 11. Để có được khối lượng tác phẩm đồ sộ như vậy, không thể không nhắc đến một may mắn của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là nhận được sự thấu hiểu và sự hỗ trợ hết mực từ bạn đời – nhà thơ Hà Phương. Nhờ khả năng thu vén mọi sự lớn nhỏ của người vợ tào khang, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn yên tâm đọc rồi viết và viết rồi đọc. Thậm chí, nhà thơ Hà Phương còn lo liệu phát hành sách cho chồng, làm phiên dịch cho chồng mỗi khi làm việc với đối tác quốc tế.

Hồi ký “Chua ngọt đời văn” đầy ắp chi tiết lôi cuốn của một tác giả nhiều trải nghiệm văn chương. Bởi lẽ, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ có những tác phẩm ăn khách, mà ông cũng là người duy nhất trong giới cầm bút đương thời phải mất 7 năm theo đuổi một vụ kiện để lấy lại danh dự, vì những kẻ tung ra tài liệu giả mạo để cáo buộc bôi nhọ ông vi phạm bản quyền kịch bản phim “Hải đường trắng”. Khi hai tiểu thuyết “Đứng trước biển” và “Cù lao Tràm” bùng lên một hiện tượng xã hội, ông cũng trải qua ngày tháng sống giữa sự phản ứng gay gắt và sự ủng hộ ấm áp. Hơn thế nữa, sức ảnh hưởng từ trang viết đã giúp ông có cơ hội gặp gỡ những lãnh đạo hàng đầu quốc gia như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Định…

Trong hồi ký “Chua ngọt đời văn”, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hé lộ ông từng đính hôn với Chín Huệ, em gái của đồng nghiệp Dương Thanh Bình ở Cục Báo chí Xuất bản miền Nam. Ông đã về Thới Bình, Cà Mau hạnh ngộ Chín Huệ và hứa hẹn trăm năm. Dù hoàn cảnh trớ trêu khiến đám cưới không thành, nhưng tính cách Chín Huệ cùng với thái độ sống của nguyên mẫu Năm Trầu (chị vợ của nhà thơ Lê Điệp) đã được ông hun húc tinh thần các nhân vật trong tiểu thuyết “Cù lao Tràm” lừng lẫy. Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn tiết lộ nguồn tư liệu để một người gốc Bắc như ông có thể viết được “Cù lao Tràm” mang không khí sông nước Cửu Long: “Chủ yếu ở những cuốn sách về đất và người Nam bộ của các học giả trong, ngoài nước đang nằm im trong Thư viện tổng hợp TP.HCM. Tôi chỉ may mắn đọc được và chuyển thể thành tiểu thuyết. Do một mình không đủ sức gánh vác, nên tôi nhờ chị Năm Trầu ở Bến Tre và em Chín Huệ ở Cà Mau chia sẻ”.

Sống bằng nghề, thì thu nhập của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn như thế nào? Tập truyện ngắn đầu tay “Tôi vẫn trở về nhà máy cũ” do Nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1978, được trả nhuận bút 4000 đồng (lương cán sự bậc 5 lúc ấy được 72 đồng) đủ để ông mua một căn nhà mặt tiền trên đường Hai Bà Trưng khu vực trung tâm TP.HCM. Nhuận bút tiểu thuyết đầu tay “Những khoảng cách còn lại” in năm 1980 với tổng số 160 nghìn bản, đủ để ông mua một miếng đất 1200 mét vuông khu vực làng hoa Gò Vấp, hiện tại làm trường mầm non Hoa Mai do con gái của ông điều hành.

Nhuận bút nước ngoài trả cho nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, hoàn toàn không giống như sự đồn thổi hay sự tưởng tượng. Tiểu thuyết “Đứng trước biển” dịch sang tiếng Pháp năm 1983 được trả nhuận bút là một chai rượu vang thương hiệu Bordeaux, dịch sang tiếng Nhật năm 1984 được trả nhuận bút là một hộp bút loại xịn ở xứ sở Phù Tang. Tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại” dịch sang tiếng Nga năm 1989 được trả nhuận bút 3500 rúp (thời giá tương đương 1,2 triệu đồng Việt Nam, mua được 4 chỉ vàng).

Còn nhuận bút kịch bản phim nước ngoài cũng oái oăm như nhuận bút sách. Năm 2008, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn nhận được 1,4 tỷ đồng cho kịch bản phim truyền hình “Huyền sử thiên đô” 72 tập, 700 triệu đồng cho kịch bản phim truyền hình “Thái sư Trần Thủ Độ” 35 tập. Cùng lúc, ông được hãng phim BiFrost của Mỹ mời sang đảo du lịch Cebu của Philippines và lo toàn bộ chi phí ăn ở đi lại, để viết kịch bản phim. Trong vòng ba tháng, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết được hai kịch bản phim “Nước mắt phương xa” và “Thủ lĩnh”, mỗi kịch bản phim được trả 14 ngàn USD (thời giá tương đương 450 triệu đồng Việt Nam).

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn sử dụng chất liệu văn chương rất linh hoạt. Từ tiểu thuyết, ông dễ dàng chuyển thể sang điện ảnh, và ngược lại. Ví dụ, tiểu thuyết “Những khoảng cách còn lại” được ông viết thành kịch bản phim “Xa và gần”, còn kịch bản phim “Biển sáng” thì ông viết thành tiểu thuyết “Đứng trước biển”. Có sở trường đặc biệt ở dòng văn chương mang tính luận đề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thú nhận, hầu hết tác phẩm của ông đều được sáng tác theo đơn đặt hàng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp trớ trêu, như năm 1987, ông được Ty Thủy lợi Đắk Lắk đón đưa nồng nhiệt hơn cả tháng để viết về thành tựu xây dựng hồ đập. Thế nhưng ông chỉ viết được kịch bản phim tài liệu 45 phút “Giọt nước cao nguyên”, và dành phần lớn kết quả chuyến đi cho tiểu thuyết “Yêu như là sống” phản ánh thanh niên đô thị lập nghiệp trên những đồi cà phê. Ông khẳng định: “Nếu Nhà nước đặt viết về những điều tốt đẹp của Nhà nước, tôi sẽ viết về những điều tốt đẹp mà tôi thấy. Trường hợp chẳng có điều gì tốt đẹp, tôi sẽ viết về những ước muốn tốt đẹp, cuộc đấu tranh cho những điều tốt đẹp. Cho đến nay, đơn đặt hàng của các hãng phim, các đài truyền hình và nhà xuất bản, đến tay tôi, toàn yêu cầu viết tác phẩm chính luận chống tiêu cực, chống tham nhũng, lên án sự tha hóa của con người, của lớp cán bộ có chức có quyền nhưng mất phẩm chất”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm