TIN TỨC

Thơ Thảo Vi và cội nguồn ánh sáng yêu thương

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-21 18:43:11
mail facebook google pos stwis
512 lượt xem

TRẦN QUANG KHANH

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

 

BÌA TAP THO - CHAM CHAM CHIEU.. (1)

 

Đã có biết bao những cảm nhận, tỏ bày tôn kính, tình yêu thương dành cho đấng sinh thành với mạch chảy dường như bất tận trên diễn đàn thi ca Việt. Có lẽ đề tài muôn thuở sẽ không có điểm dừng khô cạn mà mãi chảy tỏa như thanh âm rì rầm, vang vọng của tiếng suối trước miên viễn thời gian... Đó cũng là tiếng lòng, tiếng nói hồn nhiên nơi cảm thức của nhà thơ Thảo Vi qua hành trình sáng tác gần bốn thập kỉ của chị. Những tình cảm thiêng liêng cứ chứa chan, lặng lẽ ngấm vào con chữ, bên cạnh bao cảm xúc tình yêu, hoài niệm mái trường, nỗi nhớ quê hương... Từ tập thơ đầu "Nỗi nhớ mênh mông" (VN Châu Đốc, 1988) rồi lần lượt các tập thơ, tản văn tiếp sau. Cho đến tập thơ gần nhất "Chầm chậm chiều" (Nxb Đà Nẵng, 2022), thơ Thảo Vi vẫn đong đầy nghĩa cử sâu nặng yêu thương hướng về đấng sinh thành.

Nhà thơ Thảo Vi tên thật là Hồ Thị Huỳnh Đào, sinh năm 1958 tại An Giang. Chị là một nữ hiệu trưởng, nhà giáo đã hưu trí. Năm 1986, chị đoạt Giải Ba Cuộc thi thơ do Hội Văn nghệ An Giang phối hợp với Sở Giáo Dục- Đào tạo tỉnh tổ chức. Năm 2013, chị nhận “Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam” và năm 2020 được trao tặng thưởng Cuộc thi Thơ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Thơ Thảo Vi mang vẻ đẹp son sắt, trìu mến, dịu dàng từ một tâm hồn phụ nữ đầy hoài niệm, bao dung và thấu hiểu.

Người cha từ bao đời luôn là chỗ dựa vững chãi của gia đình. Vị thế mạnh mẽ ấy như để giúp các con bám giữ "chất lửa" giữa cuộc sống vốn nhiều chông gai, thử thách muôn trùng. Nhất là khi những đứa con thơ ấy bước vào biển cả cuộc đời... Bài thơ “Nhớ Ba” của chị phải chăng vì thế là tiếng lòng khắc khoải từ dòng hồi ức, chứa đựng sự tri ân "chất lửa" từ cha, với sự thổn thức, vang vọng đến tận hôm nay?

“Ba - người đàn ông có đôi tay tài hoa

Một tâm hồn nghệ sĩ

Và trái tim cả đời chỉ biết dành để yêu vợ, thương con…”

Cách dẫn vào đề trực diện, chẳng chút vòng vèo. Sự miêu tả ban đầu tựa như tác giả đang kể lại một câu chuyện, hay một trang nhật ký đời mình nhưng lại như mở ra những hình dung, suy ngẫm về sau.

“Bàn tay ba thả hồn vào những chiếc lá tơ non

Những cánh tròn cho nụ hoa chớm nở

Những cánh sen sắc hồng vàng tím đỏ

Đẹp lung linh"

Trong tâm cảm tác giả, mọi thứ vốn bắt đầu "Từ bàn tay cần mẫn của ba”... Cảm xúc mộc mạc, chân phương bởi lời tâm sự hồn nhiên, chân thật về một thời quá khứ của chính tác giả. Kỷ niệm thuở thiếu thời được nhìn ngắm qua đôi mắt con trẻ trong veo. Và được tô vẽ lung linh dưới lăng kính tưởng tượng đầy màu sắc. Câu thơ đọc lên tựa lời kể, tạo nét gần gũi với tâm hồn bạn đọc.

Biểu tượng "búp sen" rất giàu sức gợi. Dẫu mọc giữa bùn lầy sen vẫn thuần khiết, ngát hương như đã từ xa xưa trong cảm thức nhân gian. Sen là loài hoa thanh tịnh, cao quý, đài các... Sen hiện ra từ đôi bàn tay của cha thô nhám... Hay sen là đóa hoa nở giữa hồn người nghệ sĩ? Đoạn thơ giữa bài trôi theo những miền tưởng nhớ. Những kỷ niệm, những hình ảnh ngày xưa chợt hiện về trong tâm trí người con:

“Mắt không quên nhìn ba, từng nét vẽ...

Bàn tay ba thành thạo những điều mới mẻ

Những dây thiều, cây cốt, bánh xe

Cái đồng hồ… nhắc nhở tiếng thời gian trôi, trôi mãi…”

Âm điệu thơ thật tự nhiên, mênh mang, dễ gợi niềm hoài cổ cho những ai bồi hồi liên tưởng cái thuở gần gũi bên cha, bên mẹ. Được nghe lời răn dạy, tiếng vỗ về ủi an như khơi dậy, tái tạo thêm niềm tin yêu cuộc sống... Cách diễn đạt ấy mang yếu tố tự sự trữ tình. Giọng thơ ấm áp, thiết tha, lúc nào cũng ngụ ý gửi lòng yêu thương, kính phục người cha - "Ba làm nghề vì lẽ mưu sinh/Nhưng lương tâm người thợ ba đặt lên trên hết”... Mấu chốt để định hướng, đánh giá một người chẳng phải giàu hay nghèo vật chất, tiền của mà là nhân cách, lẽ sống với người thân, hành vi lao động nghề nghiệp cũng như cách cư xử với hàng xóm, cộng đồng. Nghề nghiệp nào cũng đáng tự hào, trân quý nếu ta dùng sự lương thiện và trong sạch để làm thước đo, lẽ tồn tại. Ở đời, chỉ ngại kẻ nghèo nhân cách, phẩm hạnh! Với cô con gái bé nhỏ ấy: Cha hiện lên trong ánh mắt tự hào.

Trong ký ức nơi chị, cha đã tự thân nghiên cứu, miệt mài "cứu chữa" cho những “vị thần thời gian” giữa màn đêm thinh lặng. Chỉ có thể cảm nhận, thấu hiểu với một sự chia sẻ lặng thầm:

“Đôi khi mồ hôi ba thấm vai

Trí óc ba không quen ngơi nghỉ

Đêm đêm bên ngọn đèn bình, tỉ mỉ

Ba cố tìm “căn bệnh” giữa những... lặng thinh”.

Chị nhớ người cha đã luôn chịu thương chịu khó, mày mò, tận tụy với nghề... Hơn thế nữa, chính sự thả mình vào lời ca tiếng hát mỗi đêm, với niềm đam mê trong sâu thẳm tâm hồn của ông giữa bao đau đáu, bộn bề... Những bài bản vắn, vọng cổ cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thăng hoa, nét tài tử, nghệ sĩ toát ra từ người cha ấy... 

“Con nhớ ba, nhớ những tiếng tơ cứ lắng đọng, ngân nga

cung bậc bổng trầm âm vang đêm vắng

người thợ trải lòng qua khúc Phụng Cầu Hoàng, Nam Ai, Bản Vắn...

Ba hóa thành người Nghệ sĩ trong con!…

Ông không chỉ là người thợ tận tâm trong công việc đời thường mà còn là một nghệ sĩ tài hoa, đáng trân quý.

Ta từng nghe người xưa ví von: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”... Tình cảm bao la, đầy sự hy sinh của mẹ thật vô cùng thiêng liêng và sâu sắc dường bao. Người ta cũng thường ca thán "ôi lòng mẹ bao la hơn cả đất trời"... Nhà thơ Thảo Vi khi tuổi đã về đông, chợt ngồi lại nhìn về dĩ vãng. Để rồi chị ngẫm suy về “Dòng sông của mẹ”:

“Chẳng hiểu tự bao giờ

Con nước ngọt ngào ôm hai bờ sông Hậu

Chẳng hiểu tự bao giờ

Con sống trong lòng mẹ yêu dấu"

Một thoáng lắng sâu mơ màng, tác giả chợt băng mình chảy về nguồn thơ, chạm vào mạch sống mang tên: Mẹ. Bút pháp nghệ thuật đối lập như càng tô khắc đậm những cảm xúc thiết tha. 

“Mẹ cho con uống nước sông hiền hậu

Thay sữa mẹ cạn bầu”.

Đoạn thơ khai mở bởi dư vị của ấm nồng, ngọt ngào của dòng nước quê hương. Đó là những khúc hát ru êm ái được phả tâm hồn thương yêu vào đó, đưa tuổi thơ đi vào giấc ngủ, đồng thời cũng là khúc hát ru sóng sánh, long lanh thấm đượm nỗi niềm riêng, hay là nỗi ao ước khi nghĩ tưởng xa xôi hoặc có đôi lúc tự dưng bật ra những lời thổ lộ tâm tình... 

“Mẹ ru con nhịp sóng tròn yêu thương”

 

“Nhờ sông lồng lộng, nhờ câu ru hời

Thế rồi con lớn lên mau

Để nghìn năm vẫn là sông 

xuôi vào lòng mẹ mặn nồng lời ru...”

Tứ thơ thật lắng đầy. Đó là vẻ mênh mông, rộng lớn nhiều chiều kích của dòng sông vốn là hình ảnh ẩn dụ, ngụ ẩn những cung bậc cảm xúc, những ứng biến hóa thân vào dòng đời, những chặng đường thăng trầm của một đời phiêu dạt - bồng bềnh... Đó là dòng cảm xúc “nhớ mong” của sóng; cảm xúc trăn trở, xôn xao, bồn chồn “sóng vỗ trong lòng” khiến tâm tư trĩu nặng, xáo trộn, rối bời... Thậm chí dâng lên cao trào đỉnh điểm trong nhân cách hóa khi “nghe sông thở dài”. Thế rồi chất thơ từ cuộc đời vẫn dường như bất biến. Khổ cuối chợt biến tấu với thi ảnh đẹp chan hòa, gợi lên niềm lạc quan, trân quý cuộc sống. Một kì vọng đẹp, dịu dàng và đầy nhân hậu:

“...Mặt trời lên hẹn hò hai bến bờ

Dòng sông bỗng hóa thành thơ

Để ngàn năm vẫn vàng mơ lúa đồng

Để ngàn năm vẫn là sông…”

Ở bài “Quê hương mẹ”, ta như nghe lời thảng thốt, rung cảm tận đáy lòng của người con đã không còn gặp mẹ nữa giữa cõi trần này: "Từ khôn lớn con xa vòng tay mẹ/ Xa quê hương... ôi! nhung nhớ nào bằng”

Nỗi nhớ thật dịu dàng, da diết quá đỗi:

 

Nhớ đường làng, gian nhà nhỏ, bến sông trăng

Và mẹ hỡi, nhớ mẹ hơn tất cả

Mái tóc mẹ đẹp mây chiều mùa hạ

Chút thiên thần dìu dịu xuống hồn con

 

Và nhà thơ đau đáu một khi đọc được trong ánh mắt và cõi lòng người mẹ: Thương yêu - lo lắng - khắc khoải chờ trông...

“Sông nước quê ta bốn mùa vẫn chảy

Mắt mẹ buồn theo sóng nước mênh mông”

“Mắt mẹ triền thâm vạn thuở sầu”... Khép lại bài thơ là lời khuyên dạy con cái ăn ở hiền lành, không làm điều tổn thương kẻ khác, luôn giữ gìn những nhân hậu, tin yêu (Mẹ dạy con hiền ngoan như chim sẻ/ Yêu thật thà…). Người con hiếu kính ấy cũng đã có lời tâm nguyện với mẹ: "Mẹ hiền hỡi dù tháng ngày bóng xế/ Con cũng về sửa lại mái nhà xưa...

Cảm thức nhà thơ xuôi ngược theo cuộc hành trình ký ức, suy ngẫm để thấu hiểu, cảm thương cho mẹ. Và tình yêu ấy cứ mãi dạt dào, thiết tha theo quãng dài năm tháng.

 

Thao Vi 1 (2)

Nhà thơ Thảo Vi

 

Giọng thơ trầm bổng, khoan nhặt. Thi ảnh chân phương mà thật gợi cảm và tinh tế. Có lúc ta cảm nhận được những man mác ngậm ngùi, nỗi hối tiếc đan xen niềm hoài vọng, mơ tưởng. Thơ Thảo Vi có sự hòa phối các biện pháp nghệ thuật với dụng ý làm nổi bật nội dung, tư tưởng cốt lõi. Đó là tâm thức cội nguồn, chạm đến đỉnh điểm của tình cảm thương yêu, thấu hiểu với cõi lòng của đấng sinh thành. Thơ Thảo Vi là tiếng gọi đầy trìu mến, sâu lắng dư âm từ những thi hứng đậm cảm xúc trữ tình.

Một thời đa truân, bộn bề nỗi vất vả, lo toan. Làm mẹ, rồi làm bà. Trải nghiệm bao ân nghĩa giữa cõi hiện sinh. Giờ đây, tác giả men theo lối nhớ tìm về những hình bóng cũ... Đời người có gì thiết tha sâu nặng hơn? Có gì lắng đọng bình yên hơn? Mỗi khi ta được trở về bên cha bên mẹ, trở về trong ánh sáng yêu thương.

T.Q.K

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm