TIN TỨC

Rung ngân khát vọng sống của con người

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-12-24 08:24:01
mail facebook google pos stwis
2044 lượt xem

TRẦN MAI HƯỜNG

(Đọc Những ngọn khói về trời của Bùi Phan Thảo, NXB Đà Nẵng 2022)

Thật khó khi viết một trường ca về đại dịch COVID -19, khó nữa là viết về con người, đất nước và nhân loại đã vượt qua đại dịch ấy ra sao, trên đường đi sai đúng thế nào? Đây có lẽ là sự dấn thân của nhà thơ Bùi Phan Thảo trước trách nhiệm của một người cầm bút và cao hơn hết là trách nhiệm của một công dân TP HCM trong những ngày đất nước gian nan ấy…

Trong “Những ngọn khói về trời”, nhà thơ Bùi Phan Thảo kể về những ngày tháng không thể nào quên của nhân loại và của mỗi người. Trường ca “Những ngọn khói về trời” chất chứa những cảnh ngộ bi ca trong tráng ca về lòng nhân, về đất nước, về nhân loại, về những điều không tưởng giữa địa ngục và thiên đường mà loài người đã vượt qua...

“Còn nhiều góc khuất tối tăm trên địa cầu này/ người nghèo không có quyền lựa chọn/ quyền sống bình đẳng cũng là hàng xa xỉ phẩm/ nhưng con virus dã man là thứ vô tri/chúng tấn công con người bất kể giàu nghèo/ bất kể màu da/ chúng nhấn chìm nhân loại xuống đáy đau thương/ những xác thân đã mất linh hồn/ lạnh lẽo nằm bên nhau chờ đưa đi siêu thoát”… (chương “Nhân loại bàng hoàng”)

Phải chăng sự khái quát đó làm cho con người thêm bi quan, mất phương hướng để rồi buông xuôi? Không! Ta hãy lắng nghe:

“Chỉ một đêm thôi/ mà đêm nay cũng không phải là đêm/ chỉ là ngày nối dài qua trong chập chờn giấc ngủ/ bao người như tôi không ngủ/ ngày mai, lệnh phong tỏa đầu tiên.../ điều ước lệ trở nên hữu dụng/ sợi dây như bức tường để giữ chân nhau (Chương “Đêm trước ngày phong tỏa”)

Có thể thấy Bùi Phan Thảo viết “Những ngọn khói về trời” như một thôi thúc, không thể không viết với cảm xúc tuôn trào. Đại dịch COVID-19 như một “đại hồng thủy” tràn qua đời sống nhân loại thời hiện đại, gây ra những thảm họa đau thương. Không ai có thể dửng dưng trước biến cố lớn lao này khi đại dịch tràn vào từng nhà, ai cũng có thể là nạn nhân của nó và từng ngày từng giờ, giữa lằn ranh tử sinh mỏng manh, ai cũng nhận ra lẽ vô thường của cuộc sống.

Trong cuộc chiến này, lúc dịch khởi phát, hoành hành, chưa biết kết cục ra sao nhưng vẫn phải kiên cường, phải có lòng tin, phải đoàn kết, vững tâm mới có thể chiến thắng đại dịch. Trăm triệu người dân Việt đã thấy được quyết tâm của chính quyền, của đất nước luôn đặt sinh mạng của con người, của tất cả mọi người lên trên hết. Lúc này không phải là lúc hô khẩu hiệu, mà là lúc phải ra tay hành động... Dù đâu đó vẫn bất ngờ, bị động, lúng túng… Bùi Phan Thảo đã đặc tả về Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh trong những ngày tháng phong tỏa gian nan ấy:

“Thành phố vắng hoe/ như giấc ngủ kéo dài của người dậy muộn/ tiếng rao đêm đã chìm sâu sau những bức tường/ Đã mấy tháng rồi dịch giã leo thang/ những đồng tiền còm cõi bay đi theo bàn tay trắng (Chương “Đêm trước ngày phong tỏa”)

Rõ ràng trong sự bi ai của rất nhiều số phận, của rất nhiều cảnh ngộ đáng thương, ta vẫn thấy những nỗ lực phòng chống dịch, cả hệ thống chính trị vào cuộc. TP HCM là nơi đại dịch lan nhanh nhất, rộng nhất cả nước, người dân TP HCM gồng mình, kiên cường chống dịch:

 “Sài Gòn chưa bao giờ lặng im như thế/ Sài Gòn đau một phần thân thể/ oằn mình chống chọi tang thương/ đã từng là thành phố 24 giờ không ngủ/ nay im lìm quạnh quẽ giữa đêm rơi”…

“Sài Gòn đau trời đất cũng đau/ những chùm ca bệnh dồn vào hẻm nhỏ/ khăn tang trắng từ đầu con phố/ nước mắt vòng quanh ra đến bờ kinh/ Biết mỏng mảnh lằn ranh tử sinh/ mà vẫn nhói lòng con số mỗi ngày trên báo/ tôi ngồi lặng trước tin bài từng đêm giông bão/ ngoài kia gió quật mưa gào/ nước mắt khô lại đầy như biển/ sóng dâng lên trôi hết những vì sao… (Chương “Sài Gòn đau một phần thân thể”)

Nhà thơ cũng như bao người dân nước Việt cũng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc trong những tháng ngày đó. Lúc hoang mang, lo lắng, chưa biết diễn biến dịch ra sao, tác hại thế nào lên cuộc sống, sinh mạng cá nhân, gia đình và cộng đồng; lúc vui mừng, lạc quan trước những diễn biến khả quan hơn, dịch bệnh từng bước được đẩy lùi, cuộc sống từng ngày trở lại bình thường… Mỗi ngày ai cũng nhìn ra, nhìn quanh, mong những con số ca bệnh, số người lìa đời giảm đi; mong những bữa cơm không còn nghẹn lại khi hay tin một người thân đã không thể vượt qua, thương những em bé thơ dại phải chịu cảnh mồ côi.

Trong gian khó, khổ đau luôn xuất hiện những tấm lòng, mà trước nhất là những y bác sĩ trên tuyến đầu chống dịch:

Những đứa con của chúng tôi/ mai này sẽ nói về ngày chúng lớn lên vắng vòng tay cha mẹ/ với niềm tự hào rạng rỡ/ không có lựa chọn hay chối từ/ không còn thời gian để lo âu có thể mình nhiễm bệnh/ khi vào cuộc đua giành mạng sống cho người/ những toan tính thiệt hơn là chuyện xa xôi/ sau chiếc áo blouse là con tim ấm lời thề Hippocrates/ những chuyến lên đường vì bình yên đất nước/ luôn có bóng thiên thần trong nỗi nhớ thương/ các con cho mẹ cha chân cứng đá mềm/ để về hôn má phính tóc tơ tột cùng hạnh phúc…(Chương “Sài Gòn đau một phần thân thể”)

Cảm xúc lắng sâu, cuộn chảy thành câu chữ. Những dòng thơ thể hiện sự kiên cường của người dân TP HCM chống chọi, vượt qua đại dịch. Nhiều người, nhiều ngành và cả nhiều văn nghệ sĩ cùng chung tay:

“Chị nhà văn vét gạo nhà cho em và bà con lối xóm/ lên mạng gọi bạn bè người quen góp sức góp công/ các nữ nhà văn kết nối xin gạo đem cho dân/ đến từng nhà từng hẻm/ thấy người nghèo mừng mà mình tủi vì thương/ chỉ tấm thẻ nhà văn đi xuyên qua thành phố/ các trạm cũng cho qua vì hiểu tấm lòng lành/ Cũng biết xông pha thì sẽ nguy nan/ lỡ có mệnh hệ gì ai lo khi nhiễm bệnh/ nhưng nằm nhà lại cồn cào nghĩ từng cảnh ngộ/ thôi dấn bước ra đường quên cả hiểm nguy... (Chương “Thơm mãi những bàn tay”)

Tất cả đều thể hiện những tấm lòng vì mọi người, vì cộng đồng, vì thành phố thân yêu, vì cả nước để vượt qua đại nạn này. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, câu thành ngữ ấy mãi đúng với con người và cảnh ngộ xưa nay. Vượt lên tất cả, đó là tình người, tình đồng loại, đồng hương... cùng ý chí và nghị lực sống. Bùi Phan Thảo đã trộn mình vào mọi người, mọi hoàn cảnh để quan sát, để cảm nhận mà hóa thành thi ca. Ý thức nghề nghiệp đã tạo ra những ngân rung vươn mình:

“Những bàn tay của triệu người dân Việt/ qua những cách ly đợi phút sum vầy/ nhận ra nhau sau khẩu trang nói lời bằng đôi mắt/ và nụ cười tỏa sáng giữa hồn nhau/... sẽ có ngày hân hoan nụ cười nước mắt/ đất nước yên bình thơm mãi những bàn tay”…

Tất cả đã gói gọn, đã đọng lại một điều như là chân lý: “Cây kết trái cùng bóng râm tỏa rộng/ thành phố phương Nam bừng sáng nghĩa nhân… (Chương: “Thơm mãi những bàn tay”)

Cuối cùng tiếng nói đanh thép cất lên như một lời tuyên chiến của lương tri với những tội ác do chính con người gây ra:

“Đại dịch đặt loài người trước sự lựa chọn/ sống hay chết/ chết ra sao và sống ra sao/ lương tâm không thét gào/ không lên giọng nói điều răn dạy/ song lũ gian manh đừng hòng bỏ chạy/ các người không né tránh được đâu/ làm điều ác phải trả bằng chuyện ác/ đi ngược dòng đời làm trái nghĩa nhân/ đừng hòng mơ giấc ngủ ngon không mộng mị/ đối diện những mặt người nhàu nhĩ/ những khổ đau chất ngất của nhân quần/ các người không thể sống bình yên/ dân đau khổ tang thương/ các người táng tận làm giàu/ tiền chảy vào từng túi tham như suối/ các người có thấy màu tiền đỏ như máu/ đỏ như mặt trời/ sẽ nhấn chìm các người/ cùng tội lỗi không bao giờ gột được… (Chương “Đối diện”).

Qua tập trường ca, người đọc cả nhận rõ hơn về khí chất, tình cảm của người Việt. Đau thương nhưng không bi lụy, vẫn lạc quan, mạnh mẽ, kiên cường làm lại cuộc sống sau những mất mát. Biết bao sinh linh đã từ giã cõi đời một cách không ngờ khi đại dịch tràn qua, những ngọn khói đưa linh hồn họ bay đi. Qua đại dịch, toàn nhân loại và mỗi con người cũng sáng rõ thêm nhiều điều. Ai cũng có câu chuyện về COVID-19 cùng những cảm nhận về COVID-19 của riêng mình. Song không khó nhận ra rằng, đại dịch đã thay đổi lối sống, nếp nghĩ của con người. Ai cũng thấy không gì tốt đẹp hơn đời sống; không gì quý giá như mạng sống. Hãy sống với nhau cho thật đúng nghĩa làm người.

“Những ngọn khói về trời” cũng chuyển tải thông điệp về tình người, niềm tin, ý chí kiên cường, về nhân nghĩa truyền đời sâu sắc. Chọn thể loại trường ca, Bùi Phan Thảo đã chuyển tải được những tâm tư, ước nguyện, những giãi bày về cuộc sống và sẻ chia tình cảm của đồng loại, đồng bào; rung ngân những khát vọng sống của con người…

(Bài đăng Văn nghệ số 52, ngày 24/12/2022).

Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin nồng nhiệt chúc mừng nhà thơ Bùi Phan Thảo với trường ca "Những ngọn khói về trời" vừa được trao Giải thưởng Văn học năm 2022 của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minhheart

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm