TIN TỨC

Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-21 18:43:11
mail facebook google pos stwis
414 lượt xem

TRẦN QUANG KHANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

 

BÌA TAP THO - CHAM CHAM CHIEU.. (1)

 

Đã có biết bao những cảm nhận, tỏ bày tôn kính, tình yêu thương dành cho đấng sinh thành với mạch chảy dường như bất tận trên diễn đàn thi ca Việt. Có lẽ đề tài muôn thuở sẽ không có điểm dừng khô cạn mà mãi chảy tỏa như thanh âm rì rầm, vang vọng của tiếng suối trước miên viễn thời gian... Đó cũng là tiếng lòng, tiếng nói hồn nhiên nơi cảm thức của nhà thơ Thảo Vi qua hành trình sáng tác gần bốn thập kỉ của chị. Những tình cảm thiêng liêng cứ chứa chan, lặng lẽ ngấm vào con chữ, bên cạnh bao cảm xúc tình yêu, hoài niệm mái trường, nỗi nhớ quê hương... Từ tập thơ đầu "Nỗi nhớ mênh mông" (VN Châu Đốc, 1988) rồi lần lượt các tập thơ, tản văn tiếp sau. Cho đến tập thơ gần nhất "Chầm chậm chiều" (Nxb Đà Nẵng, 2022), thơ Thảo Vi vẫn đong đầy nghĩa cử sâu nặng yêu thương hướng về đấng sinh thành.

Nhà thơ Thảo Vi tên thật là Hồ Thị Huỳnh Đào, sinh năm 1958 tại An Giang. Chị là một nữ hiệu trưởng, nhà giáo đã hưu trí. Năm 1986, chị đoạt Giải Ba Cuộc thi thơ do Hội Văn nghệ An Giang phối hợp với Sở Giáo Dục- Đào tạo tỉnh tổ chức. Năm 2013, chị nhận “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam” và năm 2020 được trao tặng thưởng Cuộc thi Thơ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Thơ Thảo Vi mang vẻ đẹp son sắt, trìu mến, dịu dàng từ một tâm hồn phụ nữ đầy hoài niệm, bao dung và thấu hiểu.

Người cha từ bao đời luôn là chỗ dựa vững chãi của gia đình. Vị thế mạnh mẽ ấy như để giúp các con bám giữ "chất lửa" giữa cuộc sống vốn nhiều chông gai, thử thách muôn trùng. Nhất là khi những đứa con thơ ấy bước vào biển cả cuộc đời... Bài thơ “Nhớ Ba” của chị phải chăng vì thế là tiếng lòng khắc khoải từ dòng hồi ức, chứa đựng sự tri ân "chất lửa" từ cha, với sự thổn thức, vang vọng đến tận hôm nay?

“Ba - người đàn ông có đôi tay tài hoa

Một tâm hồn nghệ sĩ

Và trái tim cả đời chỉ biết dành để yêu vợ, thương con…”

Cách dẫn vào đề trực diện, chẳng chút vòng vèo. Sự miêu tả ban đầu tựa như tác giả đang kể lại một câu chuyện, hay một trang nhật ký đời mình nhưng lại như mở ra những hình dung, suy ngẫm về sau.

“Bàn tay ba thả hồn vào những chiếc lá tơ non

Những cánh tròn cho nụ hoa chớm nở

Những cánh sen sắc hồng vàng tím đỏ

Đẹp lung linh"

Trong tâm cảm tác giả, mọi thứ vốn bắt đầu "Từ bàn tay cần mẫn của ba”... Cảm xúc mộc mạc, chân phương bởi lời tâm sự hồn nhiên, chân thật về một thời quá khứ của chính tác giả. Kỷ niệm thuở thiếu thời được nhìn ngắm qua đôi mắt con trẻ trong veo. Và được tô vẽ lung linh dưới lăng kính tưởng tượng đầy màu sắc. Câu thơ đọc lên tựa lời kể, tạo nét gần gũi với tâm hồn bạn đọc.

Biểu tượng "búp sen" rất giàu sức gợi. Dẫu mọc giữa bùn lầy sen vẫn thuần khiết, ngát hương như đã từ xa xưa trong cảm thức nhân gian. Sen là loài hoa thanh tịnh, cao quý, đài các... Sen hiện ra từ đôi bàn tay của cha thô nhám... Hay sen là đóa hoa nở giữa hồn người nghệ sĩ? Đoạn thơ giữa bài trôi theo những miền tưởng nhớ. Những kỷ niệm, những hình ảnh ngày xưa chợt hiện về trong tâm trí người con:

“Mắt không quên nhìn ba, từng nét vẽ...

Bàn tay ba thành thạo những điều mới mẻ

Những dây thiều, cây cốt, bánh xe

Cái đồng hồ… nhắc nhở tiếng thời gian trôi, trôi mãi…”

Âm điệu thơ thật tự nhiên, mênh mang, dễ gợi niềm hoài cổ cho những ai bồi hồi liên tưởng cái thuở gần gũi bên cha, bên mẹ. Được nghe lời răn dạy, tiếng vỗ về ủi an như khơi dậy, tái tạo thêm niềm tin yêu cuộc sống... Cách diễn đạt ấy mang yếu tố tự sự trữ tình. Giọng thơ ấm áp, thiết tha, lúc nào cũng ngụ ý gửi lòng yêu thương, kính phục người cha - "Ba làm nghề vì lẽ mưu sinh/Nhưng lương tâm người thợ ba đặt lên trên hết”... Mấu chốt để định hướng, đánh giá một người chẳng phải giàu hay nghèo vật chất, tiền của mà là nhân cách, lẽ sống với người thân, hành vi lao động nghề nghiệp cũng như cách cư xử với hàng xóm, cộng đồng. Nghề nghiệp nào cũng đáng tự hào, trân quý nếu ta dùng sự lương thiện và trong sạch để làm thước đo, lẽ tồn tại. Ở đời, chỉ ngại kẻ nghèo nhân cách, phẩm hạnh! Với cô con gái bé nhỏ ấy: Cha hiện lên trong ánh mắt tự hào.

Trong ký ức nơi chị, cha đã tự thân nghiên cứu, miệt mài "cứu chữa" cho những “vị thần thời gian” giữa màn đêm thinh lặng. Chỉ có thể cảm nhận, thấu hiểu với một sự chia sẻ lặng thầm:

“Đôi khi mồ hôi ba thấm vai

Trí óc ba không quen ngơi nghỉ

Đêm đêm bên ngọn đèn bình, tỉ mỉ

Ba cố tìm “căn bệnh” giữa những... lặng thinh”.

Chị nhớ người cha đã luôn chịu thương chịu khó, mày mò, tận tụy với nghề... Hơn thế nữa, chính sự thả mình vào lời ca tiếng hát mỗi đêm, với niềm đam mê trong sâu thẳm tâm hồn của ông giữa bao đau đáu, bộn bề... Những bài bản vắn, vọng cổ cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thăng hoa, nét tài tử, nghệ sĩ toát ra từ người cha ấy... 

“Con nhớ ba, nhớ những tiếng tơ cứ lắng đọng, ngân nga

cung bậc bổng trầm âm vang đêm vắng

người thợ trải lòng qua khúc Phụng Cầu Hoàng, Nam Ai, Bản Vắn...

Ba hóa thành người Nghệ sĩ trong con!…

Ông không chỉ là người thợ tận tâm trong công việc đời thường mà còn là một nghệ sĩ tài hoa, đáng trân quý.

Ta từng nghe người xưa ví von: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”... Tình cảm bao la, đầy sự hy sinh của mẹ thật vô cùng thiêng liêng và sâu sắc dường bao. Người ta cũng thường ca thán "ôi lòng mẹ bao la hơn cả đất trời"... Nhà thơ Thảo Vi khi tuổi đã về đông, chợt ngồi lại nhìn về dĩ vãng. Để rồi chị ngẫm suy về “Dòng sông của mẹ”:

“Chẳng hiểu tự bao giờ

Con nước ngọt ngào ôm hai bờ sông Hậu

Chẳng hiểu tự bao giờ

Con sống trong lòng mẹ yêu dấu"

Một thoáng lắng sâu mơ màng, tác giả chợt băng mình chảy về nguồn thơ, chạm vào mạch sống mang tên: Mẹ. Bút pháp nghệ thuật đối lập như càng tô khắc đậm những cảm xúc thiết tha. 

“Mẹ cho con uống nước sông hiền hậu

Thay sữa mẹ cạn bầu”.

Đoạn thơ khai mở bởi dư vị của ấm nồng, ngọt ngào của dòng nước quê hương. Đó là những khúc hát ru êm ái được phả tâm hồn thương yêu vào đó, đưa tuổi thơ đi vào giấc ngủ, đồng thời cũng là khúc hát ru sóng sánh, long lanh thấm đượm nỗi niềm riêng, hay là nỗi ao ước khi nghĩ tưởng xa xôi hoặc có đôi lúc tự dưng bật ra những lời thổ lộ tâm tình... 

“Mẹ ru con nhịp sóng tròn yêu thương”

 

“Nhờ sông lồng lộng, nhờ câu ru hời

Thế rồi con lớn lên mau

Để nghìn năm vẫn là sông 

xuôi vào lòng mẹ mặn nồng lời ru...”

Tứ thơ thật lắng đầy. Đó là vẻ mênh mông, rộng lớn nhiều chiều kích của dòng sông vốn là hình ảnh ẩn dụ, ngụ ẩn những cung bậc cảm xúc, những ứng biến hóa thân vào dòng đời, những chặng đường thăng trầm của một đời phiêu dạt - bồng bềnh... Đó là dòng cảm xúc “nhớ mong” của sóng; cảm xúc trăn trở, xôn xao, bồn chồn “sóng vỗ trong lòng” khiến tâm tư trĩu nặng, xáo trộn, rối bời... Thậm chí dâng lên cao trào đỉnh điểm trong nhân cách hóa khi “nghe sông thở dài”. Thế rồi chất thơ từ cuộc đời vẫn dường như bất biến. Khổ cuối chợt biến tấu với thi ảnh đẹp chan hòa, gợi lên niềm lạc quan, trân quý cuộc sống. Một kì vọng đẹp, dịu dàng và đầy nhân hậu:

“...Mặt trời lên hẹn hò hai bến bờ

Dòng sông bỗng hóa thành thơ

Để ngàn năm vẫn vàng mơ lúa đồng

Để ngàn năm vẫn là sông…”

Ở bài “Quê hương mẹ”, ta như nghe lời thảng thốt, rung cảm tận đáy lòng của người con đã không còn gặp mẹ nữa giữa cõi trần này: "Từ khôn lớn con xa vòng tay mẹ/ Xa quê hương... ôi! nhung nhớ nào bằng”

Nỗi nhớ thật dịu dàng, da diết quá đỗi:

 

Nhớ đường làng, gian nhà nhỏ, bến sông trăng

Và mẹ hỡi, nhớ mẹ hơn tất cả

Mái tóc mẹ đẹp mây chiều mùa hạ

Chút thiên thần dìu dịu xuống hồn con

 

Và nhà thơ đau đáu một khi đọc được trong ánh mắt và cõi lòng người mẹ: Thương yêu - lo lắng - khắc khoải chờ trông...

“Sông nước quê ta bốn mùa vẫn chảy

Mắt mẹ buồn theo sóng nước mênh mông”

“Mắt mẹ triền thâm vạn thuở sầu”... Khép lại bài thơ là lời khuyên dạy con cái ăn ở hiền lành, không làm điều tổn thương kẻ khác, luôn giữ gìn những nhân hậu, tin yêu (Mẹ dạy con hiền ngoan như chim sẻ/ Yêu thật thà…). Người con hiếu kính ấy cũng đã có lời tâm nguyện với mẹ: "Mẹ hiền hỡi dù tháng ngày bóng xế/ Con cũng về sửa lại mái nhà xưa...

Cảm thức nhà thơ xuôi ngược theo cuộc hành trình ký ức, suy ngẫm để thấu hiểu, cảm thương cho mẹ. Và tình yêu ấy cứ mãi dạt dào, thiết tha theo quãng dài năm tháng.

 

Thao Vi 1 (2)

Nhà thơ Thảo Vi

 

Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

Một thời đa truân, bộn bề nỗi vất vả, lo toan. Làm mẹ, rồi làm bà. Trải nghiệm bao ân nghĩa giữa cõi hiện sinh. Giờ đây, tác giả men theo lối nhớ tìm về những hình bóng cũ... Đời người có gì thiết tha sâu nặng hơn? Có gì lắng đọng bình yên hơn? Mỗi khi ta được trở về bên cha bên mẹ, trở về trong ánh sáng yêu thương.

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm