TIN TỨC

Sự đổi mới của Nguyễn Huy Thiệp trong quan niệm về văn học

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-11-04 00:31:31
mail facebook google pos stwis
12321 lượt xem

Văn học đương đại Việt Nam hơn ba chục năm qua, không thể không nhắc tới nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn độc đáo. Điều đáng nói thêm, hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý của ông về văn chương. Chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người có nhiều trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó. Điều này cũng là trăn trở của nhiều nhà văn thế hệ trước, trong đó gần kề ông nhất có thể kể đến Nam Cao và Nguyễn Minh Châu. Nhưng đến Nguyễn Huy Thiệp, quan niệm về văn chương và sứ mệnh của nhà văn trong các sáng tác của ông có nhiều đổi mới theo hướng phản tỉnh, thực sự rất đáng bàn.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Trong quan niệm truyền thống, chức năng nhận thức và phản ánh hiện thực mặc nhiên được xem là một trong những chức năng quan trọng nhất của văn học. Nhà văn  gánh vác sứ mệnh thư ký trung thành của thời đại như một sự tự nguyện, và với không ít người, đấy là băn khoăn duy nhất hoặc quan trọng nhất khi cầm bút. Quan niệm này đã được Nguyễn Huy Thiệp phản biện trong các sáng tác của mình. Theo Nguyễn Huy Thiệp, kỳ vọng vào khả năng nhận thức của văn học là một nhầm lẫn to lớn, bởi văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác, đều mang trong mình những giới hạn của nó. Huống hồ, nó cũng chỉ là sản phẩm của những cá nhân, thể hiện nhận thức của cá nhân giữa mênh mang hiện thực rộng lớn. Nguyễn Huy Thiệp có một đặc điểm là hay đẩy nhận định, những phát biểu của mình đến chỗ cực đoan. Đó có thể là một cách nói để nhấn mạnh ý của mình, làm độc đáo ý của mình. Chẳng hạn khi ông để nhà văn họ Vũ trong truyện ngắn Bài học Tiếng Việt cay đắng nhận ra “vũ trụ là hỗn độn vô minh… Văn học không phải là tất cả. Không nên quá coi trọng văn học. Văn học chỉ là từ ngữ. Như những ngọn gió”…, hay khi ông công khai bày tỏ sự nghi ngờ năng lực nhận thức hiện thực của văn học trong tiểu luận Thời của tiểu thuyết (báo Ngày nay, số 21, 2003): “Tiểu thuyết không chỉ là tấm gương soi của thời đại gì hết, nó kể chuyện và nhầm lẫn lung tung” thì ta phải thấy được rằng, trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp văn chương hiện đại có những giới hạn trong sứ mệnh của nó, không nên ảo tưởng rằng văn học có thể làm được tất cả trong sự giáo dục nhận thức, đạo đức, tư tưởng, tình cảm cho con người, không phải mọi phát biểu của nhà văn trong văn học đều đạt đến sự trọn vẹn trong nhận thức.

Nguyễn Huy Thiệp thấy được chỗ mạnh và chỗ yếu của văn học cũng như những giới hạn của nhà văn trong tác phẩm. Nhà văn không phải là người phán truyền những chân lý. Nguyễn Huy Thiệp thức tỉnh chúng ta một điều rằng, người nghệ sĩ trong hành trình nhận thức về mình phải thoát khỏi những nhầm lẫn vương giả – rằng họ là những người thư kí trung thành của thời đại, là nhà cách mạng, là người dự báo hiện thực,… Các nhà văn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là những con người có thể rất tinh tế, mẫn cảm đấy nhưng cũng bất lực trước hiện thực. Họ bị lún sâu trong đám bùng nhùng của hiện thực đời sống, không có khả năng tác động đến hiện thực.  Họ rơi vào cái cô đơn của một con người hiểu đời, biết mình biết ta nhưng không thể đem cái sự hiểu đó ra đối chất với hiện thực cuộc đời. Anh ta nhận thức được về năng lực, giới hạn của mình và chấp nhận nó như một lời “thú tội”. Đó là nhân vật thi sĩ trong Sang sông. Sức mạnh hành động của anh ta té ra thua một tên cướp. Hay Nguyễn Du, nhân vật trong Vàng lửa khi đặt bên cạnh chân dung của vua Gia Long cũng thật mờ nhạt, bởi vua Gia Long bằng tất cả sự tàn nhẫn của mình vẫn có năng lực làm cho lịch sử sinh động hẳn lên, đem tới sức đẩy lớn với khối cộng đồng – điều mà Nguyễn Du không bao giờ có được. Thoát khỏi những ngộ nhận về vai trò của nhà văn, của văn học nghệ thuật là một việc không dễ dàng bởi nó khiến nhà văn phải đối lập mình với những kì vọng, những hình ảnh đẹp đẽ của họ trong nhận thức truyền thống của cộng đồng. Nếu như ở đây cần một sự so sánh thì có lẽ là trong quá khứ, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu tự đấu tranh  và mổ xẻ chính mình để vươn tới những thiên chức mà cộng đồng đã kì vọng về họ, thì trong hiện tại, Nguyễn Huy Thiệp hiệu đính lại để chỉ ra những bất khả, những giới hạn mà nhà văn và những tác phẩm của mình chẳng thể vượt qua. “Nhà văn và tác phẩm của họ không có nhiều sức mạnh như đã từng bị ngộ nhận”-  Nguyễn Huy Thiệp đã thẳng thắn nhìn vào sự thật này và dũng cảm chấp nhận chúng, chấp nhận những giới hạn trong sứ mệnh của người nghệ sĩ để từ đó đảm nhận những sứ mệnh mới của mình. Chúng ta hi vọng và tin tưởng là như vậy.

Nhà phê bình trẻ Trịnh Thị Nga

Có lẽ bắt nguồn từ quan niệm về văn chương và người nghệ sĩ như vậy nên có thể thấy một điều rằng trong phần lớn các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, ông gạt bỏ vai trò độc quyền của người kể chuyện trong việc đưa ra những nhận định, đánh giá, thậm chí cả trong tái hiện hiện thực. Yếu tố miêu tả trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hầu như vắng bóng, thay vào đó là lối kể theo kiểu liệt kê các sự kiện, các cảm giác (thuần tuý chỉ là những cảm giác) được nhà văn đặc biệt hay sử dụng. Bởi trong miêu tả bao giờ cũng hàm trong nó một sự lí giải và cắt nghĩa nào đó về đời sống. Kể cho phép nhà văn có thể giấu đi mọi sự cắt nghĩa – đặc trưng của kể là chủ quan, phiến diện. Trên văn bản những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, hầu như người ta chỉ thấy những chuỗi sự kiện trần trụi với giọng văn lạnh. Bởi Nguyễn Huy Thiệp nhận ra được rằng không phải nhà văn có thể lí giải, cắt nghĩa hết về hiện thực, nhất là một nhà văn hiện đại trong cuộc sống phức tạp ngày hôm nay.

Cần phải nói thêm một điều nữa rằng, Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt yêu cầu nhà văn, văn học là phải hướng đến những giá trị nhân văn. Đó là một hằng số tồn tại vĩnh viễn: “Điều khốn nạn, trớ trêu và cũng là điểm yếu của một nhà văn là dù hiểu đời, lịch lãm đến đâu cuối cùng anh ta vẫn phải hành xử và biết trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật. Giá trị nhân đạo là lí do duy nhất để văn học tồn tại”. Con người nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là con người không ngừng hướng về cái đẹp, khát khao tìm kiếm những điều tốt đẹp trong cuộc sống, như tiếng hát của chàng Trương Chi:

Những khát khao của ta

Hướng về tuyệt đối

Ta là Trương Chi

Ta ca ngợi tình yêu

(Trương Chi)

Tha thiết và không ngừng tạo lập trong tác phẩm của mình những giá trị nhân đạo – những giá trị dưới con mắt của Nguyễn Huy Thiệp đang dần bị mai một, bị đánh rơi trong đời sống thực tại – đã đưa lại cho ông một quan niệm mới về sứ mệnh của văn chương. Đó là không phải ngợi ca cuộc sống, ngợi ca hiện thực mà là “phản biện” toàn bộ trật tự của đời sống hiện tồn, thức tỉnh mọi người ý thức về sự thật để từ đó độc giả tự tìm ra cách ứng xử trước cuộc đời.

Nếu như trước đây, văn học thường là và cần là tiếng nói chung của dân tộc, thời đại, cộng đồng, phát biểu những vấn đề, những tư tưởng được cộng đồng thừa nhận, ủng hộ và có lợi cho cộng đồng thì văn học thời kỳ Đổi mới không chỉ như vậy, nó có thể và cần phải là phát ngôn của mỗi cá nhân. Trong một nền văn học hướng đến tinh thần dân chủ, đó là điều cần được coi trọng. Văn học trở thành phương tiện cần thiết để tự biểu hiện, ở đó người nghệ sĩ thể hiện cái nhìn riêng của mình về con người, về cuộc sống, nơi ý thức và cả vô thức trong tâm trạng của người viết có thể xen cài, hoà lẫn. Nhà văn không còn là người độc quyền ban bố, phán truyền các chân lí không thể bàn cãi (không thể bàn cãi bởi nó là tư tưởng chung, là mục tiêu cao cả của cộng đồng). Nhà văn nói lên những suy nghĩ của riêng mình, do mình cảm nhận được và dù có rất muốn bênh vực cho những tín niệm của mình thì họ cũng không thể biết đến những tư tưởng và quan niệm khác đang song song tồn tại. Chính vì vậy mà mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp cũng thay đổi theo hướng dân chủ hoá, bình đẳng hơn. Độc giả được tôn trọng, được tự rút ra kết luận cho riêng mình đằng sau những con chữ khách quan, lạnh lùng chỉ rặt sự kiện của nhà văn. Văn chương thành ra còn là nơi độc giả và tác giả cùng đi tìm những chân giá trị, sau những lần ngộ nhận và lầm lẫn, bởi cả hai không ai có quyền năng tuyệt đối trong thẩm định, đánh giá mọi vấn đề.

Như đã nói ở trên, cái tạng của Huy Thiệp là hay sử dụng cách nói cực đoan, nhưng những suy nghĩ của ông về vai trò, sứ mệnh của nhà văn, của văn học nghệ thuật là điều đáng để cho chúng ta trăn trở, day đi dứt lại, dù tác giả tự nhận văn chương của mình chỉ như những ngọn gió.  Sự thay đổi quan niệm về nhà văn, về vai trò văn học nghệ thuật của  Nguyễn Huy Thiệp đã có tác dụng tích cực trong phát huy cá tính sáng tạo của nhà văn, trả văn học về lại với quy luật phát triển và những đặc trưng đích thực của nó.

 Trịnh Thị Nga/VHSG

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm