TIN TỨC

Tư tưởng nhân dân anh hùng

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-09-01 22:26:53
mail facebook google pos stwis
526 lượt xem

1. Vì tình yêu quê hương đất nước, Trần Bảo Định đến với văn chương. Nhà văn Long An để lại dấu ấn đáng kể trong sinh hoạt văn chương từ những năm 2010 đến nay. Bên cạnh bộ sách Đất và người Nam Bộ mến yêu gồm 14 tập truyện ngắn, Trần Bảo Định còn có 6 tập thơ, 5 tập tiểu luận phê bình. Năm 2024, nhà văn trình làng tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện gồm 3 tập (thượng, trung, hạ) do Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Tái hiện diễn trình lịch sử vùng đất Nam Bộ từ hồi một 1620, hồi hai 1859, đến hồi ba 1900, tuyển tập có thể xem như trường thiên tiểu thuyết ca ngợi tinh thần đấu tranh yêu nước anh dũng của nhân dân Nam Bộ, như lời giới thiệu của Nhà xuất bản: “Chính các anh hùng vô danh mới thể hiện toàn bộ chủ đích nghệ thuật của Trần Bảo Định, cho thấy tư tưởng: nhân dân anh hùng!”

Nhà văn Trần Bảo Định

Với trường ca Mặt đường khát vọng (Nxb Giải phóng, 1974), nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa đất nước trong các chiều kích khác nhau, từ đó khẳng định quan niệm “đất nước của nhân dân” và trách nhiệm của nhân dân đối với đất nước. Với Đất Việt trời Nam liệt truyện, Trần Bảo Định cho thấy đất nước chính là nhân dân. Nhân dân là chủ thể và nền tảng của đất nước. Cơ hồ, Nguyễn Khoa Điềm lấy nước làm trọng, Trần Bảo Định lấy dân làm gốc. Hai nhãn quan tương hỗ biện chứng. Nguyễn Khoa Điềm nhìn từ dân thấy nước, Trần Bảo Định nhìn từ nước thấy dân. Vì thế, Mặt đường khát vọng là lịch sử thiêng liêng của đất nước, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là lịch sử oanh liệt của nhân dân. Mặt đường khát vọng là trang quốc sử, còn Đất Việt trời Nam liệt truyện là trang dân sử trong văn chương. Bởi “được nuôi dưỡng trong bầu sữa dân gian, nhà văn Trần Bảo Định mang lại góc nhìn riêng về lịch sử Nam Bộ xưa nay: liệt truyện của người bình dân hay dân gian triết và dân gian sử”. Theo đó, hình tượng nhân dân anh hùng hiện lên trang văn từ chính góc nhìn của người lao động bình dân.

2. Nhìn vào lịch sử dân tộc, bạn đọc dễ dàng nhận thấy hịch khí đấu tranh yêu nước vốn có trong lòng người Việt. Tinh thần yêu nước và bảo vệ đất nước đã trở thành bản sắc giống nòi. Kế thừa truyền thống đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện của Trần Bảo Định, với quy mô chiều kích rộng lớn về không-thời gian, không chỉ hàm chứa quan niệm đất nước của nhân dân mà còn phát triển thành tư tưởng nhân dân anh hùng. “Nhân dân anh hùng” trên trang văn Trần Bảo Định không đơn thuần là một quan niệm mà còn biểu hiện ra như hệ thống tư tưởng. Bởi tư tưởng này phủ bóng lên trang viết và tỏa ra bóng mát trên nhiều phương diện văn hóa, lịch sử, xã hội… Cần khảo cứu toàn diện hơn về tư tưởng nhân dân anh hùng, nhưng về cơ bản tư tưởng này là kết quả hợp nhất của tinh thần thời đại và tinh thần dân tộc (nhân nghĩa, nhân đạo, nhân bản). Chính vậy, Đất Việt trời Nam liệt truyện vừa biểu hiện dòng sinh mệnh văn hóa dân tộc vừa là sự kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa Việt trên vùng đất mới. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ nhận ra âm hưởng địch khái của Nam quốc sơn hà, hịch khí của Dụ chư tì tướng hịch vănnam nhi chi chí của Thuật hoàinhân nghĩa chi cử của Bình Ngô đại cáo, và tuyên bố đanh thép “đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” trong lời truyền chống quân Thanh xâm lược. Trần Bảo Định cho thấy nghĩa khí đó tiếp tục lan tỏa, trổ hiện ra trên mảnh đất Nam Bộ bằng cách “liên văn bản” với Kê kinhVăn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcMinh Tân tiểu thuyết… Đẹp thay! Tất cả hịch khí đó đều được hàm chứa trong câu ca dao dung dị của xứ sở: Tham chi đồng bạc con cò/ Bỏ cha, bỏ mẹ theo phò Lang Sa. Có thể nói, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là nỗ lực kết dệt, tôi luyện và khêu sáng truyền thống anh hùng của giống nòi, không chỉ trong lịch sử hơn ba trăm năm của đất Đàng Trong, mà còn gợi nhắc đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt.

3. Để xây dựng tư tưởng nhân dân anh hùng, trang văn của Trần Bảo Định khởi đi từ tinh thần dân tộc với cốt lõi gồm có hành động nhân nghĩa, quan niệm nhân đạo và nền tảng nhân bản. Như sự tiếp nối “nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân”, những truyện ngắn như Phận má hồngHỡi ai còn nhớ! (tập Thượng) khắc họa xúc động bóng hình hai vị công nữ Ngọc Vạn, Ngọc Khoa trên tiến trình lịch sử mở mang bờ cõi. Qua tuyển tập này, bạn đọc sẽ hiểu sâu sắc hơn quan niệm “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, cũng chính là quan niệm lấy dân làm gốc. Bởi dân có thể nâng thuyền cũng có thể lật thuyền. Sau nữa, tinh thần “điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo” được cụ thể hóa hết sức khẳng khái qua hình tượng “dân binh Gia Định chủ động đánh giặc, không trông cậy vào quân triều đình rúc cổ rụt đầu trong Đại đồn” (tập Trung, tr.19). Âu Dương Lân nói: “Thà sống ngắn có lợi cho nước cho nhà, vẫn hơn sống dài hại nhà hại nước” (tập Trung, tr.103). Câu nói hệch hạc chẳng hoa mĩ đã biểu hiện bộc trực nghĩa khí dân đen. Hay nói như cụ Đồ Chiểu: Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng (Lục Vân Tiên). Đó chính là nhân nghĩa Nam Bộ vốn phổ truyền khắp miền sông nước Cửu Long giang.

Nhân nghĩa lại dựa trên nhân đạo, biểu hiện thành vẻ đẹp tình thương rộng lớn. “Tiếng chuông ngày rằm ở chùa Vĩnh Tràng vang lên giữa trưa đầy hương bưởi làng Mỹ Phong, một vùng đất dân tình trọng lễ nghĩa và từ rất lâu, họ chịu ảnh hưởng giáo dục ở những nhà nho yêu nước, như Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Phan Hiến Đạo, Phan Văn Trị, Học Lạc...” (tập Hạ, tr.53). Nho đạo ấy cần được xác định như nhân đạo dân gian của người bình dân, và nhân đạo này ảnh hưởng đến lối học của giới trí thức, góp phần tạo nên biểu hiện của học phong phương Nam. Mà nếu nhìn rộng hơn, ta sẽ thấy dòng mạch trao truyền chí ít khởi đi từ lối học “tri ngôn dưỡng khí” trọng tâm ở chữ Thành của Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản. Trong đời sống bình dân, nhân đạo ấy lấy tình thương làm cốt lõi. Thương nên có thể bỏ qua. Chuyện Hai Siêu Đất (tập Hạ) vừa tình thương trong đạo vợ chồng, vừa tình thương dành cho tha nhân. Sở dĩ thương vì thấu cảm, nhờ thấu cảm nên có thể đặt mình ở giữa mọi người. Bấy giờ có thể thể tất! Tình thương và khí khái như thế có sức cảm hóa to lớn. Điều này có thể thấy trong truyện ngắn Người phụ nữ ấy (tập Hạ). Sau câu nói “Tụi bây là quân cướp nước và bán nước, nhứt định sẽ bị những người cộng sản chúng tao đánh đổ” và sự hi sinh của Nguyễn Thị Bảy (tập Hạ, tr.181), Đốc phủ Phan Văn Chương bỏ vinh hoa phú quý vào chiến khu cùng nhân dân chống thực dân Pháp. Nhân đạo và khí khái bình dân có sức mạnh lay động lòng người. Theo đó, Đất Việt trời Nam liệt truyện, với tư tưởng nhân dân anh hùng đậm đà tinh thần dân tộc, làm rõ nhãn quan đạo đức bình dân miền sông nước Cửu Long. Nhãn quan đạo đức ấy bền vững đẹp tươi trong sinh hoạt thường ngày, trong lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ đất nước.

4. Bên cạnh tinh thần dân tộc, tư tưởng nhân dân anh hùng của tuyển tập còn được nung nấu trong tinh thần thời đại. Ở hồi thứ nhất từ năm 1620, tinh thần thời đại biểu thị qua việc mở cõi, hỗn dung văn hóa, khẳng định dấu ấn dân tộc Việt trên đường tiến về phương Nam. Hồi thứ hai từ năm 1859 đến hồi thứ ba từ năm 1900, tinh thần thời đại đối diện làn sóng xâm lược, thực dân hóa của thực dân phương Tây, càng không ngừng thay đổi để thích ứng với không khí thời đại, góp phần thúc đẩy vận động đấu tranh yêu nước. Từ cuộc đấu tranh của những nhà nho từ quan về với nông dân nghĩa sĩ chống giặc nửa sau thế kỉ XIX đến vận động “Minh Tân” phát triển toàn diện xã hội tạo tiền đề cho đấu tranh chống thực dân Pháp đầu thế kỉ XX, bạn đọc sẽ nhận ra dịch chuyển hệ hình tư tưởng đấu tranh yêu nước từ thế hệ của Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Huân, Âu Dương Lân, Võ Duy Dương, Phan Văn Đạt, Nguyễn Trung Trực… đến thế hệ của Đặng Thúc Liêng, Trần Chánh Chiếu, Huỳnh Đình Điển, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Ninh… và không khí đấu tranh yêu nước sôi nổi ở làng Phước Lại quận Cần Giuộc tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An) qua hình tượng người phụ nữ kiên trung bất khuất Nguyễn Thị Bảy. Ở bót Pô-lô (thành phố Chợ Lớn), giặc phải khâm phục tôn gọi bà là Hoàng hậu đỏ. Ở khám Phú Mỹ, bà bị giam chung với Nguyễn Thị Minh Khai – cả hai đều mang án tử hình, bà được chị em tù gọi là bà Cố Hỷ. “Theo lịnh, cai ngục Toản dẫn chị Bảy giam chung phòng với chị Năm Bắc. Gặp lại, hai chị em rất vui mừng dù đang chung cùng cảnh ngộ bị giặc tuyên án tử” (tập Hạ, tr.189). Đúng như câu thơ của Nguyễn Thị Minh Khai: Vững chí bền gan ai hỡi ai/ Kiên tâm giữ dạ mới anh tài, người phụ nữ ấy xứng danh nữ anh hùng. Qua từng truyện ngắn, bạn đọc sẽ nhận ra sóng gió thời đại và tinh thần bất khuất của những thảo dân Nam Bộ xưa; đồng thời thấy vận động mau lẹ của trời đất con người phương Nam từ những ngày thân sơ thất sở khăn gói vào Đàng Trong cho tới khi giặc dữ tràn tới quê hương khiến cho: Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây/ Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này? Câu hỏi của cụ Đồ Chiểu trong Chạy Tây còn tiếp nối trong Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcBinh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;/ Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ. Trong khi quân binh vương triều ngó mặt làm ngơ thì những người nông dân anh hùng đã hưởng ứng lời kêu gọi chống ngoại xâm. Cho đến nửa đầu thế kỉ XX, ánh sáng cách mạng vô sản đã trở thành câu trả lời cho truy vấn của cụ Đồ Chiểu năm xưa, càng thổi bùng khí khái oanh liệt quả cảm của nhân dân Nam Bộ. Có thể thấy, từ nửa đầu thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, trọng tâm chính trị xã hội của đất nước đã xoay chuyển từ vương triều Nguyễn sang nhân dân cần lao. Đồng thời, bạn đọc cũng sẽ nhận thấy bước phát triển về ý hệ và đường lối đấu tranh cách mạng (từ chỗ chỉ là “dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ” đến thế hệ thanh niên cao vọng của Nguyễn An Ninh, và đỉnh cao là sự ra đời, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam). Từ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đến Đất Việt trời Nam liệt truyện là quá trình gìn giữ, trao truyền và phát huy sáng đẹp tư tưởng nhân dân anh hùng của người và đất Nam Bộ. Tế văn của Nguyễn Đình Chiểu đã dựng đài bất tử cho nghĩa sĩ vị quốc vong thân; liệt truyện của Trần Bảo Định đã tạc bia ghi công cho các anh hùng bình dân Nam Bộ.

5. Tựu trung, tuyển tập Đất Việt trời Nam liệt truyện là biểu tượng cho chủ nghĩa anh hùng của người lao động bình dân Nam Bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau. Tuyển tập này còn là dân gian sử, hàm chứa dân gian triết, biểu thị dân gian tính và khí phách oanh liệt của đất và người Nam Bộ mến yêu. “Đất Việt trời Nam liệt truyện vì thế không chỉ là bản anh hùng ca của một cá nhân, một dòng họ, một vương triều, mà hơn hết là bản anh hùng ca của người bình dân Nam Bộ. Sử quan triều đại có thể bỏ qua song bao nhiêu anh hùng bình dân vô danh hẳn còn sống mãi trong tâm hồn người dân Nam Bộ về sau” (Lời Nhà xuất bản). Hào sảng, trượng nghĩa, khí phách là vẻ đẹp của những anh hùng vô danh xuất thân bình dân và trọn đời gắn bó bình dân. Qua những hình tượng như thế, trang văn bộc lộ tư tưởng nhân dân anh hùng. Đây là bài học quý giá cũng như món quà tinh thần mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau biết “hướng thiện”, “hướng thượng” và hun đúc hoài bão cuộc đời xứng đáng với người xưa. Một trận khói tan/ Nghìn năm tiết rỡ (Nguyễn Đình Chiểu).

Đà Lạt, tháng 6/2025

Võ Quốc Việt/VNQĐ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm