TIN TỨC

Nguyễn Vỹ và vai trò cách tân thơ Việt hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-22 12:56:55
mail facebook google pos stwis
3586 lượt xem

 

Nguyễn Vỹ (1912-1971) là nhà báo, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Các bút hiệu khác của ông là: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền. Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận định về Nguyễn Vỹ như sau: “Một bài như bài “Sương rơi” được rất nhiều người thích. Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để diễn tả một cái gì đương rơi. Cái gì đó có thể là những giọt lệ… Nhưng “Sương rơi” còn có vẻ một bài văn. “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ. Lời thơ thống thiết, uất ức, đủ giãi nỗi bi phẫn cho cả một hạng người”. Thái Phan Vàng Anh cũng đã có cái nhìn khái quát, đánh giá khá xác đáng về vai trò của Nguyễn Vỹ đối với việc cách tân thơ Việt hiện đại trong bài viết “Nguyễn Vỹ và vai trò cách tân thơ Việt hiện đại”. Vanvn.vn giới thiệu đến bạn đọc bài viết này của chị. (HTA)


Nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912 – 1971). Ảnh: Bạch Ngọc Anh

Trong thơ giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, Nguyễn Vỹ xuất hiện như một hiện tượng lạ. Chàng trai tuổi hai mươi ngày ấy sớm bộc lộ khát vọng cách tân thơ. Tuy vậy, trong buổi bình minh của thơ mới Việt Nam, giữa khát vọng và hiện thực sáng tạo của Nguyễn Vỹ vẫn có độ chênh. Vì vậy, thơ Nguyễn Vỹ (Tập thơ đầu – 1934) gây ra hiệu ứng thẩm mỹ khác nhau trong tâm lí tiếp nhận của các nhà phê bình/người đọc đương thời.

Với lối phê bình ấn tượng, Hoài Thanh cảm thấy “chối” trước hình thức thơ Nguyễn Vỹ: “Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì…”. Nhưng trong ngập ngừng tiếp nhận, cũng chính Hoài Thanh đã mượn cái nhìn của người đương thời để khẳng định cái mới trong thơ Nguyễn Vỹ – chủ yếu ở bài Mưa rơi: “Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để tả một cái gì đương rơi” (Hoài Thanh). Cùng quan niệm với Hoài Thanh là Lê Ta (Thế Lữ) với những lời lẽ phủ định có phần nặng nề [1].

Nhóm nhìn nhận sự ý hướng cách tân của Nguyễn Vỹ lại cho rằng cái công của ông là đem “lối thơ nhạc vào thi đàn Việt Nam, giữa lúc rất nhiều người chỉ chăm lo đả kích luật Đường” (Lam Giang); khẳng định Nguyễn Vỹ đã tự mình xác lập một vị thế riêng khi không chọn những khung cảnh thi vị, mộng mơ, những câu chuyện tình yêu lãng mạn, u sầu làm đề tài chủ yếu như nhiều nhà Thơ mới khác (Lê Tràng Kiều). Trải qua những thăng trầm trong tiếp nhận, vai trò và sự nghiệp thơ của Nguyễn Vỹ ngày càng được đánh giá đúng mức hơn. Bài viết này nhằm xác định lại vị trí của Nguyễn Vỹ trong tương quan với các nhà Thơ mới; đồng thời nhìn nhận sự đóng góp của ông trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại.

1. Nhìn lại vị thế của Nguyễn Vỹ trên thi đàn Việt Nam

Cho đến nay, địa vị lịch sử của Thơ mới đã được khẳng định trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt là trong tiến trình vận động của văn học hiện đại. Bởi Thơ mới không chỉ là kết quả của một “phong trào” văn học, mà hơn thế còn là sản phẩm của một thời đại gắn với những điều kiện lịch sử văn hóa, xã hội đặc thù. Làm nên “một cuộc cách mạng thi ca chưa từng có” (Hoài Thanh), các nhà Thơ mới đã đem lại một quan niệm thơ mới, một hình thức biểu đạt mới… buộc độc giả cùng thời phải đón nhận với một tâm thức mới. Dẫu những đánh giá, những xu hướng tiếp nhận Thơ mới không phải lúc nào cũng theo hướng ngợi ca, song, vào thời điểm hôm nay, Thơ mới đã có một chỗ đứng trang trọng trong bức tranh tổng thể của thi ca Việt. Các tên tuổi gắn liền với phong trào Thơ mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính… cũng đã được nghiên cứu, đánh giá và ghi nhận trên nhiều phương diện, nhất là những thay đổi trong lối viết, xuất phát từ sự thức tỉnh về ý thức các nhân.

Nhìn rộng hơn, Thơ mới còn là sự thức tỉnh của ý thức dân tộc. Nói vậy để thấy, góp phần cách tân thơ Việt, làm nên một diện mạo thơ hiện đại gần như đoạn tuyệt hẳn với lối thơ cũ… không thể chỉ nhắc đến những nhà thơ có phần được tác giả Thi nhân Việt Nam ưu ái ca tụng, điểm danh trong cuốn phê bình có lúc đã trở thành kim chỉ nam cho những đánh giá về Thơ mới. Nguyễn Vỹ là một trường hợp chúng tôi muốn nhắc đến. Kể từ tập thơ đầu tiên (Tập thơ đầu – 1934) đến tập thơ thứ hai, tập thơ thể hiện rõ hơn những cách tân thơ của Nguyễn Vỹ (Hoang vu – 1962), nhà thơ quê Quảng Ngãi phải mất 28 năm cho sự trở lại chính thức với thi ca. Trong 28 năm này, ngoài việc làm báo, Nguyễn Vỹ chủ yếu viết tiểu thuyết và biên khảo một số sách. Đây là lí do khiến Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam, xuất bản năm 1942, chưa có nhiều dữ liệu để đánh giá đúng Nguyễn Vỹ khi thi nhân chỉ mới trình làng một tập thơ với một vài bài thơ ít nhiều đổi mới, song không được thị hiếu của đám đông ủng hộ.

Không làm nhiều thơ, không kiên trì đi theo một đề tài, một thể loại…, Nguyễn Vỹ chưa được chú ý như nhiều nhà Thơ mới khác là điều hoàn toàn không khó hiểu. Tập thơ đầu của Nguyễn Vỹ quan tâm nhiều đến các vấn đề “vĩ mô” của xã hội, nặng chính trị, nhẹ tình cảm riêng tư, tất yếu cũng khó chạm đến độc giả vốn đang ao ước được nghe, được nói dùm tiếng nói lãng mạn, tiếng lòng cá nhân. Lối làm thơ để “chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả” hay để phản ánh hiện thực, cất lên tiếng than về nỗi thống khổ của đất nước, của xã hội, của mọi người, và đặc biệt là của giới “nhà văn An Nam khổ như chó… Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh” (Gửi Trương Tửu), tuy là mãnh liệt, tha thiết, nhiều khát khao, tác động mạnh đến độc giả, song lại ít hợp để người ta ngâm nga, bình thẩm. Với thiên hướng vị nghệ thuật, ưa lãng mạn, chuộng cách tân vừa phải, Hoài Thanh dĩ nhiên không hợp nhãn với thơ Nguyễn Vỹ. Đúng ra là Hoài Thanh chưa muốn và cũng chưa chấp nhận những độc đáo, khác lạ của một dạng thơ. Ngoài việc ghi nhận hai bài thơ Gửi Trương Tửu (đáng lưu ý về mặt cảm xúc và nội dung), và Sương rơi (đặc biệt với lối thơ 2 chữ), tác giả Thi nhân Việt Nam thiên về công kích Nguyễn Vỹ. Có lẽ những bài thơ mang hơi hướm chính trị, những bài thơ trào phúng kiểu: “Kinh tế năm nay khủng hoảng, Đồng tiền chạy trốn đi đâu, Ai ai cũng kêu túng rối, Nhà giàu cho chí nhà giàu” (Kinh tế khủng hoảng), đã che mất những dấu hiệu cách tân thơ bước đầu của Nguyễn Vỹ ở Sương rơi, vốn là bài thơ được nhiều người yêu thích. Ngay cả đóng góp riêng của Nguyễn Vỹ với lối thơ 12 chân cũng không đủ để ông có một chỗ đứng xứng đáng bên cạnh các nhà Thơ mới tiêu biểu. Người ta chưa quen với những câu thơ lê thê 12 chữ vốn quá mới ở Việt Nam (dù đã rất phổ biến ở phương Tây) như: “Ta hãy ngồi ven lạch nước đò nghe những tiếng véo von/ Của lòng đá, của bộng cây, của những khe mồ, kẽ núi/ Mà một hơi gió thoảng qua làm gẫy nát bao điệu đờn/ Và đọng lớp sóng âm ba đang gợn đùa trong nắng bụi” (Gửi một thi sĩ của nước tôi – 1936). Thơ 8 chữ như một thể thơ đặc trưng của Thơ mới đã là quá dài so với trước, dù người ta đã từng “quen biết” qua câu 8 của thể thơ lục bát. So với một ý, một câu của Thế Lữ được diễn đạt đã rất đặc biệt: “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt/ Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua/ Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ/ Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm” (Nhớ rừng – 1936) Nguyễn Vỹ phải cần đến 48 âm tiết quả là quá khác người. Chả trách Thế Lữ đã đánh giá Nguyễn Vỹ là “có ý định lòe và bịp mọi người” qua lối thơ 12 chân chả khác gì với văn xuôi, dù khi Nguyễn Vỹ dùng bút danh N.V., cắt một câu thơ 12 chân thành 2 câu thơ 6 chữ: Kinh tế năm nay khủng hoảng/ đồng tiền chạy mất đi đâu... báo Phong Hóa của Nguyễn Tường Tam và Thế Lữ vẫn cho đăng. Tuy vậy, lời nhận xét của Thế Lữ lại cho thấy cái mới trong quan niệm thơ của Nguyễn Vỹ. “Ông Nguyễn Vỹ là một nhà học rộng. Bàn về thi ca, ông đã cho chúng ta biết nhiều điều mới lạ. Ông hiểu rõ được hết các âm điệu thơ, khuôn phép thơ, mĩ thuật của thơ, tuy ông không hiểu thơ là cái gì, và tuy ông thấy mình là thi sĩ”; “Tập thơ đầu của ông là một tập thơ có khuynh hướng cải cách bằng lối riêng của ông. Ông bỏ cái gông cùm biền ngẫu với phép hạn chế phá, thừa, trạng, luận, kết, của bài thơ Tàu, để mang cái gông cùm mới của luật thơ Tây” (Thanh Lãng).

Vào khoảng thời gian từ 1934 đến 1942, trước khi Thi nhân Việt Nam ra đời, tập thơ Hoang vu của Nguyễn Vỹ còn chưa kịp hoài thai (dù một số bài thơ giai đoạn này về sau đã được tác giả đưa vào tập Hoang vu – 1962). Những đổi mới của Trường thơ Bạch Nga mà Nguyễn Vỹ là người chủ xướng cũng chưa được đẩy đến cùng, chưa được chấp nhận rộng rãi như sau 1962, khi Nguyễn Vỹ gây dựng lại bán nguyệt san Phổ thông, thể nghiệm và khẳng định thơ từ 2, 3, 4, 5, 6 đến 12 chân, và được độc giả hưởng ứng mạnh mẽ. Trong bối cảnh ấy, cách đánh giá của Hoài Thanh, của Thế Lữ và sự quay lưng của độc giả thời bấy giờ có thể hiểu được. Tuy vậy, nếu không quá bám vào những tiêu chí quen thuộc để đánh giá Thơ mới, nếu không khuôn Thơ mới vào khung khổ của thơ lãng mạn; nếu nhìn sang những lối thơ phương Tây; từ những đột phá trong hình thức, trong thể thơ của Nguyễn Vỹ, có thể thấy, Nguyễn Vỹ có vai trò đáng kể trong việc cách tân thơ Việt Nam hiện đại – đặc biệt trong giai đoạn giao thời nửa đầu thế kỉ XX. Và nếu các nhà Thơ mới được ghi công trong việc đổi mới thơ Việt trong quá trình tiếp biến các khuynh hướng thơ phương Tây, công trạng ấy hiển nhiên có phần đóng góp của Nguyễn Vỹ. Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ 1936, Lê Tràng Kiều đã khẳng định: “Kể bây giờ mà nói đến Nguyễn Vỹ là đã chậm lắm rồi, người ta nói đến Nguyễn Vỹ nhiều lắm, nhiều quá”. Cho dẫu đa phần các ý kiến đều “chẳng làm đẹp lòng ông Nguyễn Vỹ”, thì nói như Lê Tràng Kiều, “người ta công kích ta, chỉ chứng rằng ta đã sống”; “Thơ ông Nguyễn Vỹ là một đầu đề cho người ta viết, một câu chuyện cho người ta bàn, thơ Nguyễn Vỹ đã sống một cách đầy đủ ở trên các mặt báo” [2]. Ghi nhận những đóng góp nhỏ của từng cá nhân để vun vén cho ngôi nhà Thơ mới đang từng bước thành hình, gom góp từng miếng vôi, từng viên gạch để tạo nên tòa lầu nghệ thuật, Lê Tràng Kiều là một trong những người đã sớm ghi nhận Nguyễn Vỹ khi lên tiếng: “Ông Nguyễn Vỹ chẳng hạn, đưa lại sự xây đắp ấy, một mảnh vôi nhỏ cũng đã nhiều lắm rồi. Ta có cầu gì hơn nữa ở họ một sự hoàn toàn không bao giờ có” [3].

Từ sau 1962, khi tập Hoang vu ra đời, các ý kiến đánh giá về thơ Nguyễn Vỹ ngày càng thay đổi. Lam Giang (Nguyễn Quang Trứ), trong Hồn thơ nước Việt thế kỉ XX (1967) yêu cầu nên “nhìn tác giả (Nguyễn Vỹ) với một nhãn quan nhiều thiện cảm hơn”. Thiết Mai trên tạp chí Sáng dội miền Nam đã cho rằng: “Tài thơ của Nguyễn Vỹ đã biểu lộ cho ta thấy trong sự cấu tạo dễ dàng, không gò ép và tánh cách lưu loát của câu thơ, sự tiếp diễn liên tục của ý thơ, tài gieo vần và nhất là ý tứ thâm trầm, mai mỉa, sâu sắc hay ý nhị, đa tình của những câu thơ”; hay “Về ý thơ, Nguyễn Vỹ quả thật đã có nhiều ý tưởng, nhiều câu văn rất táo bạo … khiến thơ của ông thoát ra khỏi lối thường tình và cổ điển của các nhà thơ” [4].

“Xác minh lại một tiếng thơ đã vì thành kiến mà bị nhận định lệch lạc”, Nguyễn Tấn Long có lẽ là người minh oan nhiều nhất cho Nguyễn Vỹ. Trong công trình Việt Nam thi nhân tiền chiến toàn tập, với quan niệm “lấy tinh thần khách quan để làm sáng tỏ một vấn đề với mục đích đem trả lại một sự thật cho sự thật”, Nguyễn Tấn Long đã trích dẫn, hệ thống các ý kiến đánh giá nhiều chiều về Nguyễn Vỹ, nhằm khẳng định “sự hiện diện của Nguyễn Vỹ trong văn học” [5]. Tuy vậy, dù khẳng định “Nguyễn Vỹ là một nhà thơ có thực tài”, Nguyễn Tấn Long vẫn thiên về đánh giá nội dung hơn hình thức. Ông cho rằng Nguyễn Vỹ “dám trình bày một cách trung thực tư tưởng của mình, nói lên nỗi uất ức, bất công của kiếp người”, nhấn mạnh “tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói chân thành xuất phát từ con người còn nghĩ đến quê hương”, chứ chưa chú ý nhiều đến vai trò cách tân thơ của Nguyễn Vỹ. Trong khi đó, nếu nhìn rộng ra cả quá trình hiện đại hóa thơ Việt thế kỉ XX, dẫu chưa rõ ràng, không tuyên ngôn, lập thuyết nhưng phải chăng Nguyễn Vỹ đã sớm hướng đến một lối thơ “tân hình thức”? Nhìn lại Nguyễn Vỹ, đánh giá lại ông từ cái nhìn bao quát hơn, nhiều chiều hơn ở thời điểm này (đầu thế kỉ XXI), theo chúng tôi là rất cần thiết. Lịch sử văn học cần ghi nhận ông như một nhà Thơ mới có ý thức vượt qua “sự tồn dư ngoan cố” của lối viết cũ (xét từ Tập thơ đầu – 1934) và như một trong những nhà thơ cổ xúy cho lối viết tân hình thức, tuy ông không đi đến tận cùng và cũng đã không trở thành một nhà thơ tân hình thức (xét từ tập thơ Hoang vu – 1962).

2. Những yếu tố cách tân trong thơ Nguyễn Vỹ (trong thời đại Thơ mới và thơ Việt Nam hiện đại).

Bàn về Thơ mới, người ta không quên một cách hiểu “Thơ mới là thơ tự do”- tự do về hình thức, tự do của cá tính sáng tạo. Trong bối cảnh xã hội, văn hóa, văn học đương thời, Nguyễn Vỹ có nhiều bài thơ thể hiện những khao khát tự do, không chỉ cho đất nước, cho mỗi công dân, mà quan trọng hơn đó là sự tự do của cái tôi nghệ sĩ. Không ít lần Nguyễn Vỹ cất lên tha thiết: “Ôi tự do! Mi quý biết nhường nào!/ Mi là cả Trăng, Sao, Trời, Thơ, Mộng” (Trăng, chó, tù...), dù thi nhân bất lực biết rằng mọi chuyện rốt cuộc “cũng thế thôi”: “Lắm lúc tôi buồn tôi bảo tôi/ Nói làm chi nhỉ? Phí lời thôi/ Kệ thây thời thế, thời là thế/ Trống ngược kèn xuôi cũng thế thôi” (Cũng thế thôi). Tâm trạng Nguyễn Vỹ trong hầu hết các bài thơ chính là tâm trạng cô đơn, sầu buồn của thế hệ các nhà Thơ mới “đầu thai nhầm thế kỉ”, “u uất nỗi chơ vơ” (Vũ Hoàng Chương). Cảm thức lạc loài, cô quạnh chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong số các bài thơ, đặc biệt là thơ 7 chữ,  8 chữ của Nguyễn Vỹ (Phổ thông mười năm cảm nghĩ, Cũng thế thôi, Đêm sầu về, Đêm giao thừa tắm biển, Cảm ơn ngài, Hoa lệ…). Khảo sát bài thơ Hương Giang dạ khúc (1936) được viết theo thể thơ 7 chữ, chúng tôi nhận thấy, trong 5 khổ thơ toàn bài, khổ thơ nào của Nguyễn Vỹ cũng sử dụng từ “tê tái” như một từ khóa để khẳng định “tâm hồn ta rên rỉ, buồn tênh” (lặp lại 2 lần ở 2 khổ thơ). Trong bài thơ Hoa phượng (1960), với những câu thơ 8 chữ, Nguyễn Vỹ cũng nhiều lần diễn đạt theo lối Tây, khiến cấu trúc câu thơ mang đậm tinh thần của Thơ mới: “- Đây một nụ hoa tàn, em đã lượm / Để tặng Anh, còn đượm chút duyên hoa / Em vẫn buồn, Anh ạ, mấy mùa qua/ Thấy phượng nở chói lòa trong nắng mộng”.

Có thể thấy, thơ Nguyễn Vỹ là một phần của Thơ mới, kéo dài Thơ mới. Với vai trò tiên phong [6], Nguyễn Vỹ đặc biệt rất có ý thức cách tân thể loại. Ông không chịu giam mình trong những thể thơ 7 chữ, 8 chữ mà thể nghiệm qua nhiều thể thơ đặc biệt (2 chân, 4 chân, 6 chân, 8 chân, 10 chân, 12 chân) với nhiều hình thức câu thơ, dòng thơ độc đáo. Một mặt, dường như Nguyễn Vỹ đã phát huy tinh thần thơ nhịp chẵn của đồng dao, của lục bát thay vì kiểu thơ 5 chữ, 7 chữ trong thơ ngũ ngôn, thơ Đường luật vốn là “kinh điển” và đại diện cho thơ cũ? Mặt khác, so với giọng u sầu chủ đạo của Thơ mới, cái sầu bi trong thơ Nguyễn Vỹ qua những dòng thơ 2 chữ hay 4 chữ có chút gì dứt khoát, mạnh mẽ hơn: “Từng giọt/ Thánh thót/ Từng giọt/ Điêu tàn/ Trên nấm/ Mồ hoang… Từng giọt/ Thánh thót/ Từng giọt/ Tơi bời/ Mưa rơi/ Gió rơi/ Lá rơi / Em ơi” (Sương rơi) hay “Một con chim xanh/ Đang hót trên cành? Bỗng vang tiếng súng/ Con chim xanh xanh/ Lìa cành rớt xuống…. Ta cũng như chim/ Mang một trái tim/ Đìu hiu, tan tác/ Mà ta vẫn hát/ Hết kiếp tơ vương” (Chim hấp hối). Với những câu thơ 10 chân, xen kẽ với các câu thơ 9 chân, 11, 12 chân trong bài thơ Tiếng chuông chùa, có nhịp đọc khá gần với thơ 5 chữ (ngắt nhịp 5/5), Nguyễn Vỹ cũng đã tìm cách làm mới việc ngắt nhịp, ngắt dòng (3/2; 2/1/1/1, 2/1/2…), tạo cấu trúc hình ảnh các câu thơ có phần độc đáo:

 

Như vậy, không chỉ làm mới, sáng tạo thêm kiểu thơ nhịp chẵn, phá vỡ sự quen thuộc của thơ nhịp lẻ, Nguyễn Vỹ còn rất có ý thức kiến trúc bài thơ. Ở nhiều bài thơ, nếu nói tác giả đã cấu trúc bài thơ… có khi vẫn chưa chính xác. Bởi Nguyễn Vỹ chú ý nhiều đến tính tạo hình của tác phẩm, đòi hỏi thơ không chỉ tác động tới thính giác mà cả thị giác của người đọc. Bài thơ Tiếng chuông chùa ở trên không chỉ tạo cảm giác êm đềm nhờ nhiều vần bằng, mà còn gieo vào lòng người sự tĩnh mịch, thong dong nhờ những tiếng chuông rơi đều đặn,chậm rãi như những ngắt nhịp, những đứt quãng ngắn ở mỗi dòng thơ. Trong một số bài thơ khác, Nguyễn Vỹ lại tạo dáng hình ziczac (bài Hoàng hôn với những câu thơ 2 chữ), hình thoi (bài Mưa rào với câu thơ đầu 1 chữ, tăng dần thành 2 chữ, 3 chữ… đến 11 chữ…rồi giảm lại còn 10 chữ, 9 chữ, và còn 1 chữ ở câu thơ cuối cùng), khiến những bài thơ mang âm điệu của Thơ mới trở nên lạ hơn, ngay từ những cái nhìn đầu tiên của độc giả.

Mang thiên hướng dùng văn chương để đả kích, để tranh đấu vì quê hương, xét đến cùng, Nguyễn Vỹ đã không kiên trì cách tân thơ như những nhà thơ cùng thời với ông, cả trước và sau phong trào Thơ mới. Nguyễn Vỹ không đẩy thơ đến mức tượng trưng như thơ của nhóm Xuân thu nhã tập, dù ông có nhiều bài gây ám ảnh về âm thanh, nhạc điệu (Sương rơi, Tiếng chuông chùa…). Nguyễn Vỹ cũng không đẩy mạnh đến thế giới siêu tưởng với những ám ảnh của trụy lạc, của cuồng dại ái tình như thơ nhóm Dạ đài, dù ông có những bài thơ chạm đến những dày vò thân xác (Giấc mơ bom nguyên tử, Đêm trinh…). Nguyễn Vỹ chọn kiểu thơ “tố cáo hiện thực”, dù cái hồn của thơ ông là hồn của một nhà thơ lãng mạn. Đấy chính là “giới hạn” khiến Nguyễn Vỹ không đeo đuổi đến cùng xu hướng cách tân thơ sau 1954 như một số nhà thơ đương thời như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần…

Sau 1954, thơ Nguyễn Vỹ ít nhiều đã thể hiện nhu cầu đổi tư duy cũng như hình thức biểu đạt. Tiếp tục kiểu thơ 2 chân của trường phải Bạch Nga, bài thơ Hoàng hôn (1950) gây ấn tượng mạnh nhờ được tạo hình ziczac, tạo dáng, tượng hình những cánh cò thăm thẳm giữa bóng chiều:

Các bài thơ Tiếng chuông chùa, Mưa rào (1968) cũng góp phần chứng tỏ Nguyễn Vỹ có một mảng thơ tượng hình, tượng thanh mới mẻ, bên cạnh những bài thơ nói chí, tỏ lòng. Không làm nhiều thơ tự do, song một số bài thơ (kể cả thơ trào phúng) của Nguyễn Vỹ đã có những câu thơ được ngắt dòng, ngắt nhịp độc đáo, đem lại hiệu ứng thẩm mĩ mạnh mẽ. Hãy đọc một đoạn thơ của Nguyễn Vỹ:

Để tôi đi!

Để tôi đi!

Trời không mây, không gió

Tôi không áo, không chăn

Tôi về quê hương không cửa, không ngỏ.

Tôi về cô phương không lửa, không trăng

Mịt mù thăm thẳm

Mênh mông biên giới của Đêm trinh!

Tối đen một giếng thẳm

Rực rỡ ánh quang minh.

Tôi với tôi,

Không hình không bóng.

Tôi với tôi,

Không thơ, không mộng.

Tôi với tôi,

Lồng lộng giữa Hoang vu!

(Đêm giao thừa Nhâm Dần – 1962)

***

Nguyễn Vỹ có một số bài thơ vào loại tuyệt phẩm, có những câu thơ hay đến lặng người. Đáng tiếc là Nguyễn Vỹ sáng tác không nhiều thơ, lại không đi theo một dòng thơ, một thể loại, một lối viết… Có lẽ vì thế, trên bầu trời Thơ mới và trên thi đàn thơ Việt, Nguyễn Vỹ chỉ lóe sáng chứ không tỏa sáng. Nguyễn Vỹ cũng chỉ khiến dư luận chú ý chứ chưa thể khiến dư luận xôn xao. Tuy vậy, Nguyễn Vỹ không “vô danh” đến mức khiến người ta có thể quên ông, cũng không giản đơn đến mức khiến người ta chỉ phủ định hay xưng tụng. Thơ Nguyễn Vỹ cần được đánh giá trong tương quan chung của Thơ mới và thơ Việt Nam hiện đại. Từ cái nhìn đồng đại và lịch đại, có thể thấy, Nguyễn Vỹ đã có một chỗ đứng đáng chú ý trong lịch sử văn học, trong tiến trình thơ Việt Nam thế kỉ XX. Thơ Nguyễn Vỹ mang gương mặt của Thơ mới và góp phần làm nên diện mạo Thơ mới. Thơ Nguyễn Vỹ cũng không ngừng vận động hướng về kiểu thơ “tân hình thức” và góp phần ủng hộ sự ra đời về sau của thơ tân hình thức. Xét đến cùng, Nguyễn Vỹ chỉ là một cánh én nhỏ chẳng thể làm nên mùa xuân của thi ca. Song chả phải bất kì một mùa xuân thi ca nào cũng được dệt nên từ những cánh én nhỏ nhoi,thầm lặng? Chúng tôi cho rằng, vai trò cách tân thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn Vỹ cũng cần được đánh giá như thế. Nguyễn Vỹ không là tất cả. Nhưng Nguyễn Vỹ là một phần không thể thiếu của Thơ mới và thơ Việt hiện đại. Vai trò cách tân của Nguyễn Vỹ không quá lớn, nhưng đủ để lịch sử và hậu thế ghi nhận. Đủ để tên tuổi của Nguyễn Vỹ không bị lãng quên.

 Thái Phan Vàng Anh/Vanvn

______________________

1. Xem cuộc bút chiến giữa Lê Ta và Lê Tràng Kiều được ghi lại trong hồi kí Văn thi sĩ tiền chiến (Nxb Khai Trí,1970) của Nguyễn Vỹ.

2. Xem Hà Nội báo, số 23 ngày 10.6. 1936 hoặc bài của Lê Tràng Kiều đáp lại Thế Lữ, trong Văn thi sĩ tiền chiến.

4. Dẫn theo Nguyễn Tấn Long (2000), Việt Nam thi nhân tiền chiến toàn tập, Nxb Văn học, tr 360, 361, 358.

Khi Nguyễn Vỹ cho ra mắt tập thơ đầu (1934) thì Thế Lữ, người được xem là mở đầu của phong trào Thơ mới mãi đến 1936 mới có tập Mấy vần thơ.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cuộc gặp gỡ kỳ lạ - Bút ký của Vũ Minh Phúc
Năm ấy, tôi được cử lên Điện Biên Phủ để tường thuật về sự kiện 1.000 anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Những con người anh hùng nhất, dũng cảm nhất, hôm ấy giữa Hội trường khang trang rộng lớn, ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình. Những tấm huân, huy chương lấp lánh và cao quý nhất trên ngực những người lính già, nó được dành để trao tặng cho những con người đã hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của Tổ quốc. Cuộc gặp gỡ qua đi, tôi về nhà, nhưng những câu chuyện ấy chẳng bao giờ qua đi, nó như cứ trở đi trở lại trong những giấc mơ.
Xem thêm
Nhà tù Sơn La và cây đào Tô Hiệu
Mỗi lần trở lại nhà tù Sơn La, gót chân tôi như bị níu chặt trước cây đào mang tên người chiến sĩ cộng sản Tô Hiệu. Giống như lần trước, tôi lại trông thấy rất nhiều người vây quanh và lặng yên chụp ảnh bên tấm biển nhỏ cắm ở dưới gốc cây đào. Cội đào cổ thụ kiêu hãnh bên nền móng cổ xưa như thể tựa mình vào vách đá của tù ngục; sừng sững ngay bên lối vào với cành lá tươi xanh, tán xoè rộng khắp như thể đang che chở cho những miền ký ức.
Xem thêm
Trên những nẻo đường tri ân - Ký của Nguyên Hùng
Dọc dải đất miền Trung, nơi từng rung chuyển bởi đạn bom và nước mắt, vẫn còn đó những địa danh đã đi vào tâm thức dân tộc: Trường Sơn, Khe Sanh, Thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, địa đạo Vĩnh Mốc... Mỗi tấc đất, mỗi dòng sông là một trang sử được viết bằng máu của những người lính tuổi hai mươi.
Xem thêm
Em đợi anh về
Dòng sông Vàm Cỏ vẫn miệt mài chảy, nước vẫn trôi đi, thời gian vẫn luân hồi qua từng mùa lá rụng. Nhưng bên bờ sông ấy, có những nỗi nhớ đã hóa đá, có những tình yêu đã vượt thoát khỏi ranh giới của sự sống và cái chết, để trở thành một biểu tượng bất tử. Câu chuyện về người chiến sĩ - liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và người con gái Nguyễn Thị Lệ là một minh chứng sâu sắc – một câu chuyện được viết bằng máu, nước mắt và tấm lòng sắt son của người phụ nữ Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Xem thêm
Nghĩa tình với liệt sĩ
Những ngày này, cả nước cùng tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, chúng ta lại càng thấm thía hơn về hai chữ “tri ân”. Tri ân không chỉ là những vòng hoa, những nén tâm hương thành kính dâng trên đài tưởng niệm, mà đôi khi còn là những câu chuyện lặng thầm, bền bỉ được thắp sáng từ nghĩa đồng bào, tình đồng đội sâu nặng giữa thời bình.
Xem thêm
Tiếng ghi - ta rung lên ngày ấy - Tản văn Văn Lê Tám
Có những chuyến đi là để trở về, nhưng cũng có những lần trở về chỉ để nhận ra mình đã vĩnh viễn đánh rơi một phần hồn ở lại. Ba mươi năm, một chớp mắt của đất trời, nhưng là hơn nửa đời người đối với nhóm bạn lớp 8A2 ngày ấy trên quê hương Minh Hải.
Xem thêm
Một đêm Bến Hải - Bút ký của Nguyễn Thị Việt Nga
Đặt trong bối cảnh quốc tế hôm nay, khi nhiều nơi trên thế giới vẫn còn tiếng súng, vẫn còn những dòng người rời bỏ quê hương, vẫn còn những đứa trẻ lớn lên giữa đổ vỡ, vẫn còn những đường biên bị biến thành vết thương, một đêm Bến Hải càng trở nên thấm thía. Từ một dòng sông từng là giới tuyến, Việt Nam gửi đi một lời nhắn không ồn ào nhưng bền bỉ: hòa bình không phải là một trạng thái tự nhiên, mà là thành quả của lương tri, của đối thoại, của sự kiềm chế, của lòng nhân ái và của trách nhiệm với tương lai.
Xem thêm
A Pa Chải, một lần đến cả đời thương nhớ
Chúng tôi muốn lưu lại với miền đất ba biên A Pa Chải lắm, nhưng để kịp cho hành trình trở về vào ngày hôm sau nên cũng đành phải chia tay với Sín Thầu trong những luyến tiếc. Tạm biệt “vùng đất bằng phẳng rộng lớn”, nghĩa của từ A Pa Chải theo tiếng địa phương của đồng bào Hà Nhì, chúng tôi khép lại một hành trình khám phá miền cực Tây thân thương của Tổ quốc và mang theo về cả một khoảng trời biên viễn cùng với tâm nguyện sẽ có một ngày được trở lại. Thế đấy, có những vùng đất, có những chuyến đi, dù chỉ một lần chạm mặt mà trong lòng đã thầm gửi lại cả một đời thương nhớ. Có lẽ từ đây, A Pa Chải trong tôi cũng vậy. Nó đã gieo vào lòng tôi những thanh âm bâng khuâng của một miền biên thuỳ, trong niềm thương bản quán chẳng thể nào quên.
Xem thêm
Rạng rỡ tên người
Không chỉ bởi hàng nghìn ánh đèn, những màn hình khổng lồ, những chùm pháo hoa sẽ bừng nở cuối chương trình, mà còn bởi một cái tên đã trở thành ánh sáng dẫn đường cho cả dân tộc suốt hơn một thế kỷ qua.
Xem thêm
Một kết nối nhân văn
Chiều ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra cuộc gặp mặt, giao lưu giữa lãnh đạo Quân đội với đội ngũ văn nghệ sĩ khu vực phía Nam.
Xem thêm
Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất
Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) – vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.
Xem thêm
Đừng tiếc lời khen khi dạy trẻ nhỏ
Khi đời sống của mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, nhiều gia đình có điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái được tốt hơn. Giáo dục thời hội nhập hiện nay có nhiều cơ hội được tiếp cận, học hỏi phương pháp giáo dục tiên tiến, khoa học, nhiều bậc phụ huynh đã chú trọng giáo dục cho con nhỏ rất tích cực. Từ cách ứng xử hàng ngày cho đến lời nói, cử chỉ đều được người lớn ý thức khi giao tiếp với con trẻ. Trong quá trình giao tiếp đó, lời nói và đặc biệt là lời khen lại có tác động lớn tới nhận thức và hành vi, tình cảm của trẻ con.
Xem thêm
Trái tim rỉ máu! - Tạp bút Nguyễn Xuân Hương
Năm nay mùa mưa lại đến. Những cơn giông lốc gió cuốn kèm theo những cơn mưa nghe ràn rạt trên đường phố. Giờ đây, gã đã nghỉ hưu không phải bon chen lặn lội trên đường như thuở trước nữa. Trái tim gã đã trả lại nhịp đập bình thường như trước ngày bị bệnh. Và trong những giấc mơ về đêm không còn cảnh trái tim rỉ máu nữa. Cuộc sống cứ bình thản trôi đi mặc cho bão táp phong ba. Mong rằng trái tim gã cứ hoạt động bình thường đến ga cuối cuộc đời gã. Như vậy là mãn nguyện lắm rồi. Xin cảm ơn tất cả mọi người, xin cảm ơn cuộc đời, thật đáng quý biết bao.
Xem thêm
Chuyện về một thương binh nặng – Bút ký Trần Trọng Trung
Nhắc đến thương binh Nguyễn Văn Hữu ngụ xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh là gợi nhớ đến những ký ức hào hùng, cuộc hành trình không giới hạn của Sống đẹp! Ông đã cống hiến cả một thời tuổi trẻ, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương trắng, máu đào của bản thân mình chiến đấu chống kẻ thù, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Xem thêm
Nấm Dẩn, một sinh thái trong lành – Bút ký Đào Thị Thu Hiền
Chiều buông, rời bước ra khỏi bãi đá cổ, lòng tôi cứ bâng khuâng trước vẻ đẹp vừa hoang dại, vừa tôn nghiêm của vùng cao biên giới Nấm Dẩn. Những địa danh như đèo Gió, thác Tiên, hay bãi đá cổ Nấm Chanh giờ đây không còn là những cái tên vô danh giữa đại ngàn heo hút mà đã được định danh trên bản đồ di sản nước nhà. Di tích Bãi đá cổ bản Nấm Chanh ở xã Nấm Dẩn đã được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia năm 2008 và khu danh lam thác Tiên - đèo Gió cũng được xếp hạng thắng cảnh quốc gia vào năm 2009. Nhưng rồi lại nghĩ, bản đồ du lịch ở Nấm Dẩn đã mở ra nhưng giao thông và hạ tầng ở đây còn chưa theo kịp. Muốn nhiều người biết hơn nữa về những thắng cảnh và di sản ở Nấm Dẩn đường đi và các dịch vụ chắc chắn phải đi trước một bước để đón chân du khách. Nghĩ thế, rồi lại nhìn sang những vùng đất khác. Du lịch mở ra và bản sắc văn hoá cứ mất dần vì làn sóng thương mại hóa. Bất giác, tôi giật mình và tự hỏi: liệu một mai, khi rộn rã thanh âm của những bước chân du lịch, Nấm Dẩn có còn giữ nổi cho mình là một sinh thái trong lành nữa hay không?
Xem thêm
Chân mây 6 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai. Trong rung động thời trai trẻ của ai. Hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng bỏng. Những dây leo lộng lẫy hoa vàng. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng. Và sông Lô hào hùng. Sông Lô dạt dào sóng nước.
Xem thêm
Chuyện về nhà thơ Hoa Níp sau 10 năm rời cõi tạm
Hoa Nip là nhà thơ trẻ từng tham gia hoạt động trong Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP.HCM do nhà thơ Phan Hoàng làm trưởng ban. Dù sinh sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng mỗi khi Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức các chuyến đi thực tế, sáng tác anh đều tham gia và hoạt động rất tích cực. Trong quan hệ đồng nghiệp, anh được bạn bè yêu thương, trân quý. Trong sáng tác anh được đánh giá là một nhà văn trẻ giàu triển vọng. Nhưng cuộc đời quả vô thường, năm 2016, một tai nạn thương tâm xảy ra đã cướp đi sinh mạng của anh trong sự đau đớn và tiếc thương của gia đình và đồng nghiệp. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Hoa Nip, Phùng Hiệu xin giới thiệu bài viết của cha anh - tác giả Trần Vinh.
Xem thêm
Cái đẹp đời thường trong tranh họa sĩ Vũ Dương - Bút ký Trần Trung Sáng
“Vẽ cuộc đời bằng cảm xúc” là chủ đề chương trình giới thiệu cuốn sách tranh của họa sĩ Vũ Dương do Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp với Chi hội Mỹ thuật Việt Nam tại Đà Nẵng và gia đình họa sĩ Vũ Dương tổ chức trong những ngày đầu tháng 5 vừa qua.
Xem thêm