TIN TỨC

“Nắng dậy thì” Rọi lòng sâu thẳm

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-09-27 13:08:10
mail facebook google pos stwis
1531 lượt xem

 

Nguyễn Phương Hà

         

(Đọc tập thơ “Nắng dậy thì” của Nguyễn Ngọc Hạnh, Nxb Hội Nhà văn, 2024)

 

Nắng dậy thì  là tập thơ thứ 4 trên hành trình sáng tạo của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. Ở tập thơ này, Nguyễn Ngọc Hạnh thể hiện nỗi buồn thẳm sâu của một tâm hồn nhạy cảm, tha thiết yêu thương và đầy niềm trắc ẩn, như nhà thơ tâm sự: “Cho đến tập thơ này, nỗi buồn vẫn là nguồn mạch thơ tôi” (Thay lời mở). Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh biểu hiện nỗi buồn gắn với một vùng quê cụ thể, với tình thân, bạn bè, người yêu, với dòng sông, bến nước, con đò, chợ quê hay cánh đồng làng. Những kỷ niệm thân thương và đau thương cứ “cằn cựa” trong tâm hồn người thơ để có những vần thơ độc đáo, đồng vọng trong lòng người đọc.

Vùng nhớ thương của Nguyễn Ngọc Hạnh là cái làng đầu nguồn sông Vu Gia, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Anh đã viết về quê hương bằng những hình ảnh rất thật, gắn với nỗi buồn thương trong cuộc đời. Quê hương là nơi người thơ đã sinh ra trong khổ nghèo lam lấm: “Nhớ mà thương một thời thơ dại/ Nơi tôi sinh ra bụi chuối sau vườn/ …/ Mẹ ấp ủ tôi tay bùn chân lấm/ qua bao năm tháng cơ hàn” (Vô thường). Đó là dòng sông quê với hình ảnh chiếc đòn gánh tre nhọc nhằn đời mẹ: “Tảo tần đời mẹ chân quê/ Bao năm lặn lội đi, về triền sông/ Nón che không hết mùa đông/ Phố che không hết nỗi buồn trần gian” (Lục bát qua sông). Người cha nhọc nhằn ngày tháng mưu sinh giữa cuộc đời đầy trắc trở: “Cả một đời lội suối trèo non/ Cha gánh hết muôn phần khổ nhọc” (Cha). Ấy là nơi người thơ quặn thắt cõi lòng, tận cùng nỗi đau: “ai dán tiếng cười con tôi/ rong rêu bia đá/ lấp lánh hoàng hôn giữa nghĩa trang” (Viếng mộ con), là nơi thấp thoáng bóng hình người tình phận bạc: “Em đâu phải hồng nhan/ Mà trời trao phận bạc/ Thơ tôi không làm thêm nhan sắc/ Em cứ lặng thầm mà chín vào trong”. Quê hương in đậm trong tâm trí nhà thơ, có lẽ vì phải xa quê quá sớm nên trong tâm hồn giấy trắng chỉ có hình bóng quê hương: “Xa quê từ thuở nằm lòng/ Mấy ai biết được đục trong đôi bờ/ Chỉ còn hoài niệm tuổi thơ/ Qua dâu bể chẳng bao giờ nguôi quên” (Nói gì đây sông ơi). Hình ảnh dòng sông quê hiện lên trong tâm tưởng: “Con đò năm ấy còn không? Mà sao bến cũ vẫn trông theo người/ Bây giờ tôi với mình tôi/ Dọc bờ sông nắng bên đồi mong manh” (Hôn mình trên sông). Con sông trôi xuôi, thời gian đời người trôi xuôi về phía xa xăm mà tâm hồn thi nhân cứ ngược chảy về quá khứ, về với tuổi thơ, với dòng sông, bến nước cánh đồng thơ dại. Quê hương là chốn đi về, là nơi nương tựa của tâm hồn lúc ta đớn đau hay thất vọng, bởi vậy, khi xa quê hương đất nước, ở tận bên trời Âu Mỹ, nhà thơ càng thấm thía niềm quê: “Nửa vòng trái đất thì xa/ Mượn câu lục bát quê nhà nương thân” (Nương thân). Viết về quê hương cũng là về tình người đấy thôi. Tình người tạo nên cái hồn quê sâu thẳm, hồn sông, hồn núi, cũng như chiếc đòn gánh cong và đôi dép vẹt mòn của mẹ góp nên cái hồn của chợ quê…

Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh mang âm điệu buồn sâu thẳm. Buồn bởi những ẩn ức, thương tổn tâm hồn: Tuổi thơ khốn khó, nghèo đói và chiến tranh loạn lạc; nỗi nhọc nhằn, vất vả mưu sinh của cha mẹ; nỗi chia ly trong cuộc đời, nhất là nỗi đau chết lòng vì mất con. Cảm thức chia lìa, thất lạc, hư hao đã tạo nên những lớp sóng cảm xúc, dường như mọi hình ảnh sự vật đều chuyển động âm thầm theo chiều phôi phai ấy. Không phải ngẫu nhiên khi ta gặp những điệp khúc “dạt trôi” day dứt mãi: “Vầng trăng hư ảo trong chiều/ Dạt trôi và dạt trôi nhiều dạt trôi” (Tôi ngồi một bóng). Người thơ xa quê, xa làng, xa sông, xa cha mẹ, anh em, bạn bè, chia ly với người tình, đến giấc mơ cũng trôi lạc: “Xa rồi, thôi nửa giấc mơ qua” và con người lạc trôi như một chiêm bao: “Chắc gì có tôi trên đời/ Chẳng qua là giấc mơ trôi cõi người”. Hình ảnh tương phản: “Con sông trôi xuôi mà lòng tôi chảy ngược” cũng là đẩy ra cách xa nhau vời vợi. Người mẹ yêu thương đã mang theo chiếc “đòn gánh cong” và đôi dép vẹt mòn đi mãi về miền mây trắng. Khi người thơ cảm nhận được sự hy sinh thầm lắng của cha thì “tóc con bạc như tóc cha ngày ấy”, đã quá muộn để nói lời tri ân. Dòng sông quê trở thành một sinh thể có hồn cũng mòn mỏi, hư hao, gợi cảm giác lạc trôi: “Một mình đứng tựa bơ vơ/ Sông xưa đã lấp đôi bờ cỏ khô/ sông giờ cạn hẹp thành ao/ người về đâu biết ngõ nào là quê”; “Tôi về trong một chiều mưa/ Còn đâu cả tiếng đò thưa vắng dần”… Chỉ trong một bài thơ đã thấy hàng loạt hình ảnh gợi sự lạc trôi, chia lìa: “con thuyền trôi xuôi/ lòng tôi ở lại”, “bồng bềnh trôi/ một mình mẹ/ trôi/ đàn con lưu lạc/…/ rồi mai đây biết phiêu dạt về đâu?”, “đêm xa làng”, “phút xa quê”, “tôi đâu biết/ cái ngày ly biệt ấy/ ngày anh em tôi tan tác lìa đàn”, “đàn chim lạc bầy từ đó cũng ly tan”(Bếp lửa chiều quê).

Cảm thức lạc trôi là biểu hiện của cái “tôi” cô đơn bản thể, càng khát khao gắn bó càng thấy ngập tràn đơn côi. Trong hành trình bước tới “phía sau”, phía sông quê, phía quá khứ nay chỉ còn là kỷ niệm ấy, người thơ chỉ đi một mình. Anh muốn tìm về thân thương, muốn tâm tình với cuộc đời, với sông quê, làng quê, với tình thân, bè bạn, với “em”, nhưng tất cả như dần khuất lấp, xa vắng. Rốt cuộc, anh đối diện và tâm tình với chính mình, chất vấn bản thể. Những hình ảnh chỉ nỗi cô đơn xuất hiện với tần suất khá dày trong tập thơ: “Một mình say với mình thôi”, “một mình/ đứng tựa bơ vơ/ sông xưa/ đã lấp đôi bờ cỏ khô”, “Nửa tôi đơn lẻ câu thơ lạc vần”, “Bây giờ tôi tôi với mình tôi”, “Biết đâu tôi lại ru tôi một mình”, “rồi ngày qua đêm sẽ trôi/ mình tôi ngồi lại cùng tôi giao thừa”… Phải chăng, cô đơn là đặc trưng cuối cùng của thân phận con người, là hạt ngọc nhân bản giúp nhà thơ ý thức được sự tồn tại và khẳng định bản ngã, khẳng định cá tính sáng tạo của mình. Nỗi buồn trong thơ Nguyễn Ngọc Hạnh biểu hiện nhiều cung bậc cảm xúc giữa hiện thực ngổn ngang, bất toàn của đời sống. Nhưng nỗi buồn ấy cũng chạm đến đặc tính chung phổ quát của con người. Nỗi buồn không bi luỵ, không làm người ta chán chường gục ngã mà có sức thấu rọi, thanh lọc tâm hồn. Nỗi buồn, giọt nước mắt được sẻ chia và thăng hoa thành cái đẹp: “Giọt nước mắt giờ đâu còn vị mặn/ Mà rạng ngời như giọt lệ giữa không trung”.

Có thể cảm nhận, những chấn thương tinh thần từ tuổi thơ đã đi theo suốt cuộc đời thi nhân, gợi buồn đau và nỗi cô đơn, góp phần định hình một chất thơ riêng, một giọng thơ riêng Nguyễn Ngọc Hạnh, không thể lẫn với người khác. Trong thơ anh, chất thơ nhuần nhuyễn tình cảm và lý trí, tạo nên giọng điệu trữ tình thật sâu lắng và đầy suy tư. Không mấy người trải lòng mình chân thật và sâu đậm đến thế. Chính nhờ cảm xúc thật sâu, thật chín mà những suy tư, chiêm nghiệm trong thơ cứ nảy ra tự nhiên, khái quát mà đầy hình ảnh cảm xúc chứ không khô khan, giáo điều. Người đọc sau phút xúc động phải dừng lại, lắng mình, đằm sâu suy ngẫm cùng thi nhân. Nhiều người còn nhớ mãi câu thơ đã thành thương hiệu Nguyễn Ngọc Hạnh: “Xưa tôi sống trong làng/ giờ làng sống trong tôi” (Làng). Ta dễ tìm gặp những câu thơ chứa đựng ý nghĩa nhân sinh sâu sắc như thế: “Chưa đi qua hết đò ngang/ làm sao hiểu đời sông dọc”(Hạnh phúc), “không còn thì thôi xin đành/ người ơi tôi cúi hôn mình trên sông” (Hôn mình trên sông),“Mai sau con lớn nên người/ Biết đâu tôi lại ru tôi một mình” (Lời ru). Tình yêu là cảm xúc phổ biến của nhân loại đã được thể hiện rất phong phú trong nghệ thuật, vậy mà người đọc vẫn có cảm nhận mới mẻ từ những chiêm nghiệm của nhà thơ: “Yêu là được bao điều đã mất/ và sẽ còn mất nữa, để yêu” (Yêu)…

Thơ Nguyễn Ngọc Hanh, lục bát hay thơ tự do đều rất giàu nhịp điệu. Nhịp điệu ấy không chỉ là hình thức mà chính là nhịp đập của con tim, nhịp rung của tâm hồn, nhịp điệu của những cung bậc cảm xúc. Nhà thơ Heinrich Haine cho rằng: “Tâm hồn là điềm mách bảo vần luật…Chỉ có vần luật bên trong hoà hợp với nhịp đập của con tim là có ý nghĩa”*. Nhờ thế, thơ anh tìm được sự đồng cảm đồng điệu, tạo được những rung ngân trong lòng người đọc. Bài Thu rơi có âm điệu rất đặc biệt: Âm điệu chơi vơi, gợi lên trạng thái tàn tạ, lạc trôi, được tạo ra nhờ hiện tượng điệp thanh bằng cuối dòng thơ và điệp vần “ơi”. Tất cả dường như đang chuyển động rất nhẹ, rất êm: Thu rơi, thu trôi, chiều trôi, thu xa, lá rơi, em rơi, tôi rơi: “Mưa cong vút lên trời hoàng hôn/ Chiều chậm trôi mờ xa vơi đầy/ Treo bài thơ trên lưng chừng mây/ Như là em rơi trong thu gầy…”. Nguyễn Ngọc Hạnh không ồn ào cách tân mà thơ độc đáo, không làm xiếc ngôn từ mà đầy sáng tạo. Nhà thơ đã bồi đắp ý tưởng mới mẻ vào những hình ảnh quen thuộc, bình dị. Đó là một “đôi dép mẹ” đã bao năm rồi lại “thương mòn đời con” hay một “bụi chuối sau vườn” nơi nhà thơ đã sinh ra. Bài Chỗ ướt mẹ nằm phát triển tứ thơ độc đáo. Thời thơ bé trong nghèo khó, mái tranh dột nát đêm mưa lạnh, mẹ “chừa bên ráo để con lăn” thì đã quen thuộc rồi, nhưng đến khổ thơ: “Mẹ nằm đây giữa núi non cao/ rừng đã khép một đời dông tố/ chiều tháng ba trời đầy gió bão/ chỗ mẹ nằm ướt sũng cơn mưa” thì lại là một bất ngờ. Câu thơ biểu hiện sự thấu cảm tận cùng những hy sinh thầm lặng của người mẹ, tận cùng nỗi niềm của người con.

Nét nổi bật của thơ Nguyễn Ngọc Hạnh là ngôn từ giàu hình ảnh gợi tình, gợi cảm. Nhà thơ kết hợp nhiều phương thức chuyển nghĩa nhuần nhuyễn đến mức tự nhiên, tưởng như không phải là những nỗ lực dụng công. Đặc biệt là thủ pháp tương phản: “con sông đầu nguồn trôi xuôi/ mà lòng tôi chảy ngược” (Lạc mất đường về); “Giếng xưa sâu mà đời sắp cạn/…/“Sông chảy đời sông qua bao nhiêu bến/ Mà đời người chỉ một bờ thôi” (Giếng xưa), “Khi tóc bạc mới thương ngày thơ bé/ Để bây giờ yêu muộn thuở còn xanh”(Muộn), “Yêu là được bao điều đã mất”(Yêu). Tác giả lạ hoá bằng những kết hợp từ bất ngờ thú vị: “chiếc đòn gánh cong đời mẹ”, “Chiếc nón cong vành dâu bể”; “mái chèo cằn cựa đến xa xăm”, “Bất chợt nhớ ngày xưa đến lạ/ Mơ được một lần làm mẹ để sinh con”. Đôi khi là một so sánh đồng nhất: “Lòng tôi là mạch nước trong/ Trôi xa bốn biển vẫn mong ngày về” (Gửi quê nhà), “Tiếng gàu khuya rơi như tiếng khóc” (Giếng xưa), hoặc so sánh tương liên: “chúa ra đời từ trong máng cỏ/ tôi tái sinh từ kiếp bèo trôi” (Nguyện cầu). Từ một hình ảnh ca dao quen thuộc, nhà thơ đã phủ lên một lớp nghĩa mới bằng cách gợi liên tưởng: “Lặng lẽ với giếng sâu/ Xin nối sợi dây gàu cho lòng bớt cạn/ Tôi múc ánh trăng về làm thơ/ Rồi tri âm em mà bầu bạn” (Nhớ). Thảng hoặc ta gặp những ẩn dụ siêu thực, hình ảnh ảo giác, làm cho hình tượng thơ lung linh: “Tôi gối đầu lên tháng chạp/ Nằm co ro/ nghe tiếng mưa buồn/ Chiều lấp đầy đêm hao khuyết/ Vầng trăng rơi/ sáng rực hoàng hôn” (Trăng phía thượng nguồn), hoặc: “bay mất cả cái đêm thập thò định mệnh/ tôi thấy linh hồn mình/ bước qua hố thẳm/ rơi từ trên cao xuống đáy vực sâu” (Chiêm bao), vv…

Dòng sông quê, dòng sông thơ Nguyễn Ngọc Hanh vẫn miệt mài chảy, không réo rắt ngân vang mà âm thầm vỗ sóng. Làng quê, sông quê đã trở thành một phần máu thịt trong anh. Không có tình quê da diết, đậm sâu thì làm sao có được những vần thơ neo đậu lòng người bền lâu như thế. Và hơn hết, đó là một nỗ lực không ngừng, là ý thức vượt lên mình của một nhà thơ tự trọng, tài hoa và đầy khát vọng sáng tạo.

_________________

*Theo: M. Arnauddov, Tâm lý học sáng tạo văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, 1978, tr. 528

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm