TIN TỨC

Tư tưởng nhân dân anh hùng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-01 22:26:53
mail facebook google pos stwis
345 lượt xem

1. Vì tình yêu quê hương đất nước, Trần Bảo Định đến với văn chương. Nhà văn Long An để lại dấu ấn đáng kể trong sinh hoạt văn chương từ những năm 2010 đến nay. Bên cạnh bộ sách Đất và người Nam Bộ mến yêu gồm 14 tập truyện ngắn, Trần Bảo Định còn có 6 tập thơ, 5 tập tiểu luận phê bình. Năm 2024, nhà văn trình làng tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện gồm 3 tập (thượng, trung, hạ) do Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Tái hiện diễn trình lịch sử vùng đất Nam Bộ từ hồi một 1620, hồi hai 1859, đến hồi ba 1900, tuyển tập có thể xem như trường thiên tiểu thuyết ca ngợi tinh thần đấu tranh yêu nước anh dũng của nhân dân Nam Bộ, như lời giới thiệu của Nhà xuất bản: “Chính các anh hùng vô danh mới thể hiện toàn bộ chủ đích nghệ thuật của Trần Bảo Định, cho thấy tư tưởng: nhân dân anh hùng!”

Nhà văn Trần Bảo Định

Với trường ca Mặt đường khát vọng (Nxb Giải phóng, 1974), nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa đất nước trong các chiều kích khác nhau, từ đó khẳng định quan niệm “đất nước của nhân dân” và trách nhiệm của nhân dân đối với đất nước. Với Đất Việt trời Nam liệt truyện, Trần Bảo Định cho thấy đất nước chính là nhân dân. Nhân dân là chủ thể và nền tảng của đất nước. Cơ hồ, Nguyễn Khoa Điềm lấy nước làm trọng, Trần Bảo Định lấy dân làm gốc. Hai nhãn quan tương hỗ biện chứng. Nguyễn Khoa Điềm nhìn từ dân thấy nước, Trần Bảo Định nhìn từ nước thấy dân. Vì thế, Mặt đường khát vọng là lịch sử thiêng liêng của đất nước, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là lịch sử oanh liệt của nhân dân. Mặt đường khát vọng là trang quốc sử, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là trang dân sử trong văn chương. Bởi “được nuôi dưỡng trong bầu sữa dân gian, nhà văn Trần Bảo Định mang lại góc nhìn riêng về lịch sử Nam Bộ xưa nay: liệt truyện của người bình dân hay dân gian triết và dân gian sử”. Theo đó, hình tượng nhân dân anh hùng hiện lên trang văn từ chính góc nhìn của người lao động bình dân.

2. Nhìn vào lịch sử dân tộc, bạn đọc dễ dàng nhận thấy hịch khí đấu tranh yêu nước vốn có trong lòng người Việt. Tinh thần yêu nước và bảo vệ đất nước đã trở thành bản sắc giống nòi. Kế thừa truyền thống đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định, với quy mô chiều kích rộng lớn về không-thời gian, không chỉ hàm chứa quan niệm đất nước của nhân dân mà còn phát triển thành tư tưởng nhân dân anh hùng. “Nhân dân anh hùng” trên trang văn Trần Bảo Định không đơn thuần là một quan niệm mà còn biểu hiện ra như hệ thống tư tưởng. Bởi tư tưởng này phủ bóng lên trang viết và tỏa ra bóng mát trên nhiều phương diện văn hóa, lịch sử, xã hội… Cần khảo cứu toàn diện hơn về tư tưởng nhân dân anh hùng, nhưng về cơ bản tư tưởng này là kết quả hợp nhất của tinh thần thời đại và tinh thần dân tộc (nhân nghĩa, nhân đạo, nhân bản). Chính vậy, Đất Việt trời Nam liệt truyện vừa biểu hiện dòng sinh mệnh văn hóa dân tộc vừa là sự kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa Việt trên vùng đất mới. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ nhận ra âm hưởng địch khái của Nam quốc sơn hà, hịch khí của Dụ chư tì tướng hịch vănnam nhi chi chí của Thuật hoàinhân nghĩa chi cử của Bình Ngô đại cáo, và tuyên bố đanh thép “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” trong lời truyền chống quân Thanh xâm lược. Trần Bảo Định cho thấy nghĩa khí đó tiếp tục lan tỏa, trổ hiện ra trên mảnh đất Nam Bộ bằng cách “liên văn bản” với Kê kinhVăn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcMinh Tân tiểu thuyết… Đẹp thay! Tất cả hịch khí đó đều được hàm chứa trong câu ca dao dung dị của xứ sở: Tham chi đồng bạc con cò/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang Sa. Có thể nói, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là nỗ lực kết dệt, tôi luyện và khêu sáng truyền thống anh hùng của giống nòi, không chỉ trong lịch sử hơn ba trăm năm của đất Đàng Trong, mà còn gợi nhắc đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt.

3. Để xây dựng tư tưởng nhân dân anh hùng, trang văn của Trần Bảo Định khởi đi từ tinh thần dân tộc với cốt lõi gồm có hành động nhân nghĩa, quan niệm nhân đạo và nền tảng nhân bản. Như sự tiếp nối “nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”, những truyện ngắn như Phận má hồngHỡi ai còn nhớ! (tập Thượng) khắc họa xúc động bóng hình hai vị công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa trên tiến trình lịch sử mở mang bờ cõi. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ hiểu sâu sắc hơn quan niệm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, cũng chính là quan niệm lấy dân làm gốc. Bởi dân có thể nâng thuyền cũng có thể lật thuyền. Sau nữa, tinh thần “điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo” được cụ thể hóa hết sức khẳng khái qua hình tượng “dân binh Gia Định chủ động đánh giặc, không trông cậy vào quân triều đình rúc cổ rụt đầu trong Đại đồn” (tập Trung, tr.19). Âu Dương Lân nói: “Thà sống ngắn có lợi cho nước cho nhà, vẫn hơn sống dài hại nhà hại nước” (tập Trung, tr.103). Câu nói hệch hạc chẳng hoa mĩ đã biểu hiện bộc trực nghĩa khí dân đen. Hay nói như cụ Đồ Chiểu: Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng (Lục Vân Tiên). Đó chính là nhân nghĩa Nam Bộ vốn phổ truyền khắp miền sông nước Cửu Long giang.

Nhân nghĩa lại dựa trên nhân đạo, biểu hiện thành vẻ đẹp tình thương rộng lớn. “Tiếng chuông ngày rằm ở chùa Vĩnh Tràng vang lên giữa trưa đầy hương bưởi làng Mỹ Phong, một vùng đất dân tình trọng lễ nghĩa và từ rất lâu, họ chịu ảnh hưởng giáo dục ở những nhà nho yêu nước, như Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Phan Hiến Đạo, Phan Văn Trị, Học Lạc...” (tập Hạ, tr.53). Nho đạo ấy cần được xác định như nhân đạo dân gian của người bình dân, và nhân đạo này ảnh hưởng đến lối học của giới trí thức, góp phần tạo nên biểu hiện của học phong phương Nam. Mà nếu nhìn rộng hơn, ta sẽ thấy dòng mạch trao truyền chí ít khởi đi từ lối học “tri ngôn dưỡng khí” trọng tâm ở chữ Thành của Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản. Trong đời sống bình dân, nhân đạo ấy lấy tình thương làm cốt lõi. Thương nên có thể bỏ qua. Chuyện Hai Siêu Đất (tập Hạ) vừa tình thương trong đạo vợ chồng, vừa tình thương dành cho tha nhân. Sở dĩ thương vì thấu cảm, nhờ thấu cảm nên có thể đặt mình ở giữa mọi người. Bấy giờ có thể thể tất! Tình thương và khí khái như thế có sức cảm hóa to lớn. Điều này có thể thấy trong truyện ngắn Người phụ nữ ấy (tập Hạ). Sau câu nói “Tụi bây là quân cướp nước và bán nước, nhứt định sẽ bị những người cộng sản chúng tao đánh đổ” và sự hi sinh của Nguyễn Thị Bảy (tập Hạ, tr.181), Đốc phủ Phan Văn Chương bỏ vinh hoa phú quý vào chiến khu cùng nhân dân chống thực dân Pháp. Nhân đạo và khí khái bình dân có sức mạnh lay động lòng người. Theo đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện, với tư tưởng nhân dân anh hùng đậm đà tinh thần dân tộc, làm rõ nhãn quan đạo đức bình dân miền sông nước Cửu Long. Nhãn quan đạo đức ấy bền vững đẹp tươi trong sinh hoạt thường ngày, trong lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ đất nước.

4. Bên cạnh tinh thần dân tộc, tư tưởng nhân dân anh hùng của tuyển tập còn được nung nấu trong tinh thần thời đại. Ở hồi thứ nhất từ năm 1620, tinh thần thời đại biểu thị qua việc mở cõi, hỗn dung văn hóa, khẳng định dấu ấn dân tộc Việt trên đường tiến về phương Nam. Hồi thứ hai từ năm 1859 đến hồi thứ ba từ năm 1900, tinh thần thời đại đối diện làn sóng xâm lược, thực dân hóa của thực dân phương Tây, càng không ngừng thay đổi để thích ứng với không khí thời đại, góp phần thúc đẩy vận động đấu tranh yêu nước. Từ cuộc đấu tranh của những nhà nho từ quan về với nông dân nghĩa sĩ chống giặc nửa sau thế kỉ XIX đến vận động “Minh Tân” phát triển toàn diện xã hội tạo tiền đề cho đấu tranh chống thực dân Pháp đầu thế kỉ XX, bạn đọc sẽ nhận ra dịch chuyển hệ hình tư tưởng đấu tranh yêu nước từ thế hệ của Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Huân, Âu Dương Lân, Võ Duy Dương, Phan Văn Đạt, Nguyễn Trung Trực… đến thế hệ của Đặng Thúc Liêng, Trần Chánh Chiếu, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Ninh… và không khí đấu tranh yêu nước sôi nổi ở làng Phước Lại quận Cần Giuộc tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An) qua hình tượng người phụ nữ kiên trung bất khuất Nguyễn Thị Bảy. Ở bót Pô-lô (thành phố Chợ Lớn), giặc phải khâm phục tôn gọi bà là Hoàng hậu đỏ. Ở khám Phú Mỹ, bà bị giam chung với Nguyễn Thị Minh Khai – cả hai đều mang án tử hình, bà được chị em tù gọi là bà Cố Hỷ. “Theo lịnh, cai ngục Toản dẫn chị Bảy giam chung phòng với chị Năm Bắc. Gặp lại, hai chị em rất vui mừng dù đang chung cùng cảnh ngộ bị giặc tuyên án tử” (tập Hạ, tr.189). Đúng như câu thơ của Nguyễn Thị Minh Khai: Vững chí bền gan ai hỡi ai/ Kiên tâm giữ dạ mới anh tài, người phụ nữ ấy xứng danh nữ anh hùng. Qua từng truyện ngắn, bạn đọc sẽ nhận ra sóng gió thời đại và tinh thần bất khuất của những thảo dân Nam Bộ xưa; đồng thời thấy vận động mau lẹ của trời đất con người phương Nam từ những ngày thân sơ thất sở khăn gói vào Đàng Trong cho tới khi giặc dữ tràn tới quê hương khiến cho: Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây/ Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này? Câu hỏi của cụ Đồ Chiểu trong Chạy Tây còn tiếp nối trong Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcBinh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;/ Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. Trong khi quân binh vương triều ngó mặt làm ngơ thì những người nông dân anh hùng đã hưởng ứng lời kêu gọi chống ngoại xâm. Cho đến nửa đầu thế kỉ XX, ánh sáng cách mạng vô sản đã trở thành câu trả lời cho truy vấn của cụ Đồ Chiểu năm xưa, càng thổi bùng khí khái oanh liệt quả cảm của nhân dân Nam Bộ. Có thể thấy, từ nửa đầu thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, trọng tâm chính trị xã hội của đất nước đã xoay chuyển từ vương triều Nguyễn sang nhân dân cần lao. Đồng thời, bạn đọc cũng sẽ nhận thấy bước phát triển về ý hệ và đường lối đấu tranh cách mạng (từ chỗ chỉ là “dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” đến thế hệ thanh niên cao vọng của Nguyễn An Ninh, và đỉnh cao là sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đến Đất Việt trời Nam liệt truyện là quá trình gìn giữ, trao truyền và phát huy sáng đẹp tư tưởng nhân dân anh hùng của người và đất Nam Bộ. Tế văn của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng đài bất tử cho nghĩa sĩ vị quốc vong thân; liệt truyện của Trần Bảo Định đã tạc bia ghi công cho các anh hùng bình dân Nam Bộ.

5. Tựu trung, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng của người lao động bình dân Nam Bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau. Tuyển tập này còn là dân gian sử, hàm chứa dân gian triết, biểu thị dân gian tính và khí phách oanh liệt của đất và người Nam Bộ mến yêu. “Đất Việt trời Nam liệt truyện vì thế không chỉ là bản anh hùng ca của một cá nhân, một dòng họ, một vương triều, mà hơn hết là bản anh hùng ca của người bình dân Nam Bộ. Sử quan triều đại có thể bỏ qua song bao nhiêu anh hùng bình dân vô danh hẳn còn sống mãi trong tâm hồn người dân Nam Bộ về sau” (Lời Nhà xuất bản). Hào sảng, trượng nghĩa, khí phách là vẻ đẹp của những anh hùng vô danh xuất thân bình dân và trọn đời gắn bó bình dân. Qua những hình tượng như thế, trang văn bộc lộ tư tưởng nhân dân anh hùng. Đây là bài học quý giá cũng như món quà tinh thần mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau biết “hướng thiện”, “hướng thượng” và hun đúc hoài bão cuộc đời xứng đáng với người xưa. Một trận khói tan/ Nghìn năm tiết rỡ (Nguyễn Đình Chiểu).

Đà Lạt, tháng 6/2025

Võ Quốc Việt/VNQĐ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm