TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế: Từ diễn ngôn về con người qua lăng kính nghệ ẩm thực đến những giá trị bất biến

Tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế: Từ diễn ngôn về con người qua lăng kính nghệ ẩm thực đến những giá trị bất biến

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-06-24 16:40:17
mail facebook google pos stwis
3367 lượt xem

Hà Thị Liên

Diễn ngôn tùy bút của Nguyễn Tham Thiện Kế được kiến tạo trong sự chi phối của trường tri thức thời đại khi đời sống tinh thần con người đón gió mới muôn phương, các hệ giá trị đang trong chu trình lắng kết và chọn lọc, tinh thần cởi mở và tự do hơn. Trong chiều lịch đại, diễn ngôn tùy bút của Nguyễn Tham Thiện Kế chịu áp lực thể loại và bóng dáng của những người đi trước. Nhưng bằng sự tinh tế, tài hoa, nhà văn của miền trung du Phú Thọ đã có “lối chơi độc tấu” riêng tạo nên phong cách tùy bút độc đáo. Gọi dậy hồn dân tộc, khơi nguồn cái đẹp thiện lành, nhà văn phô bày chân giá trị về lẽ sống cao đẹp cho con người. Vì vậy, từ diễn ngôn về con người, ẩm thực, tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế vươn tới giá trị phổ quát của muôn đời: thiên lương.


Tác giả Hà Thị Liên – Học viên cao học K30 – Lí luận văn học, Trường ĐHSP Hà Nội

I. Tùy bút là thể loại tôn trọng sự thật.

Chủ thể phát ngôn đóng vai trò như một chứng nhân đáng tin. Mang “gene thể loại” đặc trưng đó, tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế là diễn ngôn về sự thật. Ông lựa chọn một “vùng” sự thật đời sống miền trung du Phú Thọ với tên đất, tên người, lối sống, văn hóa, ứng xử, sản vật quê hương. Tuy nhiên, toàn bộ bức tranh đời sống con người, ẩm thực được bao bọc bởi miền kí ức và kỉ niệm từng trải của chính nhà văn từ thơ dại đến tuổi trưởng thành. Nguyễn Tham Thiện Kế sở hữu một gia tài kí ức đa diện và sâu sắc về miền trung du của riêng ông. Hiện thực ấy có người thật, việc thật đã chứng, đã trải qua và đông kết theo thời gian.

Tùy bút gắn với muôn chiều sự thật nhưng đó chỉ là điểm tựa để tùy bút vươn tới tư tưởng thẩm mĩ của văn học nói chung. Từ lớp ngôn từ sự thật, tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế đối thoại, chất vấn, tự vấn về những giá trị văn hóa truyền thống qua lăng kính nghệ thuật ẩm thực đang dần phôi phai, về vẻ đẹp thiên lương của con người vẫn lặng lẽ ngời sáng giữa thời cuộc núi lở sông bồi. Vì vậy, tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế hướng tới những giá trị bất biến: tính văn hóa, thẩm mỹ của nghệ thuật ẩm thực, giáo dục con người bằng giá trị thiên lương.

II. Tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế: từ diễn ngôn con người, nghệ thuật ẩm thực đến những giá trị thiên lương

1. Kí ức về những người thân yêu

Kí ức khi tường thuật lại không tránh được bị khúc xạ bởi trí nhớ con người và trầm tích văn hóa, ý thức hệ. Trong tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế, bộn bề kỉ niệm về tuổi thơ, chị, thầy mẹ, và Nội, Ngoại… Đó là miền nhớ thương, là nơi trở về của cội nguồn tâm hồn nhà văn và sự định vị lại các giá trị. Nhà văn không chú trọng tự sự mà sự kiện chỉ là cái cớ để giãi bày những trực cảm tinh tế về kỉ niệm với người thân trong gia đình. “Ưu tư của bà, lo toan của mẹ, xăng xái chị cả đã nhòa vào hương nếp cái hoa vàng chờ nở mộng giấc xanh, vào gió mưa trung du vào nắng dãi lộng bên đồng, vào chuông nguyện sớm mai, vào mõ tụng kinh chập choạng. Bao kiếp sinh ra để san ngọt sẻ bùi, ảnh hình người thương nhân nhu chờ vẫy, tôi dang ôm chỉ những tay vương vơi khoảng trống” (Đợi nắng lên gieo mộng nếp hoa vàng). Gia đình lưu lạc đến miền khẩn hoang, lập xóm, lập làng và sống hài hòa chốn bán sơn địa. Từ miền đời sống ấy, nhà văn trình hiện về người thân, về những tâm hồn, tính cách, số phận, lối sống của con người vùng làng đồi trung du.

Những người thân yêu hiện lên trong kí ức của nhà văn như một tập hợp về lối sống của con người làng quê xưa. Thuần hậu, bình dị mà thanh cao. Lao động vất vả nhưng không lấm lem, cùng cực. Sống giữa làng đồi trung du nhưng không quê mùa, cục mịch, u mì, tọc mạch. Có lẽ điều mà nhà văn muốn trình hiện với người đọc chính là thái độ sống và phong cách sống, cách ứng xử của con người với thời cuộc. Dù số phận xê dịch, ở nơi tản cư, Ngoại vẫn giữ lề thói sinh hoạt rất tao nhã: “Bữa tiệc rượu cốm nhà ông ngoại bày chiếu hoa cạp điều giữa sân gạch, đêm mười tư trọng Thu. Đèn lồng. Nến trắng. Áo the khăn đóng, veston giày đen, quần đũi áo lụa, các cụ quây vai ngồi bên”(Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm). Cốm nếp cái hoa vàng họ nhâm nhi với rượu nếp, khai vị chè cốm sen. Đó là dịp giữa trung thu, con người tận hưởng cuộc sống trong sự giao hòa cùng trời đất.

Thưởng thức trà vối hương, Nội chính là bậc thầy tinh tế của khoa thẩm vị. Từng vị trà thanh, đạm, nồng, hội tụ tinh khí của trời đất, thổ nhưỡng đều được Nội phân biệt tường tận. Nội nói: “Hương năm nay trường và dày bà ạ … Nước chắc sẽ hậu vị lắm”(Cả một xuân thì trong chén đắng). Những thói quen và phong thái sống thanh tao ấy của Nội từng gây nên phiền toái. Người ta nói ông là “phong cách tư sản lẫn địa chủ chơi ngông” nhưng Nội chỉ cười nhẹ: “Thì sự bình an cũng cần phải đánh đổi chứ”. Có rất nhiều lớp ý nghĩa văn hóa chìm ẩn sau diễn ngôn trên. Với xã hội đương thời, lối sống thanh cao, tao nhã là không phù hợp với nhịp sống khẩn trương, tiến lên nền sản xuất lớn. Sống bình dị và giản tiện mới đúng lề thói dân quê. Kiểu cách và cầu kì sẽ bị coi là tư sản. Như vậy, lối sống tư sản như là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân và bị bài trừ gay gắt. Và với Nội dù bị gán cho lối sống tư sản, Nội vẫn giữ gìn phong cách sống cho riêng mình. Đó là phong thái sống đẹp, thư thái, an bằng tĩnh tại và an nhiên trong tâm hồn. Cốt cách nho nhã ấy là sự nối tiếp truyền thống của các bậc túc nho xưa!

Trong kí ức của Nguyễn Tham Thiện Kế, người thân yêu là những con người đại diện cho những phẩm chất tốt đẹp, những tấm lòng thơm thảo và nghệ thuật ứng xử nhu hòa trong gia đình. Mẹ khéo léo, chu đáo và giỏi giang trong nghệ thuật ẩm thực. Năm nào mẹ cũng sửa cốm để hầu ngoại. Lối sống sinh hoạt trong gia đình cầu kì nhưng mẹ là người ôn hòa và không quản ngại nhọc nhằn để làm cốm bằng cả tấm lòng. “Sửa xong một việc là một lần gương mặt Mẹ thắm ngời khó tả. Đăm chiêu và cười nụ lướt đến thoáng qua. Vai áo rịn mồ hôi. Bước chân mau mà khoan thai” (Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm).Mẹ khéo léo, tinh tế và đôn hậu nâng niu từng chiếc bánh: “thi thoảng mẹ âu yếm đặt tay lên nắp vung lót lá chuối tươi, như lắng nghe tiếng nói của những chiếc bánh. Mẹ ru rín và cưng nựng chúng như là sắp sửa hát cho chúng nghe”(Tôi khóc những cánh đồng rau khúc). Người mẹ được trình hiện ở đây gắn liền với bổn phận, nghĩa vụ của người vợ, người con. Nhưng điều nhà văn dày công thể hiện không phải là gánh nặng bổn phận khiến người phụ nữ, người mẹ bất hạnh. Mà trên hết là tấm lòng yêu thương, trân trọng lẫn nhau và nâng niu giá trị sống tốt đẹp.

Trong gia đình, bà Nội, ông Nội, thầy mẹ đều là những tấm gương tiêu biểu về lối sống nhường nhịn, ôn hòa. Ngay cái cách thưởng trà, hành động tôn kính lẫn nhau đủ nói lên nghĩa tình sâu bền của con người. “Nội nâng chén nước bằng cả hai tay, đưa về phía bà.- Mời bà dùng trước và phát biểu ý kiến xem nào…Bà đỡ chén Nội mời – Chết, ông làm thế này sao tôi dám…- Thì có được ấm nụ ngon, không có công quả của bà làm sao thành. Đặt chén của mình xuống khay, bà lại nâng chén ở phía Nội lên vẻ như giận hờn – Mời ông…”(Cả một xuân thì trong chén đắng). Nhịp sống bình lặng và tình người thắm ngời như thế giữa sơn nguyên.

Thế hệ những người thân trong gia đình Nguyễn Tham Thiện Kế đồng thời là chứng nhân của thời cuộc. Do sự xê dịch của số phận mà gia đình phải tản cư lên Thanh Thủy, rồi Thanh Sơn. Theo như lời chứng của tác giả, vật đổi sao dời, thế cuộc đổi thay, những long đong phận người đã mất cả một đời táo tác khẩn hoang kinh tế mới. Nhiều lần tác giả nhắc đến chi tiết đó. “Nơi chân núi lưỡi Hái, nơi cha mẹ gồng giú anh chị em Tôi đến khẩn hoang, Tôi sớm biết thế nào là sắn” (Phận sắn). “Núi lở sông bồi, dòng họ Tôi tay trắng, lỡ vận” (U già). Biến thiên của đời sống, cảnh thương hải biến vi tang điền không nổi sóng, nổi gió như một xung đột nghiệt ngã mà chìm khuất sau những đổi thay u buồn da diết của kiếp người. Trở lại góc hoa xoan vườn mẹlà nỗi niềm sầu tím cả một thời bởi ngôi nhà cổ gỗ xoan của cụ nội bị “chia năm xẻ bảy bởi thời cuộc”. Dù gia đình có công với cách mạng, nuôi giấu Việt Minh nhưng vẫn bị quy vào phú hào địa chủ, ngôi nhà vẫn bị chia cắt. Nội bị quy vào giai cấp bóc lột, rồi hưởng xóa án, hạ thành phần. Lịch sử đã đi qua, những phải trái đã định luận xong xuôi và im lìm giữa bộn bề kiếp sống. Với nhà văn Thiện Kế cũng vậy, cụ Nội đã hòa mình vào đất – người đã mang theo lịch sử cải cách ruộng đất vào muôn xưa. Những chi tiết sự thật đời sống này chỉ được lẩy ra từ miền kí ức để nhà văn dụng ý nói về những phong cách sống mang tính phổ quát sâu xa hơn thuộc về những giá trị thiện, mĩ.

2. Kí ức về ẩm thực

Đưa chất liệu của kí ức, kỉ niệm vào diễn ngôn, Nguyễn Tham Thiện Kế dành phần đa số các trang kí viết về ẩm thực bình dị, dân dã của quê hương. Đây là vấn đề không mới. Thạch Lam – ông vua tùy bút từng được mệnh danh là “nghệ sĩ khoa thẩm vị” (Nguyễn Vĩnh Phúc). Dù vậy, Nguyễn Tham Thiện Kế vẫn vững vàng bước vào địa hạt ấy với tâm hồn thông thênh và điểm tựa là kí ức, hoài niệm. Cùng một nội dung diễn ngôn về ẩm thực nhưng ý nghĩa liên văn hóa được tạo ra của mỗi nhà văn sẽ khác nhau. Đó chính là hứng thú riêng đặc biệt của diễn ngôn nghệ thuật.

Trong kho tàng ẩm thực của Nguyễn Tham Thiện Kế, nổi bật đầu tiên là diễn ngôn về cốm. Nguyễn Tham Thiện Kế nhớ hương cốm mẹ giữa hanh hao dòng chảy thời gian. Đúng hơn, nhà văn tâm tình bằng những kỉ niệm về cốm: “Tôi ẩn ức nhớ hương cốm lá sen dù trên tay đang nâng lá sen hương cốm … Vâng, đó là thức cốm ngọc thạch của nếp cái hoa vàng. Đẳng cốm Mẹ dày công dụng sửa” (Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm). Hương cốm là niềm yêu, tình riêng của tâm hồn Việt.

Sửa cốm và đẳng cốm đã đủ nói lên công phu tỉ mỉ, cầu kì của quá trình làm ra hạt cốm. Mẹ sửa cốm không phải để bán xuôi Hà Nội mà là để “hầu” Ngoại. Một từ “sửa” đã đủ dụng công, dụng tâm, dụng tứ của người làm cốm. Tinh diệu chữ “sửa”- sửa là phải sửa soạn, chuẩn bị công phu và thực hành trịnh trọng theo trình tự lớp lang trong một thời gian nghiêm ngặt. Chữ “sửa” bao trọn cái qui chuẩn “công nghệ” mà thân mẫu nhà văn nghiệm sinh, thực diễn nơi trung châu; trong khi những địa chỉ cốm lừng danh khác của xứ Bắc, thì người ta vẫn gọi nôm là giã cốm, làm cốm.


Từ phải sang: Hai nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế và Văn Chinh, họa sĩ Trần Đỗ Nghĩa và nhà thơ Phan Hoàng.

Đồ đạc dụng cụ làm cốm là kì sửa soạn đầu tiên. Khâu hái bông nếp cũng phải đúng thì: “Đầu bông nếp cúi xuống nửa đường cong e lệ như con mắt thanh nữ rũ mi, thì đi thăm đồng hãy nhón tay ngắt đôi hạt chắt, cắn nhẹ, thấy vị ngọt dịu của đường chìm xuống và hương hoa lúa vọng lên trong chất bột mát mượt phai ra, ấy là lúc không thể dừng đợi thêm một ngày sửa cốm” (Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm). Hái bông nếp lựa tỉ mẩn, mỗi khóm chỉ được hai bông. Chà thóc nếp, giã thóc bằng cả sự nhẫn nại đến khi ba “róc” hai “quằn”. Qua bảy lần dừng chày đảo cốm thì một lần vời cốm ra sàng sảy.

Bày biện cốm trong chiếc hộp gỗ kim giao tinh xảo nhỏ nhắn như trái trứng gà ri trắng ngà quả thực chỉ có riêng ở Nguyễn Tham Thiện Kế. Hộp ấy để lưu giữ hương vị nguyên sơ nhất của cốm. Bởi vậy chăng mà cốm từ phẩm vật bình dân thăng lên sự cao sang muôn phần.

Thẩm cốm thì Nguyễn Tham Thiện Kế là bậc thầy của siêu cảm giác. Những hạt “cốm thần thoại dẻo thơm” hàm chứa cả “tinh khí trời Đất”. Đặc điểm hạt cốm sẽ nói lên tinh chất của trời Đất se kết đã đủ độ chưa. “cốm vón có màu xanh thậm là hậu duệ của những hạt đã đông sữa, chưa kịp đọng hương, chưa đậm tinh bột”. Tiêu chuẩn để đánh giá cốm là: “Mãn hương, mãn vị… Hương cốm mộc làm nền cho hương cốm tửu, nương và nâng nhau cùng thăng suốt cảm giác” (Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm). Mãn trong sự sung mãn, đẫy đà, đầy đặn và viên mãn. Đẳng cốm mẹ “sửa” cho người “thiện” cốm là tinh túy của nghệ thuật ẩm thực.

Như vậy, nhà văn Thiện Kế cũng đã góp thêm về một trình độ “sửa” cốm thượng đẳng. Cốm là hương cốm mẹ, gắn liền với hương vị mẹ tảo tần. Cốm gắn với lề thói tao nhân mặc khách của những Ngoại và bạn Ngoại, thưởng rượu, thưởng cốm, chơi cờ mỗi độ thu về. Cốm gắn với lối sống giao hòa cùng đất trời, hòa mình cùng thiên nhiên. Thực sự trang kí của Nguyễn Tham Thiện Kế đã tạc nên một văn hóa cốm, một đẳng cốm trong pho sách về ẩm thực.

Đưa cốm lên hàng cao lương mĩ vị, không mĩ miều cung đình mà là bình dị đến tinh tế tột cùng, đó là dụng công của Nguyễn Tham Thiện Kế. Nhưng trước đó Thạch Lam đã nói tới cái “quốc hồn, quốc túy” của cốm. Với nhà văn của Hà Nội, cốm là “cái lộc của trời” kết hợp với “cái khéo của người”.“Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam” (Thức quà của lúa non).Vũ Bằng cũng trải lòng về cốm:“một món quà trang nhã của Thần Nông đem từ những đồng quê bát ngát của tổ tiên ta lại cho ta, không thể hứng chịu được những cái gì phàm tục”(Cốm Vòng).Thạch Lam, Vũ Bằng rất tinh tường trong cảm giác khi bộc lộ đủ đầy vẻ nhã của cốm. Điều khác biệt cơ bản giữa Thạch Lam, Vũ Bằng và Nguyễn Tham Thiện Kế trong diễn ngôn cốm là điểm tựa trong tâm hồn người nghệ sĩ.

Thạch Lam chủ yếu là khai thác ấn tượng, cảm giác trực quan tinh tế thiên phú của mình còn Nguyễn Tham Thiện Kế có điểm tựa ở kí ức, kỉ niệm từ chính mẹ và Ngoại, ở nết phong nhã trong sinh hoạt đời sống. Cho nên diễn ngôn cốm của Nguyễn Tham Thiện Kế đã dụng công diễn giải cái công phu đến tỉ mẩn của con người, tao nhã đến nho nhã, tinh tế đến hài hòa chuẩn mực, điển nhã đến trang trọng trong lối sống, thanh tao mà bình dị. Cốm đã trở thành nếp sống và những phong vị sống của con người.

Diễn ngôn về ẩm thực của Nguyễn Tham Thiện Kế còn nhiều đẳng, nhiều vị phong phú khác mang đậm vẻ phong nhiêu của miền trung du. Trà vối trong “Cả một xuân thì trong chén đắng” là cả tinh túy của hồn người và khí trời. “Xoáy ngầm tụ dòng khí đất Thăng Long chứa phong vật muôn nhà nông xứ Bắc mà đắp bồi nên văn hiến Việt của giai tầng quý tộc vẫn có nụ vối hương song hành những ngàn năm” (Cả một xuân thì trong chén đắng). Chén trà vối của Nguyễn Tham Thiện Kế và “Chén trà trong sương sớm” của Nguyễn Tuân đều mang cái đẳng tao nhã, phong thái như một triết nhân điềm đạm giữa dòng chảy vô thủy, vô chung của thời gian.

Nổi bật trong diễn ngôn ẩm thực của tập sách Dặm ngàn hương cốm mẹ là quy trình tạo tác món ăn cầu kì, là nghi lễ thưởng thức tao nhã trang trọng.  Những món ăn đậm mĩ cảm thị dân lẫn món ăn, thức uống bình dân nhất của quê hương như cốm nếp cái hoa vàng, bún chả, bánh khúc, chè sen nhãn, xôi lúa, bánh đúc, canh rau sắn, canh cá Anh Vũ; cũng trầm thăng lắng đắng như thân phận con người… Nếu Thạch Lam trong “Hà Nội băm mươi sáu phố phường” tạo tác gương mặt Hà Nội qua góc dân sinh và ẩm thực thì Nguyễn Tham Thiện Kế dụng tâm chạm khắc gương mặt miền trung du Phú Thọ đất Tổ cũng bằng ẩm thực –  nghệ thuật thực hành văn hóa của con người.

Nguyễn Tham Thiện Kế đã tạo nên vẻ riêng mình trong diễn ngôn ẩm thực chính từ dư vị thanh thoát, tao nhã mà không lặp lại bóng của tiền nhân. Từ lâu Tản Đà trong Tản Đà thực phẩm đã viết về món ăn nổi tiếng. Thạch Lam trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường, Vũ Bằng trong Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam đã rất sành, rất tinh tế và tạo nên một đẳng riêng trong văn hóa ẩm thực của con người Việt Nam xứ kinh kì. Hơn nữa, bậc thầy Nguyễn Tuân với những trang viết về “thổ ngơi” đầy hương vị, giàu thẩm mĩ và lắng kết một bề dày văn hóa. Tuy nhiên, điều Nguyễn Tham Thiện Kế muốn lập ngôn là tuyên bố về một lẽ sống thanh cao, nhã nhặn của con người miền trung du. Dù con người quê mùa, nông phu xứ Bắc, dù con người sống ở kinh kì hay dạt về miền làng đồi trung du để khẩn hoang thì họ vẫn luôn lưu giữ nếp sống tao nhã, cao đẹp. Chiến lược diễn ngôn trong tùy bút Nguyễn Tham Thiện Kế còn thể hiện ở vũ điệu ngôn từ, ở khả năng làm cho những từ đã cũ sống dậy “lấp lánh, kêu giòn và tỏa hương” (K. Pauxtôpxki). Đọc ông người ta có cảm giác về một thế hiện thực nhưng lấp lánh xa vợi, khó nghèo nhưng đượm sắc phong nhiêu, sang trọng dù có tấu lên giai điệu buồn bã thì chúng vẫn gieo mầm hy vọng phải sống thiện lành.

Tác giả là người trong cuộc, thấu hiểu mọi lẽ đắng cay của hạt cốm hay mỗi món ăn. Chúng biểu tượng cho phận người, trong thời cuộc nhiều động loạn, không cho phép người ta nghĩ đến cái riêng. Nhưng càng không cho phép, thì người ta càng hướng tới cái riêng. Chính điều khao khát đó là động lực cho văn hóa Việt trường tồn…

Tác giả chỉ ra rằng: tinh hoa ẩm thực, trầm tích văn hóa Việt không chỉ lưu tồn ở trung tâm Hà Nội ngàn năm mà còn phổ diện ở ngoại biên, ở vùng trung du đất Tổ hay toàn cõi tứ trấn bao quanh Thăng Long. Tinh cốt của linh hồn dân tộc bồi tụ nên Văn hóa Bắc Việt.

3. Diễn ngôn về giá trị thiên lương

Lưu giữ thiên lương tốt lành cho con người luôn là giá trị chuẩn mực của đời sống mọi thời. Trong kí, Nguyễn Tham Thiện Kế đã trình hiện những con người mang tình cảm thơm thảo, hiền hậu, nhẫn nhịn và lạc quan. Dù khi vật đổi sao rời, họ không oán trách số phận, vẫn bền bỉ, nhẫn nại gìn giữ cái tâm trong sáng, hồn hậu như thiên nhiên, cây cỏ chốn làng quê.

Cách ứng xử giữa con người với con người hiền hòa, nhân ái. Mẹ và cha tương kính, nhường nhịn. Mẹ hầu ngoại xếp nếp thượng tôn. Ông bà Nội nhường nhau chén trà thưởng thức. Nội và những người bạn sư Trụ Trì, cha Xứ tâm tình bên khu vườn thường xanh và lắng nghe nhau: “Ba người già không còn ngồi giữa khu vườn. Họ không giúp được gì cho nhau nữa, nhưng khi sống, họ đã lắng nghe nhau, cùng im lặng, cùng thỉnh trà, thỉnh rượu. Sự có mặt của nhau đã làm giàu có thêm thế giới bình an trong họ nơi trần thế” (Dặm ngàn xanh cố hương). Cuộc sống hiền hòa như thế giữa trung du. Thời cuộc nhiễu động đổi thay nhưng lòng người vẫn vậy. Dù Ngoại đã hóa vào hư không, sư chùa đã thành xá lị dưới mười tầng tháp, cha Xứ ngủ yên nhưng họ trở thành biểu tượng của cuộc sống đẹp thường hằng, bình an nơi trần thế.

Tâm điền tốt, lương thiện của con người trở thành giá trị sống cốt lõi, bền bỉ nhất giữa thời cuộc. Khi phong trào hợp tác xã hóa bừng bừng. Sửa cốm, nấu rượu bị quy là ăn thóc non, phá hoại sản xuất và lãng phí lương thực thì hệ giá trị về sự thanh cao, tao nhã của thưởng cốm bị lung lay. Hội rượu cốm thưởng trăng của Ngoại cũng rã ra như diều giấy gặp mưa. Trong sự xung đột về quan niệm, tư tưởng và các hệ giá trị thì thời cuộc đổi thay chỉ có thể làm tan rã về hình thức tổ chức đời sống chứ không thể xoay chuyển nhân cách sống của con người. Mẹ tóc cước phơ bay vẫn nhớ thì sửa cốm. Bởi dù hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn thấy ở họ nguồn sống, ý thức vươn lên, chân thành, bền bỉ, hiền hậu. Ngoại triết lí về thái độ sống đúng đắn: “Mọi vật phải đúng cách và hợp thức với trời đất thì mới bền. Sao ẩu tả phá phách được. Và cũng đừng oán hờn cuộc sống. Phận người thì phải trải qua mọi thử thách của tạo hóa con ạ” (Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm).

Thuận theo tự nhiên, theo quy luật là một quan điểm sống dung hòa thuộc về bản sắc của người Việt. Thiên lương lành vững của con người cũng là hợp lẽ trời. Vì vậy, con người không oán hờn, không trách móc số phận. Đó là thái độ sống tích cực, hiền hòa của đời sống.

Giữa bể dâu của phận người nhưng con người làng quê vẫn gìn giữ tâm hồn lương thiện. “Có những con người tốt đẹp, sống ở miền quê tốt đẹp với bao phong vị tốt đẹp vậy mà không thể sống cùng nhau chung mái nhà … bởi vì họ quá thiên lương … bởi làng quê quá hiền hòa… bởi rằng đã là như thế” (Ngàn dâu chẳng vị một cây). Biết bao duyên phận dở dang bởi tục lệ, bởi giới luật của làng nhưng con người vẫn lặng lẽ, âm thầm, hiền hòa như thế.

Thăng trầm là vậy, lòng người vẫn gieo sự sống tiếp diễn vào những mầm xoan, gieo hi vọng dựng lại ngôi nhà cổ trên miền đất trung du bán sơn địa. Ngôi nhà gỗ cổ bỗng dưng bị chia năm xẻ bảy do thời cuộc. Dừng bước cuối đường nơi giáp ranh khu đồn điền cũ của cụ nội, thày mẹ không nguôi mơ ước tự tay dựng lại ngôi nhà gỗ xoan. Mẹ nói: “Chúa sẽ phù hộ, trên mảnh đất này nhà ta sẽ trồng xoan, đợi cây lớn. Rồi sẽ tới ngày chúng ta mời thợ mộc dựng lại ngôi nhà y hệt ngôi nhà ông bà nội các con để lại” (Trở lại góc hoa xoan vườn mẹ). Giữa những nhặm nhuội khổ cực, điều nhà văn muốn nói là những con người hiền hòa đôn hậu vẫn luôn âm thầm lặng lẽ, bền bỉ một kiếp sống giữa nhân sinh. Họ thắp lên giữa cuộc đời những điều tốt đẹp.

Con người miền trung du hiền hậu mang phẩm cách, tâm hồn tiêu biểu của người nông phu đất Việt. Nguyễn Tham Thiện Kế khẳng định: “Lẽ tự nhiên ở miền đất nhiều hoa thơm trái ngọt thì con người cũng là sự phản ánh chân thực những giá trị tự nhiên” (Miền trái ngọt). Nhà văn đồng nhất vị thảo thơm của hoa trái chính là hương vị tình người hòa quyện. “Về Phù Ninh miền trung du của trung du. Về miền cọ xanh, nón trắng. Về Phù Ninh miền trái ngọt đi em. Ta đón đợi. Về nơi tình người, phẩm cách người hiển hiện vào vị thơm hoa trái” (Miền trái ngọt). Nếu ca dao xưa hát lên tâm hồn lạc quan của những con người lầm lụi thân cò, một nắng hai sương dưới gốc đa, dưới lũy tre xanh ngàn đời thì Nguyễn Tham Thiện Kế lại trình hiện một giá trị cốt lõi nhưng đóng đinh vào không gian, thời gian của con người làng quê là thiên lương.

III. Trình hiện về làng quê, về giá trị và phong vị sống chân tình, hiền hòa, nhân hậu của con người miền thượng du đất Việt, nhà văn đã tạo ra cuộc đối thoại với văn minh đô thị hiện đại hôm nay

Văn minh đi liền với tiến bộ và hiện đại để cải thiện mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần. Thế nhưng, thiên lương là phẩm chất không thể đổi thay. Truyền thống nghĩa tình của người Việt cũng được xây đắp từ thiên lương. Nhưng thực tế, biết bao nhiêu cái xấu, cái ác đã bóp méo đi giá trị tốt đẹp ấy. Từ đó, nhà văn đặt ra lời đề nghị về lẽ sống cho con người đương thời và mai sau: gìn giữ thiên lương tốt lành là căn tính cần có.

Chân lí mà nhà văn nói đến khiến số phận con người chìm nổi với những cắc cớ phải chấp nhận chính là sự đổi thay của thời cuộc, là chính sách hợp tác xã thời kì đổi mới. Cải cách để phát triển, đổi mới để dựng xây đất nước, đó là bước đi của thời cuộc. Đó là quy luật vận hành của xã hội. Tuy nhiên, qua tùy bút của Thiện Kế, chúng ta nhận thấy, chính sách hợp tác xã bên cạnh những yếu tố tích cực thì đâu đó vẫn có những con người bị tổn thương, những phận người chìm nổi.

Viết về vấn đề này, nhà văn chọn lập trường phát ngôn từ phía những người dân quê bị tổn thương bởi chính sách một thời của chế độ xã hội. Tuy nhiên, thái độ của người nghệ sĩ không gay gắt, không lên gân phê phán mà chỉ gợi, chỉ khẽ chạm như để nỗi đau đủ ngời sáng lên nỗi ẩn ức của thân phận con người khi được Thượng đế tạo sinh. Những lớp người là chứng nhân của thời đại ấy đã hóa hư không, đã về với đất nhưng nỗi niềm phận người của một thời vẫn luôn còn hiện diện một kí ức buồn trong veo xiết bao day dứt, để người ta giật mình tự vấn. Nhà văn đã từng nói: Thời đại nào cũng có vấn đề riêng, chẳng thời đại nào toàn hảo, sống, viết là chấp nhận và thương yêu cái tôi và cả nhân quần…

Theo Hà Thị Liên/Vanvn

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm
Tha phương…Tùy bút Lê Thi
Nước Mỹ có phải thiên đường cho tất cả những người đến miền đất hứa này không? Chưa hẳn là như thế. Tôi gặp biết bao nhiêu người đến định cư ở đây mang nhiều quốc tịch khác nhau, nhưng mỗi người mang số phận khác nhau nhiều khi không biết có hơn ở Việt Nam không, nếu như họ không có ý chí và nghề nghiệp gì nhất định.
Xem thêm
Một mùa thơ đi qua – tình người ở lại
Sau ba ngày hoạt động sôi nổi, Ngày Thơ Việt Nam 2026 tại TP.HCM đã khép lại, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong nhiều cuộc gặp gỡ và câu chuyện bên lề. Từ việc phát động cuộc thi thơ “Tiếng gọi đô thị mới” với sự đồng hành của Quỹ Tình Thơ, đến những lều thơ và đêm thơ nhạc của các câu lạc bộ, tất cả góp phần tạo nên một không gian thi ca vừa trang trọng vừa ấm áp tình bằng hữu.
Xem thêm
Vẻ đẹp miền di sản cuối trời Nam – Tùy bút Nguyễn Phú Thành
Miền đất được mệnh danh nơi “đất biết nở, rừng biết đi” (chữ dùng của Sơn Nam) – luôn mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và giàu sức sống. Những dòng kênh đậm phù sa, rừng U Minh bạt ngàn và mũi đất vươn ra biển Tây tạo nên một miền quê thấm đẫm chất phương Nam, nơi con người hiền hòa, chân chất và mạnh mẽ trước thiên nhiên. Còn Hà Tiên lại quyến rũ bởi vẻ thơ mộng của miền biên viễn, nơi non nước giao hòa mang dấu ấn lịch sử với những thắng cảnh từng đi vào thơ ca. Từ đất Mũi hoang sơ, phóng khoáng đến Hà Tiên hữu tình, cổ kính – đều là miền di sản của đất phương Nam như hai nét chấm phá độc đáo, tạo nên bức tranh thiên nhiên và văn hoá đầy mê hoặc của cực Nam Tổ quốc.
Xem thêm
Văn chương Việt và câu hỏi toàn cầu - Tùy văn Lê Hưng Tiến
Trong những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam đang đối mặt với một thực trạng đáng báo động, đó chính là sự xuống cấp đồng thời của chất lượng sáng tác và dịch thuật, đặc biệt trong lĩnh vực thơ khi nhiều sản phẩm yếu kém lại được nhân danh hội nhập để đưa ra nước ngoài. Hiện tượng này không chỉ làm tổn thương giá trị nội tại của văn chương, mà còn trực tiếp bóp méo diện mạo văn học Việt Nam trong con mắt bạn đọc quốc tế.
Xem thêm
Chén trà trong đêm trực – Tản văn Hồng Loan
Khi nhắc đến uống trà, nhiều người hình dung ngay những khoảnh khắc thư thả, ngồi giữa không gian yên tĩnh để cảm nhận vị “thanh khiết chậm rãi của cuộc sống”. Nhưng với những y, bác sĩ trực cấp cứu, trà lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Đó là phút dừng ngắn ngủi để kịp hít một hơi sâu giữa những cuộc chạy đua với số phận; là lúc họ đứng dưới ánh đèn trắng lạnh của phòng cấp cứu, đôi tay còn hằn dấu găng, mùi sát khuẩn vẫn bám trên áo blouse, và tiếng bút ghi hồ sơ vẫn kêu “sột soạt” đâu đó trên chiếc bàn trực.
Xem thêm
Người chiến sĩ và mùa xuân đất nước - Tùy bút Phùng Văn Khai
Bến phà Lục Nam mùa xuân hơn ba mươi năm trước - năm 1994 với tôi là một bước ngoặt lớn của đời người. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng mình đã trở thành một người lính trong tiểu đội tân binh của Trung đoàn 421 - Sư đoàn 306 - Binh đoàn Hương Giang anh hùng thấm đẫm chiến công...
Xem thêm
Cỗ Tết không thể thiếu dưa hành – Tản văn Nguyễn Gia Long
Năm nào cũng vậy, hễ Tết Nguyên đán còn cách khoảng mươi ngày, và cho dù có bận trăm công ngàn việc đi chăng nữa, thì mẹ tôi vẫn dành thời gian để muối vại dưa hành thật lớn! Vâng, cho dù đã có nhiều các món ngon rồi mà trong mâm cỗ Tết vẫn còn thiếu món dưa hành thì coi như vẫn còn thiếu chút hương vị Tết truyền thống. Nếu như các gia đình Miền Trung, Miền Nam trong mâm cỗ Tết thường có dưa món và đĩa củ kiệu, thì cỗ Tết ở Miền Bắc không thể thiếu được dưa hành muối chua.
Xem thêm
Nhiều niềm vui bên nồi bánh chưng ngày Tết – Tạp bút Nguyễn Gia Long
Nhớ khoảng thời gian tuổi thơ khi tôi còn sống ở quê nhà, cứ đến giáp Tết Nguyên đán thì gia đình nhà nào cũng vậy, dù bận rộn đến đâu cũng cắt cử ra một, vài người để lo sửa soạn rửa lá dong, vo gạo nếp, đãi đỗ, ướp thịt lợn…, để gói bánh chưng ăn Tết. Ngày ấy, dù kinh tế nhà nào cũng nghèo nhưng việc ăn một cái Tết to và tươm tất thì khỏi phải bàn, bởi người ta từng bảo: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”, mà bánh chưng thì là một trong số các món cơ bản không thể thiếu được trong mâm cỗ Tết, nên nhà nào cũng gói rất nhiều bánh chưng. Nhà ít thì gói dăm, bảy ký gạo; các hộ gia đình gói nhiều lên tới vài, ba chục ký. Chính vì vậy mà các cặp bánh, xâu bánh chưng vuông, bánh chưng dài (bánh tày) đều bày ngổn ngang trong nhà, quanh chạn bát trong gian bếp. Việc gói bánh chưng không chỉ để cúng kiếng và ăn trong ba ngày Tết chính, mà bánh chưng còn dùng để ăn dần trong những ngày tiếp theo khi mọi người ra đồng cày, cấy, trồng rau màu…
Xem thêm
Chân mây 2 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Khi choàng tỉnh, mình thấy đã nằm vật ở dưới đất. Kỳ lạ là giường khá cao và nền phòng là gạch men nhưng mình không cảm thấy cơ thể có chút đau đớn nào. Cứ như thể có ai đó đã ném mình xuống đất một cách hết sức dịu dàng. Thấy lạ mình chuyển sang chiếc giường bên và nằm quay đầu ngược lại. Từ đó mình ngủ ngon lành đến sáng.
Xem thêm
Cỗ Tết sẽ không đủ đầy nếu thiếu món giò thủ bó mo cau - Tản văn Thạch Bích Ngọc
Trong ký ức Tết tuổi thơ của tôi, ngoài kỷ niệm của vô vàn niềm vui bất tận khi được diện quần áo mới để đi chơi xuân trẩy hội, được nhận phong bao tiền lì xì từ ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình, dòng họ…, thì những món ăn ngon trong mâm cơm đủ đầy ngày Tết của một thời kinh tế khó khăn chung của đất nước, cũng luôn là “miền nhớ” để giờ đây khi đã trưởng thành, tìm lại chút hoài niệm trong ký ức tôi vẫn nao lòng thèm muốn, nhớ mãi không quên…
Xem thêm