TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Dòng sông thơ ấu” như là dòng chảy cuộc đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

“Dòng sông thơ ấu” như là dòng chảy cuộc đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-07 17:59:30
mail facebook google pos stwis
4620 lượt xem

HÀ THANH VÂN

(Tham luận đọc tại Hội thảo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Cuộc đời và sự nghiệp”)

Nguyễn Quang Sáng (12/1/1932 – 13/2/2014), còn có bút danh là Nguyễn Sáng, là một nhà văn nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại, sinh ra tại xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông dấn thân vào sự nghiệp văn chương và gặt hái nhiều thành công trong giai đoạn đất nước trải qua nhiều biến động, từ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ đến thời kỳ đổi mới. Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về văn học nghệ thuật được trao cho Nguyễn Quang Sáng vào năm 2001 là sự ghi nhận cao nhất cho những đóng góp của ông vào nền văn học Việt Nam hiện đại.


TS Hà Thanh Vân phát biểu tham luận tại Hội thảo, sáng 6/12/2024.

 

Một tuổi trẻ sôi nổi với kháng chiến và văn chương

Nguyễn Quang Sáng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và bắt đầu sáng tác từ những năm 1950. Ban đầu, ông chủ yếu viết các truyện ngắn về cuộc sống và chiến đấu ở miền Nam. Nguyễn Quang Sáng phản ánh lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu của nhân dân Nam Bộ thông qua những câu chuyện giản dị nhưng xúc động, đặc biệt là trong các truyện ngắn của ông. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở thập niên 1960 – 1970, Nguyễn Quang Sáng chuyển sang viết văn xuôi, tập trung khai thác hiện thực chiến tranh và đời sống người dân Nam Bộ. Tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là “Chiếc lược ngà”, một truyện ngắn cảm động về tình cha con giữa khói lửa chiến tranh. Thời kỳ này, Nguyễn Quang Sáng ghi dấu ấn mạnh mẽ với những tác phẩm mang đậm chất nhân văn, phản ánh cuộc sống chiến tranh khốc liệt nhưng tràn đầy tình người. “Chiếc lược ngà” là minh chứng cho khả năng khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật trong hoàn cảnh chiến tranh. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, Nguyễn Quang Sáng tiếp tục sáng tác về cuộc sống thời hậu chiến, các mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ xây dựng và đổi mới đất nước. Ông chuyển sang phản ánh những thay đổi xã hội, khai thác các vấn đề xã hội, đạo đức và con người.

Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng là “Con chim vàng” (tập truyện ngắn, 1956), “Người quê hương” (tập truyện ngắn, 1968), “Nhật ký người ở lại” (tiểu thuyết, 1961), “Đất lửa” (tiểu thuyết, 1963), “Câu chuyện bên trận địa pháo” (truyện vừa, 1966), “Chiếc lược ngà” (tập truyện ngắn, 1966), “Bông cẩm thạch” (tập truyện ngắn, 1969), “Cái áo thằng hình rơm” (truyện vừa, 1975), “Mùa gió chướng” (tiểu thuyết, 1975), “Người con đi xa” (tập truyện ngắn, 1977), “Dòng sông thơ ấu” (tiểu thuyết, 1985), “Bàn thờ tổ của một cô đào” (tập truyện ngắn, 1985), “Tôi thích làm vua” (tập truyện ngắn, 1988), “25 truyện ngắn” (1990), “Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn” (1990), “Con mèo của Foujita” (tập truyện ngắn, 1991), “Nhà văn về làng” (tập truyện ngắn, 2008).

Nguyễn Quang Sáng còn là nhà biên kịch phim xuất sắc, với các tác phẩm kinh điển như bộ phim “Cánh đồng hoang”, được tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim quốc tế ở Moskva (1981); “Mùa gió chướng đoạt Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (1980). Ông cũng là tác giả kịch bản của nhiều bộ phim khác như “Pho tượng” (1981), “Cho đến bao giờ” (1982), “Mùa nước nổi” (1986), “Dòng sông hát” (1988), “Câu nói dối đầu tiên” (1988), “Thời thơ ấu” (1995), “Giữa dòng” (1995), “Như một huyền thoại” (1995).

Nguyễn Quang Sáng được xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam. Với phong cách viết mộc mạc, giản dị nhưng giàu cảm xúc, ông khắc họa thành công cuộc sống và tâm hồn con người miền Nam trong các thời kỳ chiến tranh và hòa bình. Nguyễn Quang Sáng nổi bật với khả năng khai thác các khía cạnh đời thường trong những hoàn cảnh đặc biệt. Các tác phẩm của ông không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là câu chuyện chung của dân tộc, phản ánh trung thực và sâu sắc sự chuyển mình của đất nước. Ông có đóng góp lớn cho thể loại văn xuôi và dòng văn học chiến tranh.


TS Hà Thanh Vân (đeo kính) tại buổi hội thảo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Cuộc đời và sự nghiệp” - Ảnh Trần Quang Khánh.


“Dòng sông thơ ấu” là hoài niệm và cũng là dòng đời tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

“Dòng sông thơ ấu” là một trong những tác phẩm nổi bật của Nguyễn Quang Sáng, được xuất bản vào năm 1985. Đây là câu chuyện về tuổi thơ của nhân vật lấy cảm hứng từ chính tuổi thơ của nhà văn và những người bạn ở một vùng quê Nam Bộ, với dòng sông gắn liền cuộc sống của họ. “Dòng sông thơ ấu” có nguyên mẫu là dòng sông Tiền chảy qua làng Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, An Giang, quê hương của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Dòng sông dưới ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng cũng trở thành một dạng nhân vật, như lời ông Hai Thợ Bạc, một nhân vật trong tác phẩm hay triết lý: “Nỗi nhớ của con người có lúc nó nằm yên rồi chợt gặp một dáng đi, giọng nói của ai đó, hoặc gặp một bài hát mà nó hay hát, nỗi nhớ lại dâng lên cuồn cuộn như sóng. Và kỷ niệm như những con thuyền trăn trở không yên. Nỗi nhớ như con sông vẫn chảy mãi trong đời người”. Năm 1995, tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” được dựng thành phim với tên gọi “Thời thơ ấu” do chính nhà văn Nguyễn Quang Sang chuyển thể thành kịch bản phim, với sự tham gia của các diễn viên như Thành Lộc, Quyền Linh, Mỹ Hạnh, Mạc Can...

Tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” xoay quanh hồi ức tuổi thơ hồn nhiên nhưng cũng đầy khó khăn của nhân vật trong bối cảnh Nam Bộ trước năm 1945 với điểm nhấn là những ngày hào hùng đầy chất sử thi của tháng 8/1945, nhưng tiểu thuyết in dấu trong lòng người đọc lại là nét văn hóa đặc trưng sông nước của miền Tây, với những con người hồn hậu, nghĩa tình. Qua dòng sông, nhà văn gợi lên hình ảnh quê hương yên bình nhưng cũng đầy biến động của những năm tháng đã qua, phản ánh mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, con người và xã hội đặt trong một bối cảnh lịch sử đặc thù

“Dòng sông thơ ấu” phản ánh bức tranh tuổi thơ miền Tây Nam Bộ. Đó là một câu chuyện về tuổi thơ không chỉ của riêng nhân vật mang tên “Năm” theo thứ bậc của người miền Tây Nam Bộ trong gia đình, mà còn là tuổi thơ chung của cả một thế hệ sống giữa khói lửa chiến tranh, trong sự đan xen giữa cái hồn nhiên và cái khắc nghiệt của cuộc đời. Dòng sông trong tác phẩm không chỉ là một không gian địa lý mà còn là biểu tượng của ký ức, của sự trưởng thành và những mất mát khó quên.

Nguyễn Quang Sáng khắc họa tuổi thơ của nhân vật chính là cậu bé Năm cùng nhóm bạn qua những trò chơi nghịch ngợm, những mẩu chuyện đời thường giản dị nhưng mang tính biểu tượng sâu sắc. Từ những trò nghịch phá của cậu bé Năm và bạn bè, cho đến những cú va chạm đầu đời với hiện thực nghiệt ngã, tác phẩm vẽ nên một bức tranh sinh động về tuổi thơ miền quê Tây Nam Bộ: vừa dung dị, thơ mộng, vừa ám ảnh bởi bóng đen của chiến tranh thế giới thứ hai và mùa thu cách mạng, kháng chiến 1945, cùng với những nét văn hóa, tôn giáo đặc trưng của mảnh đất An Giang với những nhân vật lịch sử của đạo Hòa Hảo có thật đan xen, khiến cho tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” phảng phất bóng dáng của tự truyện.

 

“Dòng sông thơ ấu” như là nhân chứng của ký ức lịch sử

Dòng sông trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng hiện diện như một “nhân vật” đặc biệt, chứng kiến sự lớn lên, trưởng thành của các nhân vật, sự đổi thay của quê hương và xã hội. Qua dòng sông, Nguyễn Quang Sáng kể lại những kỷ niệm hồn nhiên, những giấc mơ dang dở và cả những nỗi đau mất mát. Nó không chỉ là không gian sinh hoạt của tuổi thơ, của sự sôi động miền quê sông nước, mà còn là nơi lưu giữ những rung động đầu đời, những bài học đầu tiên về cuộc sống. Nhân vật cô gái Chi (hay còn gọi là Trâm) là hình ảnh đẹp lưu giữ trong ký ức tác giả và gây rung cảm sâu sắc với độc giả về một người phụ nữ lặng lẽ không lập gia đình, chờ đợi người yêu đi kháng chiến cho đến khi mái tóc đã pha sương và chàng trai ấy đã hy sinh, chưa kịp một lần gặp lại.

Tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” không chỉ dừng lại ở tuổi thơ mà còn gợi lên bức tranh lớn hơn về xã hội miền Tây Nam Bộ thời kỳ trước năm 1945 và vắt ngang qua bằng những mảnh ký ức của những năm tháng sau này. Đó là xã hội mà những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa kháng chiến và thực dân, giữa lòng yêu nước và sự cơ hội chính trị bắt đầu lộ rõ. Dòng sông không còn là chốn bình yên của tuổi thơ mà dần mang theo cả những dòng chảy của biến cố và thay đổi của lịch sử. Đó là câu chuyện treo cờ đỏ búa liềm ở Cột Dây Thép hay về nhà cách mạng Châu Văn Liêm, về giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, về đạo Cao Đài… Dù không miêu tả trực diện, chiến tranh thế giới thứ hai và bối cảnh đất nước Việt Nam thời đó vẫn hiện lên qua những câu chuyện nhỏ, những biến cố xảy ra quanh cuộc sống của cậu bé Năm.

Ở một tầng mức ý nghĩa sâu hơn, “Dòng sông thơ ấu” là một lời tri ân đối với quê hương miền Tây Nam Bộ, cụ thể là mảnh đất An Giang đã nuôi dưỡng tâm hồn và ký ức của nhà văn. Nguyễn Quang Sáng không chỉ tái hiện vẻ đẹp của vùng đất này mà còn gợi lên một khát vọng hòa bình và những ước vọng nhân văn, cũng như quyết tâm mở lòng ra với đất nước, với kháng chiến, như lời khẳng định của cậu bé Năm, nhân vật chính trong tác phẩm: “Lâu nay, mọi người như đi trên con sông, tôi thấy bạn bè và thiên hạ, ai ai cũng có một chỗ trên chiếc thuyền của mình, còn tôi, cứ phải lặn hụp, ngoi ngóp trên mặt sông. Đêm ấy, tôi như thấy được bóng dáng chiếc thuyền của mình, tôi sẽ bơi tới.”

 

“Dòng sông thơ ấu” và chất miền Tây Nam Bộ đậm đặc

Nguyễn Quang Sáng sử dụng giọng văn mộc mạc, gần gũi, mang đậm phong vị Nam Bộ. Từ cách xây dựng lời thoại đến cách miêu tả thiên nhiên, con người, ông đưa người đọc hòa mình vào không gian miền quê thân thuộc, cảm nhận được cả mùi bùn, mùi nước sông, ở đó có những con người miền Tây khẳng khái, nhân hậu, nghĩa tình. Ngôn ngữ của Nguyễn Quang Sáng đầy chất thơ, giàu hình ảnh nhưng không hề xa rời thực tế. Ông sử dụng những câu chữ giản dị nhưng giàu sức gợi, làm bật lên vẻ đẹp tự nhiên của dòng sông, làng quê và cả những cảm xúc tinh tế của nhân vật. “Từng mảng đất từ trên bờ đổ ùm xuống, bọt nước tung trắng xóa. Bờ sông hõm vô với màu đất đỏ. Và dòng sông như giận ai, từ nơi xa khơi, ở giữa dòng, nổi lên từng đợt sóng bạc đầu, gầm thét đuổi xô nhau đập vào bờ. Và xa kia, ở làng tôi, mây khói đen như kéo cả bầu trời hạ xuống, trên đầu của con sông. Ôi! Dòng sông thơ ấu của tôi chiều hôm ấy sao mà buồn thế!”

Cảnh sắc miền quê Tây Nam Bộ được Nguyễn Quang Sáng tái hiện như một bức tranh chân phương, mộc mạc, nhưng nhiều màu sắc. Dòng sông không chỉ là một không gian địa lý mà còn là một nhân tố tham gia vào dòng cảm xúc, ký ức và sự trưởng thành của nhân vật. Những nhân vật trong tác phẩm, từ cậu bé Năm đến những người lớn, đều được xây dựng gần gũi, chân thực. Dù là trẻ em hay người lớn, mỗi nhân vật đều mang trong mình những nét riêng, phản ánh rõ tính cách và hoàn cảnh sống của họ.

Dòng sông là biểu tượng trung tâm của tác phẩm, mang ý nghĩa đa tầng: sông là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, nhân chứng của những thay đổi, biến thiên của lịch sử, lòng người, và biểu tượng của dòng chảy cuộc đời. Nó vừa là chốn bình yên vừa là nơi khơi dậy những trăn trở và suy tư của một con người đã đi qua nhiều biến động thời cuộc, nay ngoảnh đầu nhìn lại. Tuổi thơ trong tác phẩm không chỉ là những ký ức đẹp đẽ mà còn là biểu tượng cho những giá trị nhân văn sâu sắc, nhắc nhở con người giữ gìn những ký ức quá khứ, dù có thể có những bất toàn, có những đau thương, nhưng quan trọng là những điều trong sáng và tốt đẹp trong cuộc sống của một thời đại đấu tranh cho quê hương, dân tộc, vẫn luôn được gìn giữ, nhớ về

“Dòng sông thơ ấu” là một tác phẩm mang giá trị lớn cả về nội dung và nghệ thuật. Nguyễn Quang Sáng không chỉ kể lại câu chuyện của riêng mình mà còn kể câu chuyện của cả một thế hệ, của cả một dân tộc. Tác phẩm là một lời nhắc nhở về tầm quan trọng của ký ức, về giá trị của tuổi thơ và tình yêu quê hương. Nguyễn Quang Sáng, với “Dòng sông thơ ấu,” đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là một cuốn hồi ký văn chương mà còn là một tượng đài nghệ thuật về tuổi thơ và ký ức quê hương. Dưới ngòi bút của ông, dòng sông không chỉ chảy trên trang giấy mà còn chảy vào lòng người đọc, mang theo những xúc cảm và suy tư về cuộc đời.

Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn lớn với sự nghiệp gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước. Những tác phẩm của ông, trong đó có “Dòng sông thơ ấu” là một phần không thể thiếu trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm