TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 19:34:53
mail facebook google pos stwis
164 lượt xem

NGUYỄN NGỌC TRÍ

Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.

Nhan đề của cuốn sách đã gợi ra một nghịch lí đầy ám ảnh. Trăng vốn là thứ ánh sáng dịu dàng nhất trong trí tưởng tượng Á Đông, nhưng ở đây, ánh trăng ấy không tạo ra bóng. Một thế giới như thế sẽ ra sao. Khi không còn bóng tối để che giấu, con người buộc phải đối diện trực tiếp với chính mình. Chính ý niệm ấy âm thầm dẫn dắt toàn bộ cuốn tiểu thuyết.

Tác phẩm của Tô Giang không chạy theo nhịp kể gấp gáp của dòng tiểu thuyết hình sự quen thuộc. Nó chậm rãi, kiên nhẫn, gần như một cuộc lần dò vào tâm địa con người. Điều khiến người đọc bị cuốn vào cuốn sách này không phải là sự hồi hộp của cốt truyện, mà là sự mê hoặc của ngôn từ và những lớp ý tứ được cài đặt khéo léo trong từng chuyển động của câu chuyện.

 

Tiểu thuyết "Nơi trăng không hắt bóng" đoạt giải C cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống lần thứ 5 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức.

 

Ở trung tâm của tiểu thuyết là những con người phải sống và lựa chọn trong những vùng xám của đạo đức. Nhân vật Hà An một nữ sĩ quan công an, không được xây dựng như biểu tượng anh hùng quen thuộc. Cô hiện ra trước người đọc với đầy đủ những rung động, những do dự và những nỗi cô độc mà bất cứ con người nào cũng có thể trải qua. Chính sự mong manh đó khiến nhân vật trở nên thật.

Nhưng điều đáng nói hơn nằm ở cách tác giả triển khai mạng lưới nhân vật phụ. Trong nhiều tiểu thuyết, nhân vật phụ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Ở Nơi trăng không hắt bóng, họ giống như những chiếc gương phản chiếu nhiều chiều của thế giới đạo đức mà cuốn sách đang đặt ra. Nhân vật Thục là một ví dụ tiêu biểu. Xuất hiện không quá nhiều, nhưng mỗi lần hiện diện, Thục lại mở ra một góc nhìn khác về thân phận con người trong hệ thống quyền lực và luật lệ. Ở Thục có một sự mềm yếu rất đời, nhưng cũng có một thứ bền bỉ âm thầm thứ bền bỉ của những con người buộc phải tồn tại trong những hoàn cảnh không do mình lựa chọn. Bên cạnh đó là hình ảnh ông Giám thị và Phó Giám thị Văn Đức. Nếu nhìn từ bên ngoài, họ là những nhân vật đại diện cho trật tự và kỉ luật. Nhưng dưới ngòi bút của Tô Giang, họ không bị giản lược thành những biểu tượng cứng nhắc. Trái lại, mỗi người đều mang trong mình những lớp tâm trạng riêng. Ông Giám thị hiện ra với dáng vẻ của một người đã đi qua nhiều năm tháng của nghề nghiệp nơi công lí không phải lúc nào cũng sáng rõ như những điều ghi trong văn bản pháp luật. Trong khi đó, Phó Giám thị Văn Đức lại mang một sắc thái khác: thực tế hơn, đôi khi lạnh lùng hơn, nhưng chính sự lạnh lùng ấy lại khiến nhân vật trở nên đáng tin trong logic của câu chuyện.

Tuy nhiên, nếu nói đến yếu tố tạo nên chiều sâu huyền thoại cho cuốn tiểu thuyết, không thể không nhắc đến già làng Ama Krông.

Ama Krông bước vào câu chuyện như một bóng dáng của núi rừng Tây Nguyên. Ở ông có sự uy nghi của một người gìn giữ kí ức của bản làng Ê đê. Mỗi lần nhân vật này xuất hiện, giọng kể của cuốn tiểu thuyết dường như chậm lại, trầm xuống, như thể đang bước vào một không gian linh thiêng. Bản làng Ê đê trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh địa lí. Nó mang một màu sắc huyền bí, gần như huyền thoại. Những nghi lễ, những câu chuyện truyền đời, những niềm tin cổ xưa tất cả tạo nên một lớp nền văn hóa dày đặc. Và ở trung tâm của lớp nền đó là ngôi đền cổ nơi cất giữ bí mật của "Moonlight". Ngôi đền ấy giống như một biểu tượng thẩm mĩ của cuốn sách. Nó không được giải thích tường tận, cũng không bị biến thành một chi tiết kịch tính đơn thuần. Tác giả để cho nó tồn tại như một điểm mờ đầy ám ảnh. Người đọc có thể cảm nhận rằng nơi ấy không chỉ lưu giữ một bí mật cụ thể, mà còn lưu giữ những tầng sâu của kí ức và niềm tin. Chính sự tiết chế này khiến cuốn tiểu thuyết mang một sức hút đặc biệt. Tô Giang không vội vàng giải thích. Anh để lại những khoảng trống và chính những khoảng trống ấy khiến trí tưởng tượng của người đọc hoạt động.

Một điểm đáng chú ý khác là cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.

Ngôn từ trong Nơi trăng không hắt bóng không phô trương. Nó mềm, chậm, và nhiều khi mang sắc thái của một dòng suy tưởng. Nhưng chính sự mềm mại đó lại tạo nên sức nặng. Như nhà văn Sương Nguyệt Minh đánh giá "Tác phẩm còn dẫn dụ người đọc bằng chất văn tươi xanh, giàu ẩn dụ, đậm triết luận và có chiều sâu suy tư. Đây là những trang viết khác biệt, rất ấn tượng và mạnh mẽ đột sáng." Có những đoạn văn đọc lên giống như một khúc độc thoại nội tâm. Ở đó, câu chuyện tạm lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những suy nghĩ về thân phận con người, về công lí, về sự cô độc của những người phải sống giữa những quy tắc cứng rắn.

Đó là lúc cuốn tiểu thuyết vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện điều tra. Nó trở thành một cuộc suy tư về con người.

 

Tác giả Tô Giang.

 

Vì thế, đọc Nơi trăng không hắt bóng, người ta có cảm giác đang đi trong một không gian nửa hiện thực, nửa huyền tưởng. Những nhân vật rất đời thường, nhưng bối cảnh và biểu tượng lại mang sắc thái gần với huyền thoại. Sự kết hợp này tạo nên một chất văn hiếm gặp trong dòng tiểu thuyết viết về lực lượng công an. Ở đây không có những chiến công được kể bằng giọng điệu hùng tráng. Thay vào đó là những con người phải đối diện với chính mình, đôi khi trong im lặng. Có lẽ chính vì vậy mà nhan đề Nơi trăng không hắt bóng trở nên đặc biệt phù hợp. Đó là một thứ ánh sáng không phô trương nhưng nó chiếu thẳng vào nội tâm. Và khi ánh sáng ấy xuất hiện, mọi điều giấu kín trong con người đều hiện ra. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn người đọc từ trang đầu tiên đến dòng cuối cùng. Giống như ta vừa được gió trong sách cuốn trôi, hương trong chữ giữ lại - hoá vào từng thân phận để đắm chìm trong khổ đau và tan chảy cùng tình yêu của họ. Đây như một quả cầu nhiều mặt - trọn vẹn về nhiều nghĩa. Một cuốn sách có thể đọc nhiều lần, dù mình biết câu chuyện với những nhân vật đó, nhưng mỗi lần đọc, lại thêm một lần mở cửa đi vào lối mới."

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện nay, nơi nhiều tiểu thuyết vẫn còn bị ràng buộc bởi những công thức quen thuộc, cuốn sách này mang lại một cảm giác khác. Nó cho thấy tiểu thuyết về đề tài công an hoàn toàn có thể bước sang một địa hạt rộng hơn địa hạt của triết học về thân phận.

Nơi trăng không hắt bóng vì thế không chỉ là câu chuyện về những con người cụ thể. Nó là câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người. Và ở nơi ánh trăng không hắt bóng ấy, người đọc buộc phải tự hỏi: điều gì trong chúng ta sẽ còn lại khi mọi bóng tối biến mất?

N.N.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm