TIN TỨC

Mùa xuân tràn vào chén đắng…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
167 lượt xem

Tuệ Mỹ

(Đọc bài thơ “Thuốc đắng” của Mai Văn Phấn)

Lời đề từ “Cho Ngọc Trâm”, ghi dưới tiêu đề bài thơ, cho bạn đọc hiểu rằng, tác giả Mai Văn Phấn đã viết “Thuốc đắng” cho cô con gái nhỏ của ông. Bài thơ cho biết khi con gái bị sốt cao, nhà thơ phải túc trực dõi theo và đã ép con mình uống thuốc. Những phức cảm trong tâm trạng của nhà thơ đã xuất hiện trong bài thơ này. Đó là nỗi lo âu, phấp phỏng dẫn đến hoảng hốt, những suy tư trong đợi chờ, hy vọng… Tình huống ấy vừa như tảng đá đè nặng lên ông, vừa như sợi dây thòng lọng vô hình treo lơ lửng phía trước ông. Cũng từ đó, tứ thơ của Mai Văn Phấn đã bất ngờ xuất hiện, thăng hoa rực rỡ trong những giờ phút khó quên. Bài thơ viết về tình cha con, nhưng chạm đến những ẩn ức và trăn trở của tác giả, nên đã mở cho bạn đọc nhiều chiều kích của tưởng tượng, những liên tưởng khác nữa.


Nhà thơ Mai Văn Phấn.

Khác với nhiều bài thơ viết cho con, thường mang âm hưởng ngọt ngào êm dịu, Mai Văn Phấn đã mở đầu “Thuốc đắng” bằng những âm điệu chói gắt, đầy kịch tính và gây sốc: “Cơn sốt thiêu con trên giàn lửa/ Cha cũng có thể thành tro nữa”. Câu thơ đầu tiên trong bài bầy đặt trước mắt người đọc một khung cảnh rộng với ngọn lửa rực cháy đang bén dần đến giàn thiêu người. Chữ “giàn lửa” xuất hiện đột ngột diễn tả đầy đủ tâm trạng hốt hoảng đến tột độ của người cha trước cơn sốt của con. Câu thơ cho thấy người cha như đang bị thiêu đốt trước sức nóng của “ngọn lửa”. “Cha cũng có thể thành tro nữa”. Tác giả đã giấu đi không muốn gọi tên điều ông lo sợ nhất có thể xảy ra, là con gái bé bỏng của ông có thể không vượt qua cơn sốt. Một trường từ vựng về lửa (sốt – thiêu – lửa – tro) được trình hiện diễn tả đỉnh cao cơn sốt đang thiêu đốt cơ thể con ông, đồng thời biểu đạt tâm trạng ông lúc đó. Hai câu thơ mở đầu này như “động lệnh” mà không có “dự lệnh”. Tức hành động, hiện tượng bất ngờ xảy ra làm người xem/ nghe/ đọc không khỏi giật mình. Cách ông gọi tên các “động lệnh” này làm cho người đọc liên tưởng tới tiếng sấm, tiếng rạn nứt của tảng băng lớn, hay chiếc cốc thủy tinh bất ngờ rơi vỡ…

Tác giả tạo ra “động lệnh” ấy nhằm biểu đạt một thái độ dứt khoát trong cách lựa chọn hành động tiếp theo. Chỉ có một trong hai phương án phải chọn: uống thuốc hay không uống? Tồn tại hay không tồn tại? Phương án mà tác giả đã chọn cho con mình cũng là cho chính mình: “Thuốc đắng không chờ được rồi”. Ở đây tác giả chú trọng từ “đắng”. Vị “đắng” lúc này mới cứu được con khỏi bệnh. Nhưng có đứa trẻ nào ưa vị “đắng” và sẵn sàng uống thứ thuốc ấy? Tác giả đã quyết định hành động thật dứt khoát (có phần thô bạo!): “Giữ tay con/ Cha đổ”. “Cha đổ” là câu thơ cực ngắn duy nhất trong bài được đặt ở vị trí đặc biệt nhằm kết thúc một hành động có chủ đích: cứu người! Với suy đoán ban đầu của tôi, thì khổ thơ đầu của bài thơ sẽ được kết thúc sau câu thơ cực ngắn này. Nhưng thật bất ngờ với câu thơ tiếp theo diễn tả tâm trạng “Ngậm ngùi thả lòng chén vơi…”, đây mới là câu cuối của khổ thơ đầu. Câu thơ xếp ở vị trí này cho thấy sự “ngậm ngùi” đã âm thầm song hành cùng mọi suy nghĩ và hành động của người cha kể từ câu thơ đầu tiên. Nó cũng chỉ xuất hiện khi con gái nhỏ đã uống xong chén thuốc của cha.

Khổ thơ đầu có thể được coi là đoạn song thoại giữa cha và con. Mặc dù bạn đọc không thấy giọng nói của con được ghi lại trong văn bản thơ, nhưng vẫn có thể tưởng tượng thấy cô con gái bé nhỏ của nhà thơ đang chống chọi với cơn sốt và biểu hiện thái độ giao tiếp bằng hành động như, gật hoặc lắc đầu, nhắm mắt, thiêm thiếp…

Từ khổ thơ thứ hai đến kết thúc bài thơ là giọng độc thoại-trữ tình của tác giả. Ranh giới không gian giữa khổ thơ đầu và khổ thứ hai, theo tôi, không ngăn cách rõ nét, mà nó mờ nhòe bởi tình yêu thương của người cha đã phủ tràn lên đứa con ngay từ câu thơ đầu tiên của bài thơ. Đọc lại câu thơ “Ngậm ngùi thả lòng chén vơi…” có thể thấy, đây chính là mối hàn kín, bền chặt giữa không gian song thoại và độc thoại. Cũng chính từ “mối hàn” này mà người viết bài này đã hình dung (dù tác giả không thể hiện trên văn bản thơ) cô con gái của Mai Văn Phấn đã hạ sốt sau khi uống thuốc và bắt đầu ngủ được.

“Con ơi! Tí tách sương rơi/ Nhọc nhằn vắt qua đêm lạnh”. Nhà thơ nói với con, gọi lúc con đã ngủ, nhưng thực ra ông đang nói với chính mình, đã yên tâm hơn vì con ông vừa vượt qua cơn sốt. Đến đây tôi phỏng đoán, có thể nhà thơ đã ngồi cách con mình một khoảng cách nhất định. “Khoảng cách” ấy giúp cho không gian tưởng tượng của ông mở ra bất tận với nhiều liên tưởng về thế thái nhân tình, về thiên nhiên, vũ trụ. Ông đã âm thầm nói với con về quy luật của đời sống, về sự tồn tại mong manh nhưng đầy linh diệu của kiếp người và vạn vật. Như giọt sương rơi phát ra âm thanh “tí tách” kỳ diệu kia đã được “vắt” qua đêm đông giá lạnh nhọc nhằn. Câu thơ còn với hàm nghĩa, đêm đông đã phải quặn mình, lắng lòng lại mới chắt được những giọt sương trong suốt đang rơi xuống. Tiếp đến ý thơ khác nhưng vẫn nằm trong mạch suy tưởng trên: “Và những cánh hoa mỏng mảnh/ Đưa hương phải nhờ rễ cay”. Ở đây tác giả muốn nói với con rằng, khi tỉnh dậy con sẽ nhìn thấy những cánh hoa mỏng mảnh tỏa hương ngoài vườn kia, nhưng nó không tự nhiên mà có, mà phải nhờ cả thân cây, cánh lá nuôi dưỡng và che chở, nhất là chùm rễ nằm trong đất luôn âm thầm hút dưỡng chất để nuôi cây nuôi hoa. Trong câu thơ có một từ rất đặc sắc là “rễ cay”. Khi mới đọc, tôi ngỡ văn bản in nhầm “cây” thành “cay”, nhưng đây đúng là cách dùng từ độc đáo của Mai Văn Phấn. Rễ của mỗi loài cây thường có hương vị riêng, nhưng tác giả đã chọn vị “cay” cho bài thơ này. Vị “cay” của rễ làm nên những cánh hoa mỏng manh tỏa hương làm ta nhớ đến câu tục ngữ “Thuốc đắng giã tật”. Phải chăng tiêu đề bài thơ “Thuốc đắng” được khởi nguồn từ câu tục ngữ này?

Nếu khổ thơ thứ hai tác giả liên tưởng tới thiên nhiên, vũ trụ, thì khổ thơ thứ ba là những suy tưởng của ông về thế sự, về cuộc sống đương thời. “Mồ hôi keo thành chai tay/ Mùa xuân tràn vào chén đắng/ Tuổi cha nước mắt lặng lặng/ Sự thật khóc òa vu vơ”. Ở đây không còn là những liên tưởng nhân-quả như khổ thơ thứ hai nữa mà chính là bức tranh xã hội, thời đại mà nhà thơ đang sống. Câu thơ “Mồ hôi keo thành chai tay” nói về quy luật nhân sinh, sự lao động vất vả đã để lại dấu tích trên bàn tay con người. Ngay sau câu thơ này, hình ảnh “mùa xuân” tràn về bất ngờ xuất hiện, nhưng tác giả không cho nó lan tỏa trên mặt đất hay phủ ngập không gian mà “tràn vào chén đắng”. Vậy “chén đắng” ở đây là chén gì? Và tại sao lại là “chén đắng”? Với cảm nhận của riêng tôi, “chén đắng” trong khổ thơ này chính là những nhọc nhằn, cam go, cả những bất công, oan khuất mà con người phải gánh chịu. Với tuổi đời trải nghiệm của người cha lúc ấy (tác giả viết bài thơ “Thuốc đắng” lúc 36 tuổi) mà những giọt nước mắt của ông đã “lặng lặng” chảy vào bên trong tâm can, cùng những “Sự thật khóc òa vu vơ”. Tiếng khóc òa lên “vu vơ” ấy là tiếng khóc không rõ nguyên cớ và khóc cũng không ai nghe… Đó là tiếng khóc của người phải chịu những trái ngang, oan uổng… Đến đây xin được “rẽ ngang” mạch viết, bởi tôi gặp trong bài thơ có hai từ lạ: “rễ cay” và “lặng lặng”. Tôi đã thử thay thế “lặng lặng” bằng những từ đồng nghĩa, như lẳng lặng, lặng thầm, lặng lẽ, lặng câm, trĩu nặng, đè nặng… thấy đều không đắt như từ trong văn bản thơ. Hai từ này có thể ghi nhận sự sáng tạo từ vựng của Mai Văn Phấn.

“Con đang ăn gì trong mơ/ Cha để chén lên cửa sổ/ Khi lớn bằng cha bây giờ/ Đáy chén chắc còn bão tố”. Đến khổ thơ cuối này tác giả đã đưa bạn đọc sang một không gian khác. Đây là lúc con gái ông đã vượt qua cơn sốt và chắc đang mơ được ăn món gì đó rất ngon. Động tác của người cha “để chén lên cửa sổ” đã mang cho bạn đọc liên tưởng lạ. Đây chính là chiếc chén mà con gái nhà thơ đã uống hết liều thuốc có vị đắng. Chính nơi mà tác giả vừa đặt chiếc chén lên đó, đã cho người đọc cảm nhận, nơi ấy không còn là bệ cửa sổ nhà ông nữa, mà nó là bờ của dòng thời gian, hay ví khác đi chính là bờ của con sông cuộc đời đang cuộn chảy. Dòng thời gian ấy tiếp tục chảy mãi, và nhà thơ đã hình dung khi con gái mình lớn lên, bằng tuổi ông lúc ấy (36 tuổi), thì bão tố cuộc đời chắc vẫn chưa nguôi trong đáy chén kia. Mỗi câu thơ trong bài đã truyền cho người đọc sự xúc động khôn nguôi về tình cha con. Nhưng câu thơ kết “Đáy chén chắc còn bão tố” đã làm thay đổi diện mạo, sắc thái của tất cả những câu thơ trong bài. Đây không còn là câu chuyện riêng của cha và con, của tác giả bài thơ với cô con gái bé bỏng, mà là câu chuyện của xã hội, của kiếp người, của nhân loại.

Theo nhà thơ Mai Văn Phấn, bài thơ “Thuốc đắng” đã khai mở thế giới thơ của ông: “Phải chăng, nỗi lo sợ, bồn chồn của tôi khi nhìn thấy con mình trong cơn sốt cao, lúc tự tay tôi ép con phải uống thuốc, và nhiều suy tư trăn trở lúc đó đã dẫn tôi tới “xung chấn”. Nó kích hoạt nguồn năng lượng tiềm ẩn trong con người tôi, khai mở nhãn quan đặc biệt để tôi nhìn thấy những điều vi diệu mà trước đây chưa được biết. Phải chăng đó là không gian thơ?[ “Không gian khác” của Mai Văn Phấn. Sách phê bình – tiểu luận. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2016.]”. Những suy tư trăn trở của Mai Văn Phấn khi đất nước vừa mở cửa, không chỉ của riêng ông mà của chung mọi người dân nước ta vào đầu những năm 90. Vào thời điểm ấy, những tàn dư của tư tưởng bảo thủ thời bao cấp vẫn còn ngự trị trong xã hội, ẩn sâu dai dẳng trong góc khuất mỗi con người. Câu chuyện đứa con gái yêu của tác giả phải uống thuốc đắng cũng giống như xã hội ta khi ấy mang những căn bệnh nặng cần phải kịp thời chữa trị. Vậy muốn chấm dứt căn bệnh trầm kha ấy nhất định phải có thuốc chữa, dù đó là loại thuốc có vị “đắng”.

Năm nay, cô con gái của Mai Văn Phấn đã vào tuổi làm mẹ. Cô cũng đang trải nghiệm những lo toan, chăm sóc cho đứa con mình bằng tình mẫu tử thiêng liêng như tình phụ tử mà người cha đã dành cho cô. Chắc cô cũng có những ẩn ức về lịch sử, về nhân tình thế thái giống và có thể khác với tâm trạng của tác giả trong bài thơ này, bởi mỗi thế hệ đều có những trăn trở và hy vọng riêng và cả chung.

“Mùa xuân tràn vào chén đắng”. Dù có thể những người trạc tuổi Mai Văn Phấn (lúc viết bài thơ này) đang tiếp tục phải uống những chén thuốc có vị đắng khác, nhưng chúng ta luôn hy vọng và tin vào mùa xuân tươi xanh và sức sống mạnh mẽ. Hoa Ngọc Trâm cũng thường nở vào mùa xuân.

Bình Định, 22/10/2021

T.M

Thuốc đắng 
(Cho Ngọc Trâm)

Cơn sốt thiêu con trên giàn lửa
Cha cũng có thể thành tro nữa
Thuốc đắng không chờ được rồi
Giữ tay con
Cha đổ
Ngậm ngùi thả lòng chén vơi…

Con ơi! Tí tách sương rơi
Nhọc nhằn vắt qua đêm lạnh
Và những cánh hoa mỏng mảnh
Đưa hương phải nhờ rễ cay.

Mồ hôi keo thành chai tay
Mùa xuân tràn vào chén đắng
Tuổi cha nước mắt lặng lặng
Sự thật khóc òa vu vơ.

Con đang ăn gì trong mơ
Cha để chén lên cửa sổ
Khi lớn bằng cha bây giờ
Đáy chén chắc còn bão tố.

Mai Văn Phấn

(Rút từ tập thơ “Giọt nắng”, Hội Văn Nghệ Hải Phòng xuất bản, 1992)

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Một Nhà thơ – Thầy thuốc Nhân dân nặng lòng với chiến dịch phòng chống Covid tại TP.HCM
Một Nhà thơ – Thầy thuốc Nhân dân nặng lòng với chiến dịch phòng chống Covid tại TP.HCM
Xem thêm
Nhà văn Lê Văn Nghĩa – sống nghĩa tình, viết nghĩa nhân
… Nhưng, khi tin nhà văn Lê Văn Nghĩa vĩnh viễn ra đi, tôi và bạn bè anh, không chỉ bàng hoàng, tiếc thương, mà còn thấy rõ cái khoảng trống mà một nhà văn sống một cuộc đời nhân nghĩa và viết về nghĩa nhân, để lại.
Xem thêm
Nhà văn Lê Văn Nghĩa giữa biết cười và dám cười
Bây giờ, nhà văn Lê Văn Nghĩa không còn nữa.
Xem thêm
Nhớ Nguyễn Khải
Đó cũng là lần đầu tiên mình tin anh Khải khuyên mình chân thành nhất. Trước nay anh nói câu gì mình cũng khả nghi. Anh sống khéo nổi tiếng, chưa chê văn ai nửa câu. Hoặc khen hoặc không chứ chưa bao giờ chê.
Xem thêm
Nhớ Trần Thanh Phương - người giữ kỷ lục về sưu tập chân dung và bút tích nhà văn
Nhà báo Trần Thanh Phương và vợ (chị Phan Thu Hương, nhà giáo) sống thanh bạch bằng đồng lương và tiền nhuận bút.
Xem thêm
Góc hài hước: Chị MYZ
Chị đã hơn 40 tuổi vẫn xinh đẹp, đi đến chỗ nào rực rỡ chỗ đó, đám trai già như mình, ông nào ông nấy gãy lưỡi vì chi...
Xem thêm
Nhà văn Vũ Hạnh qua đời, thọ 96 tuổi
Trong suốt cuộc đời cầm bút, Vũ Hạnh nổi danh với nhiều tác phẩm, trong nhiều thể loại, chứng tỏ tầm vóc​ một cây bút đa tài.
Xem thêm
Người thầy truyền lửa và văn đức
Cám ơn sự có mặt của một “Người Việt cao quý” trên cuộc đời này, để thế hệ cầm bút chúng tôi có được người thầy trong văn nghiệp.
Xem thêm
Tôi làm phim về bác sĩ Trần Hữu Nghiệp
Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, Nhà giáo nhân dân, nhà văn? Ba con người ấy trộn lẫn, hòa quyện nhuần nhuyễn trong ông.
Xem thêm
Á Nam Trần Tuấn Khải - Tấm gương về nhân cách người cầm bút
Xuyên suốt hành trình hoạt động của mình, cụ Á Nam đã giữ tròn vẹn khí tiết của một nhân sĩ, một trí thức, nghĩa là Sống Đúng Với Những Gì Tạo Nên Mình. Là hậu duệ đời thứ 28 của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, cụ lớn lên cùng Nho học,
Xem thêm
Nhớ nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn lớn.
Xem thêm
Lưu Quang Vũ - dòng mưa ánh sáng
Vì sao nhan đề bài viết là “Lưu Quang Vũ, dòng mưa ánh sáng” mà không là “Văn chương Lưu Quang Vũ, dòng mưa ánh sáng?”
Xem thêm
Nhà văn ra đi để lại gì cho nhân thế?
Cách đây hơn hai tuần, nhà văn Vũ Hạnh mãi ra đi, dù không phải nhiễm Covid 19,
Xem thêm
Khi nhà văn nằm xuống, đồi núi của anh ta mới trồi lên
Ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ 9 giữa lúc nhiều thành phố trong cả nước phải giãn cách,
Xem thêm
Nhà văn Bích Ngân: Hiện diện cùng nỗi đau và chia sẻ nỗi đau đó, còn là phẩm hạnh của người cầm bút
Nhiều tháng qua, tôi không dám rời chiếc điện thoại. Phập phồng, hồi hộp, đợi chờ.
Xem thêm
Đọc CANH NĂM của Lê Thành Chơn
Trong 2 tập tiểu thuyết đồ sộ, nhà văn Lê Thành Chơn đã tỏ ra sắc sảo trong phát hiện
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Quốc Trung - người anh cao thượng của tôi
Chiều 10-9, nhà văn Nguyễn Quốc Trung đã trút hơi thở cuối cùng tại Quân y viện 175 sau 2 tuần chống chọi với Covid-19
Xem thêm
Nén hương cho một người cô độc
Đại tá, nhà văn Nguyễn Quốc Trung không vô danh.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Quốc Trung: Người về “Bên rừng thốt nốt”
Thân hình gầy gò mỏng mảnh, dong dỏng cao, nước da tái xạm, môi đen như kẻ chì, dáng đi hơi chúi về phía trước, ấy là nhà văn Nguyễn Quốc Trung.
Xem thêm
Đại tướng Phùng Quang Thanh và người thủ trưởng cũ
Khi được tuyên dương anh hùng, Phùng Quang Thanh là Thượng sĩ Trung đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Năm 1968, Phùng Quang Thanh tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị
Xem thêm