TIN TỨC

Đào Phong Lan “không thể nói lời từ biệt” với thơ!

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-04 08:05:43
mail facebook google pos stwis
2399 lượt xem

Sáng 01/11/2023, Hội Nhà văn TPHCM phối hợp cùng nhà thơ Đào Phong Lan tổ chức ra mắt tập thơ tình “Em không thể nói lời từ biệt” (Nxb Hội Nhà văn, 2023). Đây là tập thơ đánh dấu sự trở lại sau 17 năm Đào Phong Lan không in ấn, không công bố thơ. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu sau đây bài viết của Bảo Gia vừa đăng trên tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 98, ngày 02/11/2023.


Nhà thơ Đào Phong Lan tự trình bày ca khúc "Mùa hoa chờ đợi" của mình.

BẢO GIA

Sau khi “Giêng Hai” (tập thơ, năm 1995) và “Ma Trận” (tập truyện, năm 2001) gây ấn tượng mạnh với sự sôi nổi, cuồng nhiệt của tuổi trẻ, “nàng thơ” của Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa 5) Đào Phong Lan đã im lặng suốt 20 năm, bước vào một cuộc sống khác. Người ta chỉ biết chị vẫn là hội viên Hội nhà văn TP. HCM, người ta vẫn chia sẻ những vần thơ tình cháy bỏng cảm xúc yêu thương của chị trên các trang thơ, nhưng cuộc sống của chị thì là một ẩn số. Nhưng rồi bất ngờ như một cơn dông, “người đàn bà thơ” ấy đã trở lại với một thông điệp không thể dịu dàng hơn, không thể mãnh liệt hơn: “Em không thể nói lời từ biệt!”. Có thể hiểu rằng Đào Phong Lan không thể dễ dàng nói lời từ biệt với thơ, cũng như dễ dàng từ biệt những độc giả vẫn còn nhớ như in những câu thơ tài hoa của chị, cũng như gương mặt khả ái của chị trên văn đàn.

Tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” của Đào Phong Lan vừa ra mắt vào mùa thu năm 2023, với các bài thơ tình vừa quen thuộc, vừa mới lạ được chị sắp xếp thành bốn mùa tình yêu: Thu - Đông - Xuân - Hạ với tổng cộng 56 bài thơ. Đặc biệt hơn nữa, có cả đường link dẫn tới 15 bài thơ được chị thể hiện bằng giọng đọc của chính mình, một chất giọng miền Nam ngọt ngào mà ít người biết đã từng đọc tác phẩm “Đất rừng phương Nam” cho độc giả thiếu nhi toàn quốc trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) khi chị mới 15 tuổi, đang học Nhạc viện Hà Nội (Học viện Âm nhạc quốc gia ngày nay).

Thơ của Đào Phong Lan tràn đầy âm nhạc, thật khó có thể tách bạch phần nào là nhạc, phần nào là thơ. Có lẽ vì thế mà trong tập thơ, độc giả sẽ gặp lại tới ba bài thơ của chị từng được phổ nhạc và trở thành những bài hát nổi tiếng, như “Đêm xoang Tây Nguyên” (Nhạc sĩ Văn Chừng), “T’rưng” (tác giả Bùi Khánh Nguyên), và “Bóng lá” (Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện).

Đào Phong Lan trở lại giữa lúc thơ ca đang dùng dằng giữa truyền thống và hiện đại: là thơ có tiếp tục có vần, hay thơ là chỉ là những dòng chữ xếp hàng như thơ dịch, thơ tiếng Anh? Nhưng “người đàn bà thơ” ấy có cách khẳng định của riêng mình rằng thơ vẫn cần vần điệu, vẫn cần sự bác học trong nghệ thuật ngôn từ, vẫn cần có triết lý dù thơ cũng phản ánh những thế giới cảm xúc rất đời thường. Có lẽ vì thế mà thơ của Đào Phong Lan bật ra một cách cổ điển, mẫu mực nhưng vẫn hiện đại, đầy chất Việt trong câu, từ, ý, tứ:

Em không thể nói lời từ biệt

Như vung tay ném đá qua trời (Em không thể nói lời từ biệt)
 

Câu thơ rơi như lá vàng trên đất

Khẽ cuốn theo gót gió la đà

Cửa đóng mở ngôi nhà hạnh phúc

Như đón em vào lại đuổi em ra (Em không thể nói lời từ biệt)
 

Em sẽ khổ đau nếu một ngày không còn yêu anh nữa

Nếu một ngày như thế đến trong đời

Những hạt mưa chỉ còn một nửa

Rưng rưng rơi vỡ bên trời

Nắng không vàng màu nắng

Mây không xanh màu mây

Nước trong bình không bao giờ lắng

Trời không bao giờ đêm

Đất mãi mãi không ngày (Cho một ngày không bao giờ đến)
 

Anh quá chậm mà em thì đang vội

Em đã chờ anh đến phút cuối cùng

Anh cứ giấu những điều định nói

Lại xây quanh mình thành quách thủy cung (Lời Mỵ Nương)
 

Tình yêu em như khu vườn xanh

Lá níu lá, cành ôm cành tha thiết (Vì anh)
 

Em không thể nói lời từ biệt” không chỉ cho thấy sự lợi hại của ngòi bút Đào Phong Lan với thơ lục bát, thể thơ đã làm xiêu lòng biết bao độc giả yêu thơ của cô gái tuổi 20 từ những năm 1995, mà còn chứng tỏ bút lực của chị với thể thơ tự do và thơ 5 chữ.
 

Hãy cảm nhận cơn mưa trong thơ của chị:
 

Tháng Năm về vội vã

Mưa giọt giọt đầu cành

Phượng trùng trùng sóng lá

Rối bời bời ngón xanh (Mưa tháng Năm)


Mưa đã rơi ắp đầy nỗi nhớ

Tràn sang cả nửa đêm dài

Lũ kiến đen miệt mài về phía sáng

Như sợ mình không đến kịp ban mai (Nửa đêm)
 

Cơn mưa mọc hoang trên đất

Nảy lên bong bóng bảy màu

Những đám mây chân trời rơi nước mắt

Anh ở đâu?

Gió vẫn cồn cào góc núi tìm nhau (Viết giữa cơn mưa)
 

Nhưng nói đến thơ Đào Phong Lan thì không thể thiếu những bài thơ tình. Trong thơ tình của chị, có thể tìm thấy cái sắc ngọt lục bát của Nguyễn Bính, và cả sự đắm đuối rất nữ tính của Xuân Quỳnh, nhưng trong một sắc thái riêng của Đào Phong Lan.
 

Thôi hãy yêu như cây lá trên đồng

Vẫy vào ngày mùa thơm náo nức

Còn em xin được làm chiếc cúc

Nép khiêm nhường trên ngực áo anh (Hoan ca)
 

Em không biết thật mà em không biết

Đã yêu anh tự buổi mai nào (Lời đá cuội)
 

Em chỉ có một bờ tóc ngắn

Không đủ dài để buộc lời anh

Những ngọn tóc buồn hơn rêu cũ

Và hắt hiu gấp mấy lá cành (Cho ngày hôm qua)
 

Không có anh sao quá chừng phẳng lặng

Quá chừng mưa trên những tán lá bàng

Quá chừng rơi những thảm hoa vàng

Quá chừng hát những bài lâu không hát (Viết cho anh những ngày xa)
 

Hãy yêu nhau như là hai giọt nước

Lăn vào nhau những khát vọng nồng nàn

Hãy yêu như hai chiếc lá vàng

Lìa cành vẫn còn ôm ấp mãi (Viết cho anh những ngày xa)
 

Nhưng cũng giống như con người của chị, thoắt ẩn, thoắt hiện, gần đấy mà xa đấy, thơ của Đào Phong Lan trong lần trở lại lần này cũng tiết lộ không ít điều thú vị, mới mẻ. “Thơ say cho thằng bạn tỉnh” là một ví dụ:
 

Nhậu đi mày nhậu cho say trời đất

Cho quên đi cảm giác làm người
 

Mai tỉnh lại trên trần gian yếu đuối

Hai chúng ta hổ thẹn làm người.
 

Đào Phong Lan đã trở lại với Thơ, như thể Thơ là định mệnh, là duyên nợ của chị, với tình yêu, với độc giả, như chị nói “Em không thể nói lời từ biệt”. Với Thơ.

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM số 98 (ngày 02/11/2023)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm