TIN TỨC

Miên man Xuân Lợi

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-11-23 09:09:23
mail facebook google pos stwis
2154 lượt xem

PHẠM XUÂN NGUYÊN

 

(Đọc tập thơ Nghiêng phía miên man của Xuân Lợi, NXB Hội Nhà Văn, 2024)

Không phải vì tên tập thơ mà tôi đặt tên bài viết này như vậy. Nhưng cũng đúng là vậy, chính vì câu thơ “nghiêng phía miên man” đã như một ký hiệu cho tôi nhận ra tâm hồn và cảm xúc của tác giả tập thơ. Xuân Lợi như không viết thơ mà anh mượn câu từ cho những rung động của hồn mình chảy thành vần điệu. Mà tâm hồn Xuân Lợi lại rất dễ rung động, vang ngân trước bất kỳ biểu hiện nào của cuộc sống. Ngỡ như anh nhìn vào đâu cũng tìm cách gieo vần gọi thơ. Thơ đó là người đó, câu này vận vào được cho Xuân Lợi. Anh gọi thơ mình là “nhâm nhi bối rối” nghĩ cũng đúng. Thơ Xuân Lợi mộc mạc và chân thật.

Ta hãy đọc những bài thơ riêng tư của anh, tức là những bài anh viết từ cuộc sống của gia đình mình, bản thân mình. Xuân Lợi viết về người Mẹ goá bụa từ tuổi hai mươi, ở vậy sáu mươi năm làm dâu, nhớ mẹ Om cơm môi mớm cho con đến giờ. Câu thơ nửa đầu “om cơm môi mớm” là nhớ lại cảnh mẹ nuôi mình hồi bé dại theo cách cổ truyền của mẹ nông thôn Việt Nam, nửa sau “cho con đến giờ” là thấy mình sáu mươi năm cuộc đời vẫn còn bé dại trong mắt mẹ, vẫn phải nhờ vào sự chăm sóc của mẹ. Năm tròn một vòng đời hoa giáp (2019) anh viết bài “Tự tình” như một chân dung tự hoạ.

 

Buồn vui công chức vô thường

Băn khoăn trăn trở khôn nhường... ấy ơi

Thầm thì “Múa gọi là” chơi

Gửi hồn con số nhắn lời minh linh....

 

“Múa gọi là” là cách tác giả đọc lái tên tập thơ trước của mình “Lá gọi mùa”. Nhưng ba chữ đọc lái đó lại nói được tâm trạng người của một công chức trong bộ máy, múa may gọi là sống ở đời. Thân xác thì ngày ngày gắn với bàn giấy, với nghiệp kế toán con số mà câu thơ tự trào có thể làm bật cười trên vê dưới chỉnh nhầm đường lửng lơ, còn tâm hồn thì để ở nơi nhắn lời minh linh. Hai chữ “minh linh” này tác giả dùng ở mấy chỗ trong tập thơ, giải nghĩa nó ra e mông lung, mà đọc lên lại cũng thấy mông lung. Thôi thì “ấy ơi” là ai ơi sẽ hiểu nỗi lòng của người cất tiếng gọi đó. “Em ơi có bao nhiêu sáu mươi năm cuộc đời” lời một bài hát đã réo rắt bao lâu nay trong lòng người, thì lời thơ Xuân Lợi cũng ngậm ngùi như vậy Nổi chìm phận kiếp duyên sinh / Sáu mươi chóng vánh đời mình là bao.

Ở bài thơ mà tên bài được lấy làm tên tập Xuân Lợi nói nỗi lòng người cha đối với đứa con gái học trường Y. Chỉ hai câu Con chăm học vì yêu mẹ nhất / Ít vu vơ vì sợ ba buồn đã nói được cả lòng mẹ cha và tính cách người con. Tấm lòng cha thương con được diễn tả rất cụ thể, rất thật, đọc lên thấy rưng rưng:

 

Ba cưng chiều thương từng bữa cơm

Lo da diết lưng rau thiếu cá

Con gái mê canh chua măng khế

Dăm ba ngày điện hỏi han con

Nhưng tình thương của người cha đối với con gái không chỉ ở cơm ăn nước uống khi xa nhà. Xuân Lợi kết lại bài thơ bằng nỗi lo đường đời cho con. Khi con cái rời vòng tay cha mẹ bước ra đời, bước vào xã hội, những bậc sinh thành vừa mừng vừa lo. Cái lo biến thành cái nghĩ. Cái nghĩ không biết làm sao giúp được con, không cách nào còn có thể cầm tay dắt con đi như hồi bé dại hoá thành nỗi miên man đau đáu trong tâm trí. Con gái tính mơ màng bồng bột / Trở mình cha nghiêng phía miên man. Bốn chữ cuối câu thơ cuối bài thơ đã nói được bằng thơ nỗi niềm ám ảnh người cha, và người đọc thơ từ đó lại bị ám ảnh nỗi niềm này.

Nhà thơ  Xuân Lợi

Cũng nỗi lòng người cha nhưng là nỗi đau tột cùng của người cha mất đứa con trai. Bài thơ “Rụng rời” Xuân Lợi ghìm tiếng khóc, tiếng nấc tiếc thương con, đau cho mình trước cảnh “lá xanh rụng xuống, lá vàng ở lại”, nhìn ảnh con trên bàn thờ mà âm dương chia lìa Tượng hình chai bóng nghe nói chẳng thưa lời. Nghiêng phía miên man của Xuân Lợi là nghiêng về những nỗi niềm thân phận như vậy. Miên man chìm đắm.

Từ phận mình Xuân Lợi chạm đến những phận người khác, như những người lính vượt sông Thạch Hãn năm nào để nhìn sông bây giờ thấy đó là nghĩa trang sông: Đêm chới với dòng sông màu đỏ / Nghĩa trang sông không nấm mộ/ Dòng tên. Đã nhiều người viết về dòng sông Thạch Hãn đau thương bi hùng trong 81 ngày đêm chiến đấu giữ Thành cổ Quảng Trị với nhiều câu thơ buốt nhói lòng. Xuân Lợi góp vào đó một thanh xuân đôi mắt trong veo của người em gái bây giờ bên nghĩa trang sông nhìn gì ngấn nước xa xăm. Thế đã đủ ngấm cái giá của chiến thắng hôm qua và hoà bình hôm nay. Vốn cũng từng là người lính nên Xuân Lợi nhạy cảm với những hy sinh của đồng đội không chỉ trong thời chiến mà cả thời bình. Anh đã có thơ cho những đồng đội trẻ đã hy sinh khi giúp đồng bào miền Trung những ngày bão lụt dữ dội mấy năm qua, với cảnh: Em gào thét thương nhớ biển sóng mênh mông/ Âu chờ, lạ thành quen vọng phu hóa đá/ Nghĩa trang nào đếm được tình rừng xanh trút lá/ Bảo tàng đâu đong nước mắt đêm thâu ới chồng!

Xuân Lợi học đại học tài chính kế toán, ra trường đã đánh bạn với con số tính toán từ Sở công nghiệp Bình Trị Thiên đến Sở Thuỷ sản rồi Sở Nông nghiệp Quảng Trị cho đến ngày về hưu tại quê nhà. Đời công chức nhàn nhạt tháng ngày đã được anh nói đến trong thơ bằng những câu thơ mang vị tự trào như trong bài thơ đã dẫn trên. Nhưng đấy là con người công sở giữa bốn bức tường khép kín. Còn con người cảm xúc, người thơ ở Xuân Lợi thì khi ra với bên ngoài, đến với những công trình công việc của nghề nghiệp mình lại dễ dàng rung lên những xúc động ân tình. Nhưng ở mảng thơ tôi gọi là “viết ngoài mình” này Xuân Lợi thường chưa đi tới được mình trong thơ. Ở đây chính sự miên man có khi làm anh lan man kể lể trong thơ, nhất là ở những bài anh viết về những việc những sự ở bên ngoài, nhân một dịp nào đấy. Thơ kỷ niệm không phải là không đáng viết, không thể viết hay, nhưng nhà thơ chỉ viết được hay khi có xúc động đủ độ chín, không nệ vào sự thực ngoại cảnh mà phải lấy độ chín của cảm xúc của tâm hồn. Những bài đứng được trong tập thơ này của Xuân Lợi chính là khi tác giả viết từ vang động của tâm hồn trước thực tại. Người đọc không biết và không cần biết cảnh này ở đâu, người ấy là ai, việc đó thế nào, chỉ biết tâm hồn nhà thơ đã rung lên trong vần điệu câu chữ làm hồn mình cũng rung lên. Cái miên man trong thơ Xuân Lợi như vậy nên cần thiết là của tình chứ không phải của kể. Nếu được muốn, tôi muốn thơ anh vẫn là cứ miên man và “vu vơ” (tên một bài trong tập) của tâm hồn. Như ở bài anh viết về đám cưới con gái thư lấy chồng miền biển ở Hạ Long thì hai câu cuối là có thể đọng lại tình: Bờ cũ sóng say ôm hôn mãi / Biển vỗ bờ ru ôm cát hát yêu. 

Thơ miên man cũng dễ khiến người thơ lơ lửng mà bài “Bỗng quên” là bài có thể đại diện được nhất cho hồn thơ Xuân Lợi. Các trạng thái bất chợt “im, nghe, buồn, hay, thương, đau, thèm, ghen, hờn” sau chữ “bỗng” là biểu hiện cụ thể của những nhớ nhung, luyến tiếc, xót xa, nó là những âm cao của cung đàn tình yêu, để khi tất cả những trạng thái đó rút lại vào “Bỗng hồn” thì chùng xuống trong một nốt trầm “Bỗng quên”. Thể thơ lục bát ở đây tăng thêm nhạc tính cho thơ khiến hồn và tình càng chơi vơi, vì thế bài thơ tưởng nhẹ nhàng mà day dứt. Nói tới lục bát của thơ Xuân Lợi thì có thể kể thêm bài “Tóc nâu một người”. Bài thơ vào đầu nói nắng trưa nhưng đến cuối lại ra đêm rằm, chắc tác giả để mạch cảm xúc miên man dắt đi, hoặc giả tác giả muốn nói cây cau ở hai thời điểm khác nhau để diễn tả được ý thơ. Câu thơ Ngực căng bẹ sữa tròn đầy ái ân tôi đọc giật mình vì chưa thấy ai tả cái bẹ cau hoặc so sánh ngực thiếu phụ với bẹ cau đậm sắc dục đến vậy. Đọc thơ Xuân Lợi đôi lúc giật mình khoái chá được nhâm nhi nhấm nháp những câu thơ so sánh bất ngờ không có chữ “như” như vậy. Hãy đọc thêm hai câu này: Biết em thời lúa đòng thì con gái /  Hương đồng ngậm sữa hạt mẩy đa tình (Ngập ngừng rưng rưng).

Điệu tâm hồn miên man lơ lửng của Xuân Lợi lại dễ buông cho những câu thơ dãn ra dặt dìu đến có lúc chữ chen chữ cuốn nhau đi. Hình như đó là cách tác giả tạo nhạc tính cho câu thơ để diễn tả lòng mình. Bài thơ vì vậy có khi cốt ở nhạc chứ không phải ở ý. Có phải vì thế mà một số nhạc sĩ đã tìm thấy cảm hứng ở thơ anh để phổ thành lời ca tiếng nhạc mà bài “Nhớ hoài sông trăng” viết về con sông Nhật Lệ (Quảng Bình) là thí dụ tiêu biểu. Hoặc như bài “Hoa Mua” viết theo thể thơ NamKau, trong một câu nhắc lại cách chơi chữ “hoa mua ai bán mà mua”. Nhưng cả bài là một điệu thương hoa, say hoa, say tình bằng những câu chữ buông lơi mà chỉ đọc thôi đã phải nương theo nhịp và nhạc của câu thơ:

 

Hoa mua giọt tím đong đầy mi mắt

Hương vàng phảng phất điệu đàng lưng ong lượn

Mảnh mai ai bán đòi mua..!

 

Rực rỡ hơn thua dễ gì mùa hoa dại

Môi son mềm mại liệu thắm mãi sợ hơn phai…

Xuân Lợi thường đặt những câu trải dài miên man này vào cuối bài để kết lại mà mở ra, để tạo cảm xúc ngân nga vương vấn. Những thanh không thanh huyền, những vần nối nhau trong một câu vì vậy hay được tác giả sử dụng. Và khi đọc những câu những bài như vậy của Xuân Lợi thường khi cũng đừng dùng logic luận lý để suy luận, so đo. Thơ mà!

 

Cầu vồng đa sắc làn mây mong manh ửng đôi má

Dạ hương thơm mát nhấn nhá trái ngọt đầu cành.

(Dạ hương)

 

Chiều xuân hoa sóng nắng ru người.

                                                        Ngóng trông bật khóc

Bóng lung linh thoáng chốc ngờ ngợ…

                                                        rơi nghiêng mất rồi!

(Rơi nghiêng mất rồi)

 

Đôi mắt trao nhau chới với hơn ngàn lần ân ái

Tình lỡ xao lòng ngần ngại mãi bâng khuâng!

(Mãi bâng khuâng)

 

Nhưng cũng có khi Xuân Lợi chơi kiểu cách thơ. Như ở bài “Dễ gì như sóng” ở khổ cuối anh ghép những chữ đầu các câu thơ in đậm thành một câu có nghĩa, và toàn khổ thơ gieo một vần bằng.

 

Dễ gì như sóng

Mới hiểu yêu em đau đớn nhường nào!

Mới biết môi hồng lần đầu mặn mà làm sao!

Mới cảm yêu em đến dại khờ thiết thao!

Mới thông nỗi hẹn hò thương nhớ biết bao…

Hoặc nữa, Xuân Lợi có một bài tôi đọc thấy rùng mình. Bài thơ tả một cô gái trong mắt của người thơ mà câu chữ hình ảnh cho thấy là gái đẹp, đẹp một cách mỹ miều. Lại là gái đẹp trong cảnh ngày xuân. Đọc bốn câu đầu nói mắt môi má tóc thì nghĩ chỉ nhìn thấy thôi là đã muốn yêu. Vậy mà tác giả hạ một câu chốt thì khiến người đọc sững sờ. Dáng người. Nhĩn quá! Rợn da… “Nhĩn” là gì mà nhĩn quá thì người ngắm vẻ đẹp thấy rợn da? Và hai chữ cuối của câu chốt được lấy làm tên bài thơ.

 

Nắng xuân trôi thấp sà ngang

Mong manh tang mỏng như nàng thèm yêu

Má đào lúng liếng mỹ miều

Môi thơm mắt đắm tóc Kiều mây sa…

 

Dáng người. Nhĩn quá. Rợn da…

Thơ Xuân Lợi miên man là thế. Anh có khi mộc mạc, chất phác. Lại có khi có những câu thơ, ý thơ bất ngờ, tinh tế. Hình như anh đã có lựa chọn của mình khi đến với văn chương, đi vào cõi thơ. Chữ nghĩa văn chương anh coi là trọng, không phải kiểu viết lời suông. Thơ với anh không phải cố tỏ ra gào rú tỏ tiếc thương, không phải cảm tác như vẽ xót thương, không phải gồng mình lên cố tỏ ra bi luỵ bi kịch bi thảm. Nhà thơ phải tìm đúng lời nói đúng lời của chữ nghĩa văn chương, nghĩa là phải chân thật, thật với mình và thật với người. Thật từ trong lòng mình ra, không vay mượn, đắp điếm, tô vẽ: Sầu khô thôi đi màn kịch tính / Lời gì đúng chữ nghĩa văn chương.

Khi đã xác quyết được cho mình một lẽ sống về thơ như vậy, tôi tin Xuân Lợi sẽ tiếp tục miên man với thơ với đời đầy đặn ân tình.

 Hà Nội, cuối Thu 2024

 P . X .

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm