TIN TỨC

Nguyễn Bính ở phương Nam

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-03-25 17:00:05
mail facebook google pos stwis
3071 lượt xem

Đan Thanh

Nguyễn Bính (1918-1966), tên thật là Nguyễn Trọng Bính (có lúc tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở Nam Định nhưng sống khắp ba miền đất nước. Ông có phong cách một nhà thơ lãng tử, sáng tác về chủ đề tình cảm làng quê và tình yêu, tổ quốc. Thơ tình cảm mộc mạc của ông được rất nhiều người thuộc. Tác phẩm gồm 26 thi tập trong đó có : + 1 kịch thơ : Bóng giai nhân (1942): + 3 truyện thơ : Truyện Tỳ Bà (1942); Trong bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958): + 1 vở chèo : Người lái đò sông Vỹ (1964) và rất nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được nhạc sĩ phổ thành ca khúc : Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, Quốc Hương ca);  Cô hái mơ (Phạm Duy); Ghen (Trọng Khương), Cô lái đò (Nguyễn Đình Phúc); Chân quê (Minh Quang). Hiện nay, nhiều thành phố có những con đường mang tên ông. Nhà thơ Nguyễn Bính nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (2000) cùng với Hoài Thanh, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, …

Trong số những nhà thơ nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám như Xuân Diệu (1916-1985), Huy Cận (1919-2005), Chế Lan Viên (1920-1989),…Nguyễn Bính được coi là một hồn thơ đặc biệt, có nét chung và nét riêng với những thi sĩ cùng thời. Có thể nói, tính trữ tình trong thơ mới Nguyễn Bính là điểm tương đồng ở ông với đa phần các nhà thơ tiền chiến. Nhưng đi sâu vào thi tứ và bút pháp, ta thấy Nguyễn Bính có nét gần gũi hơn với các nhà thơ : Đoàn Văn Cừ (1913-2014), Anh Thơ (1921-2005), Hồ Dzếnh (1916-1991),…Nguyễn Bính sinh ra trong một gia đình giáo dục. Cha là nhà giáo Nguyễn Đạo Bình, và mẹ là Bùi Thị Miện, con một nhà khá giả. Hai anh trai Nguyễn Bính là : Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường – nhà viết kịch), Nguyễn Ngọc Thụ và 4 người em cùng cha khác mẹ. Mẹ Nguyễn Bính chẳng may bị rắn độc cắn, mất lúc 24 tuổi khi Nguyễn Bính mới được 3 tháng : Còn tôi sống sót là may/ Mẹ hiền mất sớm, giời đày làm thơ (Nhà

tôi). Dì Giần và cậu ruột Bùi Trình Khiêm thương cháu, đem ba anh em Nguyễn Bính về nuôi, lo cho ăn học. Kém may, không được đi học ở trường, Nguyễn Bính chăm chỉ học ở nhà với cậu và cha, được cái là làm thơ hay từ bé, nên được cậu cưng và ngợi khen. Năm 1932, mới 13 tuổi, Bính đã đoạt giải nhất về thơ do Hội Phủ Giầy tặng nhân một cuộc thi Hát Trống quân đầu xuân : …Anh đố em này:/ Làng ta chưa vợ mấy người/ Chưa chồng mấy ả, em thời biết không/ Đố ai đi khắp tây đông/ Làm sao kiếm được tấm chồng như chúng anh đây/…Làm sao cho tỏ hơi đèn/ Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?…  Mới 15 tuổi, Bính phải lang thang tìm hướng lập thân, làm nghề bán báo và làm thơ.

 Nguyễn Bính thật sự bước chân vào làng thơ từ năm 1935. Qua sự giới thiệu của họa sĩ Nguyệt Hồ với ông Lê Tràng Kiều là chủ bút báo Tiểu thuyết Thứ Năm, bài thơ được đăng báo đầu tiên : Cô hái mơ, (Phạm Duy đã phổ nhạc), làm theo lối thơ mới 7 chữ, với tứ thơ tinh tế, hóm hỉnh, lời thơ giản dị, trong sáng đã cho thấy trước sự ấp ủ mầm xanh của một thi tài. Thời gian sau đó, tập thơ Tâm hồn tôi được giải khuyến khích của Tự lực Văn đoàn (1937). Khi được 22 tuổi, chỉ trong vòng 9 năm, Nguyễn Bính đã làm được khoảng 1.000 bài thơ. Năm 1940, trong đang ở Hà Nội cùng anh là nhà thơ Trúc Đường (1911-1983), và đã bắt đầu nổi tiếng với nhiều bài thơ tình với chủ đề phong phú trên báo chí, Nguyễn Bính bắt đầu nổi máu giang hồ, muốn hành phương Nam, định vào Huế tìm đề tài sáng tác. Ông anh thương em, đồng ý nhưng không có tiền, cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh vốn là vật báu duy nhất của gia đình còn lại, rồi đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính. Ở cố đô Huế, Nguyễn Bính làm thơ và gởi ra Hà Nội cho Trúc Đường đọc rồi đăng báo sau. Giai đoạn này, Nguyễn Bính đã có được các bài : Xuân tha hương và Oan nghiệt. Một thời gian sau, Nguyễn Bính rời mảnh đất thần kinh thơ mộng, trở về Hà Nội. Năm 1943, nhà thơ từ giã anh để vào Nam nhưng tin tức giữa hai anh em bắt đầu thưa dần. Bài thơ Hành phương Nam  của Nguyễn Bính được làm trong thời gian này : Đôi ta lưu lạc phương Nam này / Trải mấy mùa qua, én nhạn bay / Xuân đến khắp trời hoa rượu nở / Mà ta với ngươi buồn vậy thay /…Ta đi

nhưng biết về đâu chứ / Đã dấy phong yên lộng bốn trời / Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ /  Uống say mà gọi thế nhân ơi ! /… Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ / Ta với nhà ngươi cả tiếng cười / Dằn chén hất cao đầu cỏ dại / Hát rằng phương Nam ta với ngươi (Dakao, 1943). Năm 1947 ở Nam bộ, Nguyễn Bính có dịp gặp nhà thơ Đông Hồ (1906-1969), nữ thi sĩ Mộng Tuyết (1914-2007),: “Người khách thâm thấp. Phong trần hiện lên mớ tóc đen rậm, rối bồng dài tới mang tai. Bộ Âu phục cũ, nhầu nát làm cho người tăng thêm phần tiều tụy…” (Mộng Tuyết – Để nhớ Nguyễn Bính những ngày ghé bến Hà Tiên, Văn số 60, ra ngày 15/06/1966 tại Sài Gòn). Và  nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) tại Rạch Giá. Nguyễn Bính ban ngày tá túc, ăn uống kham khổ tại nhà Kiên Giang, đêm khệ nệ mang nóp ra ngủ ở đình Nguyễn Trung Trực. Đây là không gian đặc biệt để hai nhà thơ đồng điệu và đồng chí ở hai đầu đất nước, cùng cảnh ngộ có dịp chân tình tâm sự, được xem là “những giây phút thần tiên của hai thằng điên” (Kiên Giang), để  nhả ngọc phun châu, và cùng nhau bày tỏ mọi góc khuất của cõi lòng cuộc đời hàn sĩ truân chuyên trong thời tao loạn : Có những giòng sông chảy rất mau / Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu / Lá vàng hoa dỏ trôi không kịp / Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau (Tặng Kiên Giang) // Từ độ về đây sống rất nghèo / Bạn bè chỉ có gió trăng theo / Những thằng bất nghĩa xin đừng đến / Hãy để thềm ta xanh sắc rêu. Trong  mùa mưa bão, ngày ngày, Nguyễn Bính làm bếp, Kiên Giang đi mua chịu rượu. Khi trở lại đến gần nhà, tác giả “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” đã nghe giọng Bính ngâm vang : Ở đây mưa ngày lại ngày / Nhà không mở ngõ mưa đầy tuần trăng (Hai câu trong một bài thơ Nguyễn Bính viết trong cơn say để tặng Kiên Giang). Cơ hội gặp gỡ hiếm có này đã tạo ra một giai thoại thú vị trong làng văn nghệ kháng chiến chống Pháp ở Tây Nam bộ.

Nhớ lại, cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công nhưng sau đó thực dân Pháp lật lọng, quay đầu trở lại với ý đồ xâm chiếm Nam bộ. Cùng với các văn nghệ sĩ yêu nước khác lúc bấy giờ như : Sơn Nam (1926-2008), Kiên Giang , Truy Phong (1925- 2005) … Nguyễn Bính vào chiến khu U Minh, hòa mình vào cuộc đấu tranh chống thực dân xâm lược của nhân dân.

Dù làm công tác chính trị là chủ yếu trong giai đoạn này, đôi lúc, với tâm hồn lãng mạn đa tình, Nguyễn Bính cũng để lộ nguyên hồn cốt của một nhà thơ tình với bao nỗi nhớ nhung diệu vợi về cảnh, về người … : Thấy dừa thì nhớ Bến Tre / Thấy sen lại nhớ đồng quê Tháp Mười / Thấy trăng lại nhớ đến người / Thấy sao lại nhớ đến lời thề xưa. Sớm đến với cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám, trong thời gian theo Việt Minh ở chiến khu (1947), Nguyễn Bính đã được nhà thơ Bảo Định Giang (1919-2005) gởi gắm cho cấp Chỉ huy Bộ Tư lệnh là ông Trần Văn Trà, nhờ quan tâm và đối đãi đàng hoàng, chăm sóc chu đáo tác giả “Lỡ bước sang ngang”. Qua giới thiệu của ông Lê Duẩn, Nguyễn Bính kết hôn với bà Nguyễn Lục Hà tức Nguyễn Hồng Châu, cán bộ Việt Minh và sinh được một con gái là Nguyễn Bính Hồng Cầu (nay là nhà thơ Hội Nhà Văn Việt nam). Tài hoa và đa tình, dù có gia đình nhưng chưa thấy mãn nguyện. Nhà thơ lãng tử vẫn coi gia đình như một trạm dừng chân, một bến đỗ tình yêu, để chuẩn bị hành tranh lên đường, đi kiếm tìm một bến tình mới. Sau đó không lâu, Nguyễn Bính lại kết hôn lần hai với bà Mai Thị Mới ở U Minh, có một con gái là Nguyễn Hương Mai. Và lần ba (không chính thức) với Phạm Vân Thanh rồi lần tư với bà Trần Thị Lai, ngoài những cuộc tình văn nghệ gió thoảng ở những nơi thi nhân đặt chân đến.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, thực dân Pháp rút hết quân về nước, theo Hiệp định Genève, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc cũng như bao cán bộ Việt Minh khác. Khi về Nam Hà, theo nhà văn Chu Văn (1922-1994), lúc bấy giờ : Nguyễn Bính tuổi gần năm mươi, gầy, đen, tóc cắt ngắn, như trọc, Nhà thơ ăn mặc thật giản dị : một sơ mi nâu, một quần ka ki bạc màu và đôi dép cao su. Toàn bộ hình thức ấy không gợi một vẻ gì là một nhà thơ lớn trước – sau này người ta gọi là “thi nhân tiền chiến”. Nhà thơ cười với đôi mắt nâu sắc sảo, ánh hơi lạnh và nụ cười khô, hàm răng ám khói thuốc lào. Nguyễn Bính về làm việc ở báo Văn nghệ rồi sau đó thay thế người anh – nhà thơ Trúc Đường- làm chủ bút tạp chí Trăm hoa, (bộ mới), một tờ báo tư nhân, đặt văn phòng tại số 15 Hai Bà Trưng, Hà Nội. Chính nhà văn Tô Hoài được phân công thuyết phục một tờ báo tư nhân, để có

tiếng nói chống lại những luận điệu ngang ngược của báo Nhân văn Giai phẩm. Dù có sự tiếp tay của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký, báo Trăm hoa của Nguyễn Bính cũng bị phê bình và Nguyễn Bính tuyên bố đóng cửa với Tô Hoài sau đó.

Dựa vào toàn bộ sự nghiệp văn chương không nhỏ của Nguyễn Bính, ta có thể nói thi ca của nhà thơ phân làm hai dòng : trữ tình và cách mạng. Là nhà thơ lãng mạn có tài bẩm sinh, ngay từ thuở mới mười ba tuổi, lần đoạt giải thơ đầu tiên cho tới những bài thơ làm lúc cuối đời, Nguyễn Bính đã tỏ ra rất nhạy bén, tinh tế và sâu sắc trong việc cấu tứ, tìm vần. Trí tưởng tượng phong phú trời cho, kết hợp với cuộc đời lãng tử ngược xuôi đây đó, được coi là những chuyến đi thực tế tự do, đã làm nên cái chất liệu cảm hứng quý báu để nhà thơ dễ dàng sáng tác. Thơ tình yêu cũng như thơ cách mạng, Nguyễn Bính bao giờ cũng sử dụng ngôn ngữ dung dị, tự nhiên như ca dao, không phải tỉa gọt bay bướm, cầu kỳ đến mức độ khó hiểu. Do vậy, hầu như bài thơ nào, thi tập của Nguyễn Bính cũng đã đi sâu vào lòng người yêu thơ, và ai cũng chân thành cảm nhận được thơ ông với tấm lòng trân trọng. Nhiều nhà phê bình gọi ông là nhà thơ chân quê, thực ra đó chỉ là dựa vào tính cách bút pháp mộc mạc dễ hiểu, gần gũi với người bình dân, chứ nội dung thơ Nguyễn Bính không chỉ nói về nông thôn và người nhà quê. Chủ đề thi ca của Nguyễn Bính phong phú, đa dạng và sâu sắc.

Người mẹ là điểm tựa ấm áp đầu tiên không thể thiếu trong quảng đời thơ ấu.

Nguyễn Bính không may sớm mất mẹ từ lúc ba tháng, thuở còn nằm nôi và chưa dứt sữa, nên đa phần thơ Nguyễn Bính, bài nào cũng man mác một nỗi buồn trống trải, cô đơn, lúc nào cũng khao khát một tình thương : Người có đôi, ta rất một mình / Phong trần, ai dám mắt ai xanh / Đêm nay trăng rụng về bên ấy / Gác trọ còn nguyên gió thất tình (Một mình). Dường như luôn hiện hữu mặc cảm chia xa, đỗ vỡ và đoạn tuyệt, triền miên ở tác giả trong những vần thơ mang giai điệu u hoài xa vắng : Hoa đào từng cánh rơi như tưới / Xuống mặt sân rêu những giọt buồn / Như những tim tình tan vỡ ấy / Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn / Nàng hãy cùng tôi đoạn một lời / Từ nay, nàng sẽ hết yêu tôi/ Từ nay ta sẽ xa nhau mãi / Ta sẽ quên nhau đến trọn đời… (Thôi nàng ở lại) // Tàu chạy hình như để chở buồn / Chở người đi nhớ, kẻ về thương / Nâng niu bao gót chân xinh đẹp / Tàu chạy đêm nay có lạc đường… (Chuyến tầu đêm). Xuân đến như một định luật là để báo hiệu niềm vui và hy vọng cho con người, nhưng trong thơ Nguyễn Bính chỉ hiện lên màu nhớ mong mòn mỏi của bức tranh lỗi thề, ly cách : Xuân đã đem mong nhớ trở về / Lòng cô lái ở bến sông kia / Cô hồi tưởng lại ba xuân trước / Trên bến cùng ai đã hẹn thề / Nhưng mà người khách tình quân ấy / Đi biệt không về với bến sông/ Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi /Mấy lần cô lái mỏi mòn trông…(Cô lái đò). Ngay cả những tập thơ của Nguyễn Bính, chưa đọc bài nào trong đó, tên của nó cũng gợi cho ta một nỗi ngậm ngùi diệu vợi : Mây Tần, Một nghìn cửa sổ, Hương cố nhân, Mười hai bến nước,… Bóng dáng những cô gái quê xinh đẹp, dịu hiền của làng thôn thanh bình yên ả, hiện lên trong thơ tác giả Lỡ bước sang ngang với ý nghĩa của sự mất mác nét quê hồn hậu, ngây thơ bởi cát bụi đô thành : Hoa chanh nở giữa vườn chanh / Thầy u mình với chúng mình chân quê / Hôm qua, em đi tỉnh về / Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều / Khăn nhung quần lãnh rộn ràng / Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi…(Chân quê). Bài thơ Chân quê được nhiều người coi như Tuyên ngôn của Trường phái thơ Chân quê  của Nguyễn Bính, như có khuynh hướng đối lập với dòng Thơ mới ảnh hưởng thơ Tây, đại diện bởi Xuân Diệu, Nguyễn Vỹ (1912-1971), Phan Khôi (1887-1958)… Tính cách nhà quê – nhưng không phải là quê mùa – đó còn hiển thị trong các bài thơ : Anh về quê cũ, Cây bàng cuối mùa thu, Cô hái mơ, Cô hàng xóm…, trong đó Nguyễn Bính vẫn sử dụng thể thơ mới 7 chữ sở trường giàu thanh điệu và đặc biệt lối thơ lục bát truyền thống ngọt ngào, điêu luyện và dễ nhớ, đọc qua một vài lần, ta có thể thuộc hết cả bài. Nét quê trong thơ Nguyễn Bính đã được nhà phê bình văn học Hoài Thanh khẳng định : Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong ta. Khi hoạt động ở chiến khu trong kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ (1946-1947), một thời gian lãnh trách nhiệm Phó Chủ tịch Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Rạch Giá. Ông ký tên thay mặt Ban Thường vụ, sao y các công văn. Kèm theo công văn, đôi khi cấp dưới lại nhận được một đôi bài thơ ký tên Nguyễn Bính. Nguyễn Bính vẫn làm thơ nhưng chủ yếu là để cổ vũ, phục vụ cho cuộc chiến đấu chung của dân tộc. Nhà văn Sơn Nam kể lại : “Nguyễn Bính là nhà thơ yêu nước… Thời kháng Pháp, tôi đã gặp Nguyễn Bính uống rượu, uống trà, trao đổi tâm sự với nhau nhiều lần…Tại chợ Rạch Giá, anh vào chiến khu, khởi xướng việc thành lập Đoàn Văn hóa Cứu quốc và cho ra mắt Tập thơ yêu nước (gồm chừng 10 bài) sau khi vào chiến khu đôi tháng. Bài thơ yêu nước của Nguyễn Bính có đoạn : Những ai xứng đáng là người / Hãy hy sinh hết cho nòi giống ta / Hãy nên vì nước vì nhà / Coi thường thân sống mới là trượng phu. Bài chót tập thơ là Trận Cây Bàng :  Đánh ! Đánh ! Đánh ! Chỗ nào cũng đánh / …Nếu quân thù không đem binh tiếp viện / Thì quân ta quyết tiêu diệt quân thù ! / Nhưng thắng bại là lẽ thường chinh chiến / Trận Cây bàng lưu tiếng để muôn thu. Trong một bài thơ diễn tả nỗi đau buồn của người mẹ chờ con đã hy sinh cho tổ quốc : Con sống ngày nào, còn cứu nước / Còn đem xương máu để xây thành…/ Vì nước bỏ mình là bất tử / Xưa nay chinh chiến mấy ai về ? Những câu thơ của Nguyễn Bính lúc này đã là những vần thơ thép, mạnh mẽ và khảng khái, tác dụng như lời tuyên ngôn trước đồng bào, tinh thần hy sinh quyết tử vì sinh tồn của tổ quốc : Trái vú sữa thẳng căng niềm uất ức / Gai sầu riêng nhọn hoắt ý căm hờn / Cây cau già, ruột yếu cũng sôi lên / -“Thân lão đây ! Mau hãy chuốc làm tên” (Đây Nam bộ). Tại chiến khu, Nguyễn Bính phải làm việc trong một hoàn cảnh tối tăm, thiếu thốn điều kiện vật chất và thuốc men trong sự theo dõi, kiềm tỏa nghiêm ngặt cả đến việc chiêu dụ của kẻ thù : Ở chòi hẹp nhưng hồn trùm vũ trụ / Trái tim đau nhưng thương cả loài người / Đã nhiều hôm không thấy bóng mặt trời / Bởi làm việc liên miên và bí mật (Những người của ngày mai). Trong thời gian này, chính phủ tự trị thân Pháp của Nguyễn Văn Thinh có treo giải : Ai đưa được nhà thơ Nguyễn Bính dinh tê (về thành) sẽ được thưởng 1.000 đồng bạc Đông Dương. Nếu nhà thơ  tự vào cũng  được hưởng như thế –  Một kiểu kêu gọi chiêu hồi của chính phủ Cộng hòa từ sau năm 1954 – Nhiều thi sĩ bạn của Nguyễn Bính viết thư thuyết khách mời ông vào thành nhưng ông vẫn đinh ninh một lòng vì tổ quốc. Trong một bài thơ, ông đã khẳng định lập trường son sắt, thể hiện chí khí một sĩ phu yêu nước của mình : Mình không bỏ Sở sang Tề / Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi. Trong kháng chiến 9 năm, Nguyễn Bính vẫn viết nhiều  nhưng tác phẩm đã chuyển sang chủ đề đấu tranh, thời sự, theo nhu cầu cần thiết của hoàn cảnh đất nước, dù in với phương tiện thô sơ, cũng phổ biến được rộng khắp Nam bộ : Ông lão mài gươm, Sóng biển cỏ (Trường ca Đồng Tháp Mười), Trong bóng cờ bay, Những dòng tâm huyết, Đây, Nam bộ… Sau khi tập kết ra Bắc, Nguyễn Bính vẫn sáng tác nhiều và hay hơn hết là bày tỏ được tình cảm thủy chung thương nhớ miền Nam đau thương từng cưu mang ông và quê hương miền Bắc đang thay da đổi thịt, quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sự nghiệp văn chương rạng rỡ và lập trường đấu tranh cách mạng kiên định, vì quê hương và tồ quốc của nhà thơ, vẫn mãi mãi xứng đáng là tấm gương sáng cho mọi thế hệ cầm bút hôm nay và mai sau trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Song hành cùng Xuân Diệu, Trịnh Công Sơn (1939-2001), ... cảnh long đong của cuộc đời đã kết tinh nên mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, để nuôi dưỡng nên một thi tài Nguyễn Bính. Thâm thúy như lời triết gia Đức Nietzsche (1844-1900) : “Những cây cao nhất, mạnh nhất thường mọc nơi vùng đất đá cheo leo khô cằn”. Trong bão giông nghiệt ngã của hoàn cảnh, cho đến hôm nay, thơ Nguyễn Bính vẫn được coi những đóa hoa thơm đầy hương sắc, ngọt ngào giai điệu ca dao, thấm đẫm tính nhân văn, còn đọng lại trong lòng nhiều người. Trong không gian thênh thang của những ngày xuân thanh bình thịnh vượng, ta hãy cùng nhau giở lại trang sách xưa, để thưởng thức những vần thơ tuyệt bút của nhà thơ chân đất tài hoa Nguyễn Bính.

                                              25.02.2024

                                                   Đ. T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm