TIN TỨC

Về cuốn hồi ký ‘Gánh gánh gồng gồng’ của Xuân Phượng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-12-19 22:13:52
mail facebook google pos stwis
12693 lượt xem

Nguyễn Thị Việt Nga

Tôi sinh ra sau chiến tranh. Bố tôi là một thương binh, một người lính cụ Hồ, từng hành quân qua dãy Trường Sơn, chiến đấu ở nhiều mặt trận phía Nam, để lại một phần xương máu nơi chiến trường và “suýt thành liệt sỹ” mấy lần, theo cách nói của bố.

Từ nhỏ xíu, những câu chuyện tôi thường được nghe bố kể nhất là chuyện chiến đấu. Rất chi tiết và sinh động.

Tuy vậy, chiến tranh, đối với lớp hậu sinh như tôi, vẫn chỉ là một khái niệm nằm im trong sách vở. Lớp lên chút nữa, không hiểu sao tôi rất ham tìm đọc những cuốn sách viết về chiến tranh, nhất là chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ của Việt Nam; từ sách văn học đến sách lịch sử. Tốt nghiệp Đại học năm 1998, tôi làm luận văn về tập thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, một tập thơ ra đời trong chiến tranh, với các bài thơ chủ yếu về đề tài chiến tranh. Luận văn thạc sỹ năm 2008 của tôi nghiên cứu về Nhật ký chiến trường của những người lính Việt Nam trong cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu như Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Thượng Lân… Rồi khi làm luận án Tiến sỹ, tôi cũng chọn mảng văn học ra đời trong chiến tranh: văn học các vùng đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Tâm trạng con người trong chiến tranh, thân phận con người và những dằn vặt, đau đớn khi đối diện với sự hủy diệt bạo tàn; sức mạnh tinh thần lớn lao nào khiến con người có thể vượt qua tất thảy mọi gian nguy để chiến thắng… Tất cả những điều đó sẽ hiện lên chân thực nhất trong tiếng nói của người trong cuộc, để thế hệ hậu chiến như chúng tôi có được cái nhìn công bằng và sâu sắc về lịch sử.

“Gánh gánh gồng gồng”, cuốn hồi ký của đạo diễn Xuân Phượng là “tiếng nói của người trong cuộc”; một cuốn sách làm tôi thực sự cảm thấy đau tim khi đọc, đến nỗi có những trang phải ngừng lại giữa chừng, không dám đọc tiếp.

Nhưng đó là nỗi đau rất đỗi ngọt ngào.


Hồi ký “Gánh gánh… gồng gồng…” của đạo diễn Xuân Phượng.

Cuốn sách là chuỗi ký ức của tác giả từ lúc ấu thơ cho đến hiện tại, trải mấy chục năm, từ những năm 1930, khi Xuân Phượng còn là một cô bé hơn chục tuổi sống yên ấm trong vòng tay cha mẹ cho đến hôm nay, khi bà đã trả qua đủ mọi cung bậc cuộc đời, từ những cay đắng, cơ cực gian nguy nhất, đến những ngọt ngào, những thành công vang dội cả trong sự nghiệp lẫn cuộc sống cá nhân. Thông thường, khi đến với thể loại rất riêng tư là hồi ký hay nhật ký, người đọc thường có nhu cầu tìm hiểu về đời sống, tâm trạng của một cá nhân cụ thể; và người viết cũng muốn tâm sự, thổ lộ những điều riêng tư, thậm chí cả những góc khuất chưa ai nhìn thấy trong cuộc sống của mình, như một nhu cầu tự thân thôi thúc: nhu cầu được bộc bạch và chia sẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó, hồi ký hay nhật ký mới chỉ thỏa mãn được tâm lý hiếu kỳ ở một số ít độc giả. Giá trị của hồi ký, nhật ký nằm ở việc qua số phận, tâm trạng, cuộc sống của một cá nhân cụ thể phản chiếu cuộc sống, tâm trạng, số phận cả cả một tầng lớp, một giai cấp, một dân tộc, để qua đó toát lên những triết lý, những bài học nhân sinh sâu sắc. Và “Gánh gánh gồng gồng” đã làm được điều đó một cách tự nhiên, dung dị, chân thực.

Cho đến tận giờ, chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng nhắc đến Việt Nam, rất nhiều bạn bè quốc tế vẫn ngỡ ngàng, khâm phục trước kỳ tích chiến thắng của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ vĩ đại bảo vệ tổ quốc. Ngỡ ngàng, khâm phục vì không hiểu tại sao một dân tộc nhỏ bé (theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng), còn rất nghèo nàn và lạc hậu lúc bấy giờ lại có thể chiến thắng vẻ vang trước hai đối thủ mạnh bậc nhất toàn cầu. Tôi nghĩ, câu trả lời có đầy đủ trong cuốn hồi ký của Xuân Phượng. Nguyên do việc công bố cuốn sách này, như bà bộc bạch ngay từ đầu sách: “Tôi mong muốn gia đình thương yêu hiểu rõ thêm những gì tôi đã trải qua. Và cũng vì những người trẻ chưa hề biết đến chiến tranh, tôi quyết định viết lại ĐỜI TÔI”.


Đạo diễn Xuân Phượng.

Tôi đã tiếp cận hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” đúng như mong muốn của tác giả: một người chưa hề biết đến chiến tranh, tìm hiểu về cuộc chiến, về đất nước, về những người “đã làm ra đất nước” từ trong lửa đạn, trong muôn vàn cơ cực, đắng cay và xương máu. Chiến tranh dẫu nổ ra ở bất cứ đâu, vì bất cứ lý do gì, cũng đều mang đến bi kịch cho tất cả mọi bên liên quan, mọi người liên quan. Bản chất của chiến tranh là bi kịch, khi con người không thể sống với nhau một cách ôn hòa. Bi kịch của Xuân Phượng và gia đình bà được tái hiện trong hồi ký bằng những lời kể thủ thỉ, nhẹ nhàng nhưng chứa đựng nỗi đau xé ruột. Đó là bi kịch của một gia đình bị xé nát bởi chiến tranh. Có sự tan đàn xẻ nghé do loạn lạc, mỗi người một nơi, không biết những thân yêu, ruột thịt của mình sống chết thế nào; nhưng đỉnh cao của bi kịch chưa phải là chuyện tan đàn xẻ nghé, mà là chuyện lòng người ly tán. Cô bé Xuân Phượng sinh ra trong một gia đình quyền quý, có tuổi thơ êm đềm, đẹp đẽ và đầy đủ với người cha là “Thanh tra Học chính kiêm Hiệu trưởng trường tiểu học duy nhất bấy giờ ở Đà Lạt”, ông nội là “quan triều đình Huế”. Thế nhưng những êm đềm đó không kéo dài. Cuộc sống cơ cực, lầm than của những người làm thuê cho gia đình cô bé Xuân Phượng trái ngược với cuộc sống nhung lụa cô đang hưởng; thái độ của cô bạn người Pháp thân thiết trong ngôi trường Pháp khi đang giờ chào cờ, cô bạn chạy ra đạp lên bóng lá cờ An nam và nói những câu miệt thị đã khiến trong trí óc non nớt của Xuân Phượng vỡ ra những cảm nhận đầu tiên về cuộc sống: “tôi lờ mờ nhận thấy rằng cuộc sống của mình, của gia đình mình không êm đềm, nhẹ nhàng và vô tư như mình tưởng” (tr22).

Những êm đềm, nhẹ nhàng, vô tư ấy chấm dứt khi Xuân Phượng quyết định xếp bút nghiên để theo Cách mạng, dưới sự dẫn dắt của người dượng, bắt đầu bằng việc mang truyền đơn trong cặp sách, qua mặt “những tên lính Nhật đang bồng súng, hằm hằm xét người qua lại”. Cô nữ sinh trường Khải Định ấy chỉ có một nguyện vọng lớn lao nằm trong bảy chữ “giành độc lập cho đất nước”, sẵn sàng rời bỏ gia đình – một gia đình có gốc gác đại triều, bố đang thân Pháp.

Bi kịch sâu của chiến tranh là đấy! Là chuyện lòng người ly tán. Để rồi cả nửa thế kỷ sau, khi Xuân Phượng gặp lại mẹ mình, người mẹ vẫn đau đáu một câu hỏi tái tê: “Con ơi, sao con theo họ làm chi, để gia đình ly tán, phải rời quê cha, đất tổ con ơi” (tr11). “Theo họ”, nghĩa là theo Cộng sản, theo Cách mạng. Nếu cứ yên phận dưới cuộc sống của một tiểu thư, chắc chắn cuộc đời Xuân Phượng đi theo hướng khác, không có những thác ghềnh, cay đắng, không vào sinh ra tử long đong.

Một gia đình nhưng có những con người ở hai chiến tuyến khác nhau. Chọn một con đường đầy chông gai, xương máu để sống theo lý tưởng, cô tiểu thư Xuân Phượng đã phải đánh đổi quá nhiều, phải bước hẳn khỏi mái ấm gia đình, dẫu cho người mẹ của cô đã tìm đến tận nơi con gái mình đang hoạt động cách mạng để khóc, để khuyên con quay trở về. Nhưng “dù rất thương mẹ, thương em, tôi đã chọn con đường tự nguyện đi vào hoạt động chống xâm lược Pháp” (tr 33). Đó mới là bi kịch lớn nhất mà chiến tranh trùm lên thân phận con người, chứ không phải chuyện đổ máu, hy sinh.

Theo dòng hồi ký, từng giai đoạn cuộc đời của tác giả hiện lên ám ảnh. Giai đoạn nào cũng có những chi tiết tạo nên dư chấn mạnh mẽ trong lòng độc giả. Đó là chuyện tình yêu trong chiến tranh, dù rất ngất ngây với tình cảm đầu đời, nhưng khi người yêu đắn đo “gia đình con một, thầy mẹ anh không muốn cho anh thoát ly gia đình” thì Xuân Phượng đã nuốt nước mắt “tiếp tục đi theo Đoàn Tuyên Truyền Kháng Chiến, tiếp tục chọn con đường thoát ly gia đình”. Một lần nữa, lòng người ly tán!

Đó là lần sinh con đầu lòng của Xuân Phượng giữa rừng núi hoang vu, cô độc, thiếu thốn, hiểm nguy: “một mình tôi nằm lại trên con đò rách nát với hai vợ chồng người chèo đò đã lớn tuổi (…) Năm ấy hai mươi tuổi đầu, đẻ con so, xung quanh không có ai. Tôi muốn chết. (…) Tiếng khóc oe oe vang lên giữa sông. Đứa con đầu lòng của tôi. Bác lái đò bẻ một mảnh nứa trên mui đò cắt rốn cho con tôi” (tr71).

Đó là chuyện Xuân Phượng mò mẫm đỡ đẻ cho một sản phụ trong lòng địa đạo Vĩnh Linh, một “mê cung trong lòng đất” với “bóng tối mịt mùng vây quanh” và tiếng khóc đau đớn, tuyệt vọng của người phụ nữ sinh con lần đầu trong hoàn cảnh không thể ngặt nghèo hơn, giữa mưa bom bão đạn: “đỡ đẻ không đèn, không phương tiện cấp cứu, không nhìn rõ mặt sản phụ”. Nhưng rồi vượt lên tất cả những éo le, khốc liệt ấy “bật vang lên tiếng khóc oe oe của đứa trẻ sơ sinh, hòa với tiếng khóc nức nở của người cha” (tr 158). Sự sống bật mầm kiên cường ngay ở nơi tưởng như chỉ có đổ máu và cái chết đang rình rập từng giây. Sức mạnh Việt Nam, ý chí Việt Nam là thế!

Đó còn là hình ảnh một em bé Vĩnh Linh chín tuổi, hồn nhiên ngồi trên đầu xe tải với đồ chơi là một khẩu súng thật: “dáng người đậm, chắc, da nâu đen, không để ý gì đến chúng tôi, em đang tháo lắp thành thạo một khẩu súng AK” (tr164). Chính cậu bé bé xíu có ”hai chiếc răng khểnh làm lộ một nụ cười dễ thương” ấy đã “giúp bộ đội đặc công phá được một sân bay trực thăng” với cái cách cũng hồn nhiên, thơ trẻ vô cùng: “Các chú bộ đội muốn phá sân bay trực thăng, cháu liền cùng với hai bạn khác đi vào khu vực sân bay giả đò chơi đánh khăng. Thân của cây khăng dài đúng một mét. Bọn cháu đánh ra xa rồi đo, đo từ đầu đến cuối sân bay, cả chiều dọc lẫn chiều ngang rồi về báo với các chú bộ đội. Bọn Mỹ không nghi ngờ chi hết. Sau đó các chú bộ đội tính toán và bắn pháo cối vào chính xác, phá nát cân bay. Cháu được tặng Dũng sĩ diệt Mỹ” (tr 164, 165)…

Cuộc đời Xuân Phượng với nhiều ngả rẽ bất ngờ, từ khi làm thành viên của Đoàn Tuyên Truyền Mặt trận khu C, sang Quân Y Vụ Liên Khu 4, làm chế tạo thuốc nổ, làm báo Công Tác Thóc Gạo, làm Trưởng phòng khám Nhi khu Ba Đình, tháp tùng đoàn làm phim nước ngoài vào mặt trận, trở thành đạo diễn phim…vv. Ở bất cứ “khúc quanh” nào, ngành nghề nào, bà cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, kể cả những lúc do bất đắc dĩ mà “mang lấy nghiệp vào thân” chứ không còn sự chọn lựa nào khác. Điều này vừa cho thấy sự ‘đa tài, đa ứng biến” trong con người bà, vừa thể hiện được gương mặt của cả dân tộc trong những năm tháng khói lửa chiến tranh: luôn luôn nỗ lực, luôn luôn ứng biến, chịu đựng được tất cả mọi hiểm nguy gian khó, kiên cường và mạnh mẽ tồn tại để vươn lên và chiến thắng. Đó là “qua một giọt nước nhìn thấy cả đại dương mênh mông”.

Giá trị của “Gánh gánh gồng gồng”, như tôi đã nói, là vượt lên trên những tự sự, ghi chép về cuộc đời của một cá nhân cụ thể để soi chiếu một cách chân thực, sinh động và sáng rõ gương mặt của cả dân tộc, cả Tổ quốc trong những thời kỳ lịch sử đáng nhớ nhất. Bởi thế, song hành với sự ngưỡng mộ, cảm phục tài năng, nhân cách, ý chí nỗ lực của nghệ sỹ Xuân Phượng là niềm tự hào, hân hoan, là những khâm phục đến kinh ngạc đối với thế hệ cha anh – những người viết tên Tổ Quốc lên bản đồ thế giới bằng mồ hôi, xương máu của chính mình.

Là đạo diễn phim tài năng, nên hồi ký “Gánh gánh gồng gồng” của Xuân Phượng cũng được kết cấu như những thước phim đầy ám ảnh, có chồng mờ, có đan cài ký ức – hiện tại, có điểm, có diện. Ngôn ngữ văn chương của bà cũng như ngôn ngữ điện ảnh, kiệm lời, kiệm chi tiết mà đầy sức nặng, có những hiệu ứng “tạo sốc” – những cú sốc thẩm mĩ đáng nhớ. Cả cuốn hồi ký cũng chính là một cuốn phim tư liệu với ngồn ngộn chi tiết có thể người đọc chưa gặp trong bất cứ cuốn sách nào. Những tư liệu vô cùng quý giá, đặc biệt là về chuyện ngành làm phim Việt Nam ra đời, trưởng thành trong chiến tranh như thế nào, tình cảm của những nhà làm phim, những nghệ sỹ thế giới đối với Việt Nam trong những tháng năm lửa đạn; sự đùm bọc đầy cảm động và những ân tình sâu nặng của các văn nghệ sỹ thời bao cấp khốn khó đủ đường…

Đọc xong cuốn hồi ký này, tôi rất tin, tất cả bạn đọc, cũng như tôi, đều cảm thấy trân trọng hơn những tháng ngày mình đang sống, trân trọng hơn những gì mình đang có trong tay, yêu Tổ quốc hơn, yêu những con người thân yêu quanh mình hơn, và vì thế sẽ nỗ lực để sống tốt hơn, đẹp hơn. Và điều quan trọng nữa là có thêm động lực để biết cách vượt qua tất cả mọi trở ngại trong cuộc sống!

Như thế đã đáng để bạn tìm đến “Gánh gánh gồng gồng” chưa?

Hải Dương, 27/5/2021
N.T.V.N

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm