TIN TỨC

Huệ Triệu, một nhà giáo, nhà thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-11-19 21:43:26
mail facebook google pos stwis
680 lượt xem

NGUYỄN MINH NGỌC

Đội ngũ các nhà thơ xuất thân từ nhà giáo từ khắp mọi miền quê đất nước khá đông đảo. Riêng ở Sài Gòn, có thể kể đến các chị: Đặng Nguyệt Anh, Tôn Nữ Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Thanh Long, Huệ Triệu… Nét nổi bật trong thơ của các nhà sư phạm phái đẹp là sự đằm sâu, với nhiều tìm tòi mới mẻ, song vẫn giữ được sự điềm đạm, và đầy trách nhiệm công dân.

Quê gốc ở Hưng Yên, song nhà thơ Huệ Triệu lại chào đời ở Phú Thọ, nơi song thân chị công tác. Tên khai sinh của chị là Triệu Thị Huệ. Năng khiếu văn chương sớm bộc lộ, sau khi đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) học sinh giỏi văn toàn quốc, chị được tuyển thẳng vào Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn hệ đặc biệt 5 năm, ra trường, chị có trong tay tấm bằng Đại học và bằng Cao học.

Chuyển vào phương Nam lập nghiệp, thoạt đầu Huệ thử sức nghề báo ở một vài tờ báo lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng rồi chị cảm thấy không phù hợp. Dường như từ trong thẳm sâu ký ức, tiếng trống trường với những gương mặt học trò vẫy gọi chị; phấn trắng, bảng đen vẫn khôn nguôi ám ảnh. Thế là chị quyết trở về với bục giảng, đúng chỗ dành cho mình, để truyền đến những tâm hồn học trò trắng trong vẻ đẹp sâu lắng của văn chương. Say nghề, giỏi chuyên môn, cô giáo mau chóng khẳng định chỗ đứng với đồng nghiệp và học trò. Chuyển về Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong danh tiếng, nơi thuở trước là ngôi trường mang tên Pétrus Ký cổ kính ở Sài Gòn. Chỉ một năm sau (2006), cô giáo Triệu Thị Huệ được tín nhiệm phân công làm Trưởng bộ môn Văn của trường chuyên này.

Từ những rung cảm văn chương, hiện thực cuộc sống ngồn ngộn đã giúp cô giáo trẻ vừa cầm phấn vừa cầm bút. Dẫu đã bắt đầu sáng tác từ thời sinh viên, nhưng khi trở thành cư dân của thành phố, Huệ Triệu mới cho in tập thơ “Mùa cây thay lá” (Nhà xuất bản Thanh Niên, 2009). Những vần thơ tươi mới vừa xuất hiện được bạn đọc đón nhận và được các nhà thơ lớp trước khích lệ. Một số bài trong tập thơ đầu tay được chắp cánh bởi âm nhạc, đó là “Thời mười sáu tuổi” với nhạc sĩ Lê Minh Hải, rồi “Vắng anh” do nhạc sĩ Võ Công Diên, phổ nhạc… Hai năm sau, Huệ Triệu cho ra mắt thêm tập “Thức một miền xanh”. Vẫn nguồn mạch văn chương ấy nhưng được khơi rộng thêm trong dòng chảy thao thiết khôn cùng.

Nhưng phải đến tập “Cảm thức sông” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014) thì dường như Huệ Triệu đã vượt lên chính mình, cắm một dấu mốc trong hành trình tìm tòi, đổi mới đáng trân trọng. Thơ chị đắm say, tinh tế, đầy nữ tính mà không ra ngoài khuôn phép, mực thước. Với 45 bài, có thể nhặt ra rất nhiều bài hay, câu chữ đắm say, đặc biệt là tứ thơ của Huệ Triệu biến hoá, sâu lắng và đầy bất ngờ. Dịu dàng và nhỏ nhẹ, chị viết về hoa, về cỏ, về miền Trung du và người mẹ thân yêu của mình.

“Tim tím hoa xoan

 Bời bời gạo đỏ

Cải sắc vàng như nắng rắc bên sông  

Mang mang gió một thời thiếu nữ

 Miếng trầu người

 Cay đắng

 Ngọt thơm”

(Thưa Mẹ)

Trở về nơi chôn rau cắt rốn, ra thăm nơi yên nghỉ của đấng sinh thành, nhìn cảnh nhớ người, chị nghẹn lòng.

“Lá rơi hay tiếng vô thường

Nhoà sương bóng mẹ cuối đường liêu xiêu

… Gió đi lạc phía chân trời

Con đi lạc giữa muôn lời nhân gian”

(Nhớ mẹ mùa đông)

Với dòng sông quê hương, chị dành những câu thơ đầy ấm áp. Không phải ngẫu nhiên mà chùm thơ này được chọn làm đề tựa cho cả tập.

“Rưng rức nắng cải vàng hoa nở muộn

Mỗi đời sông như thể mỗi đời người

Phía con nước hạt phù sa đắp đổi

Phía đôi bờ thắc thỏm những buồn vui”

(Cảm thức sông)

Dường như ăng ten thi sĩ luôn trải rộng, nên hễ tới miền đất nào, từ Quảng Trị, ra Phú Quốc, rồi sang cả Luông Pha Băng (Lào)… Huệ Triệu đều có những cảm nhận của riêng mình. Ra quần đảo “Bão Tố”, chị có cả chùm thơ.

“Từ khơi xa

Những vòng hoa

Xoay trên

                    ến sóng”

(Vọng sóng)

Thay lời cho nhiều người chưa có may mắn được ra thăm quần đảo, chị thổn thức, suy ngẫm:

“Mỗi hạt cát Trường Sa

Đã trở thành máu thịt

Những tên đảo, tên người

Viết hoa thành Tổ quốc!”.

(Viết ở Trường Sa)

Có thể nói “Hương nhu ở đảo” là một trong những bài tác giả sử dụng thể thơ tự do, đậm màu thương nhớ. Như là văn xuôi mà vẫn mềm mại, rất thơ.

“Gió bạt gió tìm lá mềm như bàn tay vuốt nhẹ tóc em ngày anh ra đảo. Nỗi nhớ đất liền có hương tóc ủ hương cây.

… Những vạt hương nhu bời bời mong bàn tay người hái”.

Thơ của Huệ Triệu không dài dòng. Chị ưa thích lối thơ ngắn với cấu tứ đầy bất ngờ. Nhịp điệu câu thơ nhanh, dồn dập, lạ.

“Bến mộng/ Bờ mê/ Sông chiều/ Cạn gió

Một đời/ Quên nhớ/ Câu thề/ Đắm rêu!”

(Bước chữ)

Hay như khi chị viết: “Cầm mưa vay nắng trả ngày” (Viết cho mình). Trong bài “Cúc quỳ muộn nở”, Huệ Triệu có những câu thật hay, thật tài hoa.

“Em chạy ngược dốc quỳ phơ phất gió

Áo lơi cài vừa kịp lúc sương che

Rồi khi cảm xúc dâng trào, chị cũng không ngại ngần bộc bạch:

“Quắt lòng

Nỗi nhớ

Tuổi thơ soi một bóng lau gầy”

(Biền biệt Trung du)

Ngôn ngữ thơ Huệ Triệu luôn có sự tìm tòi, không dễ dãi, cho dẫu về những điều người đi trước đã viết. Lối diễn đạt tránh lối mòn đã tạo được nét thẩm mỹ rất riêng. Đọc những câu thơ mang âm hưởng Đường thi, sẽ thấy tác giả xử lý tỉnh táo biết nhường nào.

“Chiều Phú Quốc gió mềm tay khách lạ

Bến Hàm Ninh, biển hát dưới chân ghềnh”

(Phú Quốc - ngày em đến)

Và thật bất ngờ khi Huệ Triệu triết lý, nhẹ nhàng thôi mà vẫn thấm thía, khiến người đọc không khỏi giật mình.

“Tiếng chim trong lồng khát trời rộng

Con người nhoài về bóng râm, tầng lá vươn về ánh sáng

Có gì đáng sợ hơn một nụ hôn lợt lạt

Sông không thác ghềnh sao đáng một đời sông?”.

(Sự vừa phải)

Cùng với tập thơ “Đoản khúc trao mùa”, vừa giảng dạy, cô giáo văn còn mở sang cả địa hạt lý luận phê bình. Ấy là những bài viết được chọn vào tập “Tìm trong bóng chữ” sẽ trình làng nay mai. Năm 2023, Huệ Triệu đã thử sức ở thể loại trường ca. Tập “Người về trong hương” thể hiện miền xúc cảm thắm thiết và dào dạt lắng sâu trước nỗi đau mất mát lớn của cuộc đời.

Mảng thơ tình, rồi thơ lục bát của chị, đều mang dấu ấn rất riêng. Tập “Thơ tình Huệ Triệu - Trần Mai Hường” (2015) rồi tập “Lục bát Đặng Nguyệt Anh - Huệ Triệu - Trần Mai Hường” (2019) đều do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.

Một chặng đường thi ca của Huệ Triệu không chỉ được bạn đọc, nhất là người yêu thơ mến mộ và trân trọng, mà thơ chị được chọn đưa vào sách giáo khoa bậc tiểu học (Bộ kết nối). Ấy là các bài “Thu về” (lớp 1), “Cảm xúc Trường Sa” (lớp 4), “Thế giới trong trang sách” (lớp 5). Đó là một vinh dự không hề nhỏ.

Là một Thạc sĩ Ngữ văn có thâm niên trên bục giảng, được đồng nghiệp quý và học trò yêu mến, kính trọng, chị đứng chân trong Ban chấp hành Hội nghiên cứu và giảng dạy Thành phố Hồ Chí Minh. Từ danh hiệu “Nhà giáo tiêu biểu” của Quận 5 và Giải thưởng Võ Trường Toản (2019), chị được Nhà nước vinh danh “Nhà giáo Ưu tú” năm 2020. Ấy là kết quả xứng đáng của lao động sáng tạo và khát vọng toả sáng. Rõ là nghề không phụ người!

Với thành tựu sáng tác được ghi nhận qua các giải thưởng thơ, năm 2009, Huệ Triệu trở thành Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Và bốn năm sau, chị đường hoàng gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam.

Giờ đây, trở về với cuộc sống đời thường, nữ sĩ vẫn không ngừng vun bồi hồn thơ lai láng và sáng tác đều đặn. Với nghề giáo, chị vẫn tiếp tục gặp gỡ học trò, trao truyền cảm thụ văn chương, góp phần ủ bếp than hồng đượm cho tương lai. Cả hai tư cách, nhà giáo và thi nhân, Huệ Triệu là một gương mặt sáng giá.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm