TIN TỨC

Những đường xuân rộng mở – Tản văn của Lữ Mai

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng:
mail facebook google pos stwis
865 lượt xem

Nhắm mắt lại mà tưởng tượng, chợt thấy mình được trở về vòm trời ấu thơ, trong tiếng chim non ríu rít, trong hương thơm dịu nhẹ thanh tao từ muôn hướng đường xuân rộng mở.

Cảm giác mướt mát, tươi non, nồng ấm… cứ dâng ngập, bao bọc lấy những dấu chân. Tôi nhớ thời thơ nhỏ, chiều tháng Chạp, đám trẻ lăng xăng từ nhà chạy túa ra đường, sương từ dãy đồi sau làng tràn cả xuống cánh đồng trơ gốc rạ, bò lan lên con đường cỏ đã úa và hoa xuyến chi tim tím nở bừng. Rồi cứ thế, bước chân trẻ chạy tới đâu, sương như tan loãng dần, nắng mơ màng chiếu rọi. Từng tia sáng dịu dàng, dè dặt.


Nhà thơ trẻ Lữ Mai.

Mỗi khi nghĩ về những tia sáng ấy, tôi thường nhớ mẹ. Khi chúng tôi hỏi mẹ: “Khi nào xuân về?” Mẹ luôn nói: “Mùa xuân đợi sẵn đằng kia, khi nào tán cây gạo đầu làng gọi về đàn sáo, nghĩa là xuân đến thật rồi”. Cuối năm, trời lạnh và nắng hanh đến héo hắt. Mẹ tôi ngồi xếp lại tủ quần áo cho cả nhà, phân loại ra, cái đem vắt sổ lại, cái cắt thành khăn, cái gấp ngay ngắn cho vào chiếc rương kỷ niệm… Cũng có khi, mẹ tôi xay bột nếp, hong khô, từng nong từng mẹt tròn xoe bày kín khoảng sân hút gió.

Lũ trẻ chúng tôi vẫn cứ mê mải với những con đường đất. Đường ruộng kẻ dọc, kẻ ngang như bàn cờ, cỏ ba lá ken dày, lên bông mảnh mai gầy guộc. Đường đê lồng lộng mà mỗi khi chạy chơi hoặc ngồi yên nhìn dòng sông mùa cạn, bao nhiêu tưởng tượng ùa về. Bên kia sông, chỉ cách một chuyến đò, mà xa tít tắp. Bác gái tôi lấy chồng bên ấy, tôi còn được mẹ chỉ cho chiếc nhà ngói nâu bé tin hin cũng nép dưới bờ đê. Nhà bác đó, tôi khôn nguôi tưởng tượng, bác sống thế nào, các chị có đang chạy chơi như tôi, đường đê bên ấy có nhiều lỗ dế, châu chấu voi và đàn bươm bướm trắng rập rờn bay nương theo gió.


Ảnh minh họa.

Có một con đường in sâu trong trí nhớ tôi mà dân làng vẫn gọi: Đường Thiêng. Không biết ở những ngôi làng khác có con đường này không, và họ có cách gọi thế nào, nhưng đường Thiêng trong mắt tôi đến tận bây giờ vẫn chất chứa bao điều bí mật và gợi mở. Con đường ấy chia đất làng thành hai thế giới âm – dương. Bên này làng mạc, ruộng đồng, bên kia ngập tràn cỏ hoa, sườn đồi là nơi an nghỉ của người đã khuất. Từ tháng Chạp tới mùa xuân, lũ trẻ rất thích băng qua con đường nhỏ, thơ thẩn chơi đùa. Bà tôi kể chuyện, nơi ấy không chỉ có người làng nằm lại, mà thời chiến tranh, các chú bộ đội vào chiến trường chưa qua được bờ bên kia sông Mã đã gặp đạn bom, nằm mãi nơi này. Dưới tận sâu lòng đất, có phải bởi thanh xuân, nguồn sống vẫn bừng lên, mà cỏ hoa đường Thiêng rực rỡ, nồng nàn.

Sau này, sống ở phố phường, vào mùa xuân, vẫn có những con đường khiến tôi rung động, cảm giác mềm mại, mướt mềm và khấp khởi hệt tháng ngày tuổi thơ. Nhưng phải chờ qua tháng Chạp, khi lòng người đang miên man nỗi nhớ khoảng trời quê nền nã sắc tím hoa xoan, đỏ bừng hoa gạo thì đường phố trước nhà hoa sưa đã lác đác rụng rơi. Vì sao loài hoa này có cái tên kỳ lạ như vậy? Cho đến bây giờ đó vẫn là điều bí ẩn. Sưa ở Hà Nội không nhiều, rải rác ven hồ Ngọc Khánh, phố Phan Đình Phùng, công viên Bách Thảo. Riêng đường Cổ Ngư xưa chỉ còn độc một cây sưa trắng, phố Cầu Gỗ cũng còn vài ba cây kề nhau, hoa lá vương vít cả lên ban công một ngôi nhà cổ màu sơn tường úa vàng xen lẫn phong rêu. Ở nhiều câu đối trong đình Ngọc Hà có nhắc nhiều đến những cây sưa cổ thụ trên Núi Sưa, Bách Thảo với những giấc “mộng ứng” giữa khung cảnh “chín tầng mây buông thấp”, “nước lặng sông yên”.

Ai từng trú chân ở mảnh đất Hà thành qua những mùa hoa, có thể nhớ da diết một con đường rất nhiều cây cơm nguội vàng trên phố Yên Phụ, hay lối Cổ Ngư với “đường phượng bay mù không lối vào” nhưng người quyến luyến với hoa sưa thì lại không nhiều lắm. Đơn giản bởi loài hoa này chẳng dễ mang đến một niềm choáng ngợp về thị giác, một cảm xúc mạnh mẽ thoáng qua mà ai trót thầm thương trộm nhớ hoa sưa sẽ cảm nhận được nỗi mong manh, chơi với như trước mắt ta là một mùa mây lạ. Điều kỳ diệu nhất là mùa hoa sưa chỉ về sau những cơn mưa nơi phố thị. Ấy thế nên có những người đặt cho loài hoa này cái tên “Hoa đón mưa”. Nếu không có mùa hoa chỉ vẻn vẹn một đôi tuần, có lẽ loài sưa đã an phận khép mình giữa ồn ào phố thị để rồi sắc trắng, sắc xanh cứ lặng lẽ hòa vào nhau trong sự thanh khiết như thể lắng đọng bao tinh túy của đất trời.

Vài người bạn phương xa chưa từng đặt chân đến Hà Nội cứ hỏi mãi tôi: “Con đường hoa sưa Hà Nội có đẹp không, đẹp như thế nào?” Nhưng sắc hoa trắng bồng bềnh, dịu nhẹ kia dễ khiến ngôn từ bất lực. Loài hoa ấy mải miết, quyến luyến con người bằng linh giác, cả khi ta nhắm mắt lại, nhất là trong những giấc mơ. Những ngày xuân không nồm ẩm, mây mù. Những ngày trời trong và nhẹ, hoa sưa mở cánh vừa khi sương sớm từ giã mặt hồ, những luồng nắng xuyên tàng cây tựa hồ bện trong khói… Nhà văn Băng Sơn từng ví von, có lẽ loài hoa này là linh hồn một cô gái ngàn xưa kết tinh thành bạch ngọc, cứ mỗi độ xuân về lại nhớ tình lang nên hiện ra mơ hồ rồi lại bay về hư ảo. Tôi thì hình dung ra dáng dấp của một nàng cung nữ mười mấy tuổi, sắc nước hương trời chịu cảnh cô quạnh chốn lãnh cung. Nàng thoát tục trong bộ xiêm áo trắng muốt, nhẹ như mây. Nàng mãi mãi thuộc về cõi trinh thiêng, lặng lẽ. Để rồi cứ mỗi mùa hoa, bao nhiêu cặp mắt ngước nhìn là bấy nhiêu nỗi bâng khuâng ở lại.

Chính độ xuân căng tràn, diệu vợi, những loài hoa mỏng mảnh như mây vờn quanh từng con đường. Tàn hoa rụng vương vít từ hè phố đến tàng cây vì thân phận mỏng manh, dịu nhẹ. Giữa khoảng chơi vơi, lơ lửng của nỗi niềm ai đó chờ mưa, muốn gom mây lại mà đưa nhau về thì mùa hoa đã sắp sửa qua đi với những giọt mưa hồi sinh trong đáy mắt.

Sau những mùa hoa, tôi có thói quen, dạo bước trên đường phố Phan Đình Phùng ngắm những loài cây đang vào mùa trút lá. Cái vẻ ngoài gầy guộc, mong manh kia gieo vào lòng người sự trắc ẩn rất mông lung. Thế mà sấu vẫn đan lá kết vòm xanh rì trên cao như bức tường thành bất chấp. Loài cây duy nhất phó mặc giá lạnh, bão giông. Kể cũng lạ, sấu lúc xanh thì xanh đến kiệt cùng, khi trút lá vàng thì ráo riết như chẳng có gì phải tiếc thương, và đặc biệt, mùa hoa bao giờ cũng đến dịu dàng, khiêm nhường trong tít sâu vòm lá. Nhắm mắt lại mà tưởng tượng, chợt thấy mình được trở về vòm trời ấu thơ, trong tiếng chim non ríu rít, trong hương thơm dịu nhẹ thanh tao từ muôn hướng đường xuân rộng mở.

Theo Lữ Mai/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nhớ mãi kỷ niệm với nhà văn Nguyễn Quốc Trung
Qua các nguồn tin, được biết Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ Quân đội chuẩn bị phối hợp tổ chức hoạt động tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Quốc Trung sau 2 năm anh rời “cõi tạm” và nhân sự kiện anh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước với tiểu thuyết Đất không đổi màu, tôi cảm thấy vui mừng xen lẫn sự bồi hồi, xao xuyến.
Xem thêm
Tàn thu vắng bóng - Tản văn của Đặng Tường Vy
 Châu Âu thật tuyệt với bốn mùa rõ rệt. Mùa nào cũng có nét quyến rũ riêng, làm người tha hương vơi đi nỗi buồn dịu vợi. ..
Xem thêm
Nhớ Nguyễn Quốc Trung
Nhà văn Bích Ngân, Chủ tịch Hội nhà văn TP HCM gọi điện thông báo với tôi về việc Hội nhà văn TP HCM phối hợp cùng Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức tưởng nhớ nhà văn Nguyễn Quốc Trung nhân hai năm ông rời cõi tạm và đặc biệt nhà văn được truy tặng giải thưởng Nhà nước về tiểu thuyết Đất không đổi màu.
Xem thêm
Mùa thu đây hỡi cờ hồng vàng sao – Tản văn của Lê Xuân
Tháng Tám cũng là tháng giữa thu, tháng để các em thiếu niên, nhi đồng phá cỗ trông Trăng, mừng Tết Trung thu, rước đèn, múa lân dưới trăng thanh, gió mát…
Xem thêm
Cửa bể Cần Giờ | Bút ký của Nguyễn Minh Ngọc
Bài đăng Báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN) số 35+36, ra ngày 2-9-2023
Xem thêm
Tản Mạn Vàm Cỏ Đông - Tùy bút Trần Thế Tuyển 
Có lẽ trên trái đất này, không ở đâu cái giá để có độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc lại đắt như ở Việt Nam. Để có hình hài đất nước, vị thế quốc gia như ngày hôm nay đã có hàng triệu triệu người con ưu tú ngã xuống. Máu xương của họ tan biến thành đất đai tổ quốc và hồn của họ bay lên hóa linh khí quốc gia.
Xem thêm
Người lính làm nên huyền thoại
Phải nói, Trần Ngọc Trác là một cây viết tâm huyết với đề tài truyền thống cách mạng. Gặp  ông cách nay đã vài chục năm, tôi vẫn nhớ dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói trầm ấm và ánh nhìn thân thiện của nhà văn. Lúc ấy Trần Ngọc Trác là cán bộ của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh Lâm Đồng. Đã đọc Trần Ngọc Trác nhưng thực sự khi ông đảm nhiệm làm phim Người lính làm nên huyền thoại   về Đại tá Lê Kích (cậu ruột thứ Tám của vợ tôi), chúng tôi mới gắn bó  như anh em thân thiết. 
Xem thêm
Trúc Phương, người mà tôi muốn nói nhiều hơn những người khác
Bài phát biểu xúc động của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Xem thêm
Anh hùng Võ Thị Sáu trong tâm thức người đang sống
Ký của nhà văn Trầm Hương trên báo Phụ Nữ Việt Nam
Xem thêm
Dân lo | Bút ký của Lê Thanh Huệ
Bài đăng báo Văn Nghệ số 30 (3309) ngày 29-7-2023
Xem thêm
Kỷ niệm về nhà văn Minh Khoa với Trần Thế Tuyển
Sau giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước(30-4-1975), từ Trung đoàn 174, tôi được điều về học tập và làm việc ở báo Quân khu 7. Vừa đặt ba lô trong tòa nhà kiến trúc kiểu Pháp tại căn cứ Trần Hưng Đạo, nơi đặt tổng hành dinh của Bộ Tổng Tham mưu quân đội chế độ cũ, anh Mai Bá Thiện lúc đó phụ trách báo Quân khu 7 dẫn tôi ra mắt Phó phòng Tuyên huấn Quân khu - nhà văn Minh Khoa, lúc đó trực tiếp làm Tổng biên tập báo Quân khu 7. Từ lâu đã nghe danh nhà văn Minh Khoa với những truyện ký viết về Anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ, đặc biệt vở kịch Người ven đô với nhân vật Ông Tám Khỏe đậm đặc chất nông dân Nam Bộ, nay được gặp trực tiếp tác giả, tôi không khỏi bồi hồi, xúc động.
Xem thêm
Lòng tri ân luôn là giá trị bất bất biến
Bài đăng Tạp chí Linh khí Quốc gia kỷ niệm 76 năm ngày Thương binh - liệt sĩ
Xem thêm
Mây trắng trong vườn chè ông nội | Tản văn của Trang Thanh
tôi hay nhớ những gương mặt người thân đã khuất bóng...
Xem thêm
Hoa biên cương: Nấm độc trên đất Tây Nguyên (Kỳ cuối)
Chúng tôi cũng dự nhiều cuộc họp ở các buôn làng Tây Nguyên, chứng kiến những người lầm lỡ vượt biên hay đi biểu tình gây rối được kiểm điểm trước các già làng và bà con trong buôn. Ai cũng cúi đầu xấu hổ, xin được tha thứ, hứa sẽ không tái phạm.
Xem thêm
Hoa biên cương: Lương y của buôn làng (kỳ 4)
Bút ký nhiều kỳ của nhà văn Lại Văn Long
Xem thêm
Hoa biên cương: Từ biên giới đến hải đảo (Kỳ 2)
Bảo vệ biên cương và tình hữu nghị
Xem thêm
Vọng âm buồn | Hoàng Phủ Ngọc Phan
Một loài chim có tiếng kêu nghe như Ơi đò Ca Cút
Xem thêm
Đêm Tháng Giêng - Tản văn Trần Bảo Trân
Ngày anh cưới chị, tôi còn nhỏ. Gần bảy thập kỷ trôi qua, tôi vẫn còn nhớ như in, ngôi nhà lợp rạ, vách đất của chúng tôi có khách là một người lính. Anh bận bộ quân phục màu cỏ úa với chiếc mũ mềm có ngôi sao lấp lánh. Ngày chị đi lấy chồng, tôi tiễn chị ra cánh đồng, cuối bờ tre gai thường ngày ríu rít tiếng chim. Cầm tay tôi, chị khóc. Em ở nhà nhé. Nếu rảnh chị sẽ về chơi với em. Mắt nhoà, tôi cố giữ không để lệ rơi.
Xem thêm