TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • “Dòng sông thơ ấu” như là dòng chảy cuộc đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

“Dòng sông thơ ấu” như là dòng chảy cuộc đời của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-12-07 17:59:30
mail facebook google pos stwis
3777 lượt xem

HÀ THANH VÂN

(Tham luận đọc tại Hội thảo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Cuộc đời và sự nghiệp”)

Nguyễn Quang Sáng (12/1/1932 – 13/2/2014), còn có bút danh là Nguyễn Sáng, là một nhà văn nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại, sinh ra tại xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông dấn thân vào sự nghiệp văn chương và gặt hái nhiều thành công trong giai đoạn đất nước trải qua nhiều biến động, từ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ đến thời kỳ đổi mới. Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II về văn học nghệ thuật được trao cho Nguyễn Quang Sáng vào năm 2001 là sự ghi nhận cao nhất cho những đóng góp của ông vào nền văn học Việt Nam hiện đại.


TS Hà Thanh Vân phát biểu tham luận tại Hội thảo, sáng 6/12/2024.

 

Một tuổi trẻ sôi nổi với kháng chiến và văn chương

Nguyễn Quang Sáng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp và bắt đầu sáng tác từ những năm 1950. Ban đầu, ông chủ yếu viết các truyện ngắn về cuộc sống và chiến đấu ở miền Nam. Nguyễn Quang Sáng phản ánh lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu của nhân dân Nam Bộ thông qua những câu chuyện giản dị nhưng xúc động, đặc biệt là trong các truyện ngắn của ông. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ở thập niên 1960 – 1970, Nguyễn Quang Sáng chuyển sang viết văn xuôi, tập trung khai thác hiện thực chiến tranh và đời sống người dân Nam Bộ. Tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là “Chiếc lược ngà”, một truyện ngắn cảm động về tình cha con giữa khói lửa chiến tranh. Thời kỳ này, Nguyễn Quang Sáng ghi dấu ấn mạnh mẽ với những tác phẩm mang đậm chất nhân văn, phản ánh cuộc sống chiến tranh khốc liệt nhưng tràn đầy tình người. “Chiếc lược ngà” là minh chứng cho khả năng khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật trong hoàn cảnh chiến tranh. Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, Nguyễn Quang Sáng tiếp tục sáng tác về cuộc sống thời hậu chiến, các mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ xây dựng và đổi mới đất nước. Ông chuyển sang phản ánh những thay đổi xã hội, khai thác các vấn đề xã hội, đạo đức và con người.

Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Quang Sáng là “Con chim vàng” (tập truyện ngắn, 1956), “Người quê hương” (tập truyện ngắn, 1968), “Nhật ký người ở lại” (tiểu thuyết, 1961), “Đất lửa” (tiểu thuyết, 1963), “Câu chuyện bên trận địa pháo” (truyện vừa, 1966), “Chiếc lược ngà” (tập truyện ngắn, 1966), “Bông cẩm thạch” (tập truyện ngắn, 1969), “Cái áo thằng hình rơm” (truyện vừa, 1975), “Mùa gió chướng” (tiểu thuyết, 1975), “Người con đi xa” (tập truyện ngắn, 1977), “Dòng sông thơ ấu” (tiểu thuyết, 1985), “Bàn thờ tổ của một cô đào” (tập truyện ngắn, 1985), “Tôi thích làm vua” (tập truyện ngắn, 1988), “25 truyện ngắn” (1990), “Paris – tiếng hát Trịnh Công Sơn” (1990), “Con mèo của Foujita” (tập truyện ngắn, 1991), “Nhà văn về làng” (tập truyện ngắn, 2008).

Nguyễn Quang Sáng còn là nhà biên kịch phim xuất sắc, với các tác phẩm kinh điển như bộ phim “Cánh đồng hoang”, được tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim quốc tế ở Moskva (1981); “Mùa gió chướng đoạt Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (1980). Ông cũng là tác giả kịch bản của nhiều bộ phim khác như “Pho tượng” (1981), “Cho đến bao giờ” (1982), “Mùa nước nổi” (1986), “Dòng sông hát” (1988), “Câu nói dối đầu tiên” (1988), “Thời thơ ấu” (1995), “Giữa dòng” (1995), “Như một huyền thoại” (1995).

Nguyễn Quang Sáng được xem là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học cách mạng Việt Nam. Với phong cách viết mộc mạc, giản dị nhưng giàu cảm xúc, ông khắc họa thành công cuộc sống và tâm hồn con người miền Nam trong các thời kỳ chiến tranh và hòa bình. Nguyễn Quang Sáng nổi bật với khả năng khai thác các khía cạnh đời thường trong những hoàn cảnh đặc biệt. Các tác phẩm của ông không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là câu chuyện chung của dân tộc, phản ánh trung thực và sâu sắc sự chuyển mình của đất nước. Ông có đóng góp lớn cho thể loại văn xuôi và dòng văn học chiến tranh.


TS Hà Thanh Vân (đeo kính) tại buổi hội thảo “Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Cuộc đời và sự nghiệp” - Ảnh Trần Quang Khánh.


“Dòng sông thơ ấu” là hoài niệm và cũng là dòng đời tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng

“Dòng sông thơ ấu” là một trong những tác phẩm nổi bật của Nguyễn Quang Sáng, được xuất bản vào năm 1985. Đây là câu chuyện về tuổi thơ của nhân vật lấy cảm hứng từ chính tuổi thơ của nhà văn và những người bạn ở một vùng quê Nam Bộ, với dòng sông gắn liền cuộc sống của họ. “Dòng sông thơ ấu” có nguyên mẫu là dòng sông Tiền chảy qua làng Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, An Giang, quê hương của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Dòng sông dưới ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng cũng trở thành một dạng nhân vật, như lời ông Hai Thợ Bạc, một nhân vật trong tác phẩm hay triết lý: “Nỗi nhớ của con người có lúc nó nằm yên rồi chợt gặp một dáng đi, giọng nói của ai đó, hoặc gặp một bài hát mà nó hay hát, nỗi nhớ lại dâng lên cuồn cuộn như sóng. Và kỷ niệm như những con thuyền trăn trở không yên. Nỗi nhớ như con sông vẫn chảy mãi trong đời người”. Năm 1995, tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” được dựng thành phim với tên gọi “Thời thơ ấu” do chính nhà văn Nguyễn Quang Sang chuyển thể thành kịch bản phim, với sự tham gia của các diễn viên như Thành Lộc, Quyền Linh, Mỹ Hạnh, Mạc Can...

Tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” xoay quanh hồi ức tuổi thơ hồn nhiên nhưng cũng đầy khó khăn của nhân vật trong bối cảnh Nam Bộ trước năm 1945 với điểm nhấn là những ngày hào hùng đầy chất sử thi của tháng 8/1945, nhưng tiểu thuyết in dấu trong lòng người đọc lại là nét văn hóa đặc trưng sông nước của miền Tây, với những con người hồn hậu, nghĩa tình. Qua dòng sông, nhà văn gợi lên hình ảnh quê hương yên bình nhưng cũng đầy biến động của những năm tháng đã qua, phản ánh mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, con người và xã hội đặt trong một bối cảnh lịch sử đặc thù

“Dòng sông thơ ấu” phản ánh bức tranh tuổi thơ miền Tây Nam Bộ. Đó là một câu chuyện về tuổi thơ không chỉ của riêng nhân vật mang tên “Năm” theo thứ bậc của người miền Tây Nam Bộ trong gia đình, mà còn là tuổi thơ chung của cả một thế hệ sống giữa khói lửa chiến tranh, trong sự đan xen giữa cái hồn nhiên và cái khắc nghiệt của cuộc đời. Dòng sông trong tác phẩm không chỉ là một không gian địa lý mà còn là biểu tượng của ký ức, của sự trưởng thành và những mất mát khó quên.

Nguyễn Quang Sáng khắc họa tuổi thơ của nhân vật chính là cậu bé Năm cùng nhóm bạn qua những trò chơi nghịch ngợm, những mẩu chuyện đời thường giản dị nhưng mang tính biểu tượng sâu sắc. Từ những trò nghịch phá của cậu bé Năm và bạn bè, cho đến những cú va chạm đầu đời với hiện thực nghiệt ngã, tác phẩm vẽ nên một bức tranh sinh động về tuổi thơ miền quê Tây Nam Bộ: vừa dung dị, thơ mộng, vừa ám ảnh bởi bóng đen của chiến tranh thế giới thứ hai và mùa thu cách mạng, kháng chiến 1945, cùng với những nét văn hóa, tôn giáo đặc trưng của mảnh đất An Giang với những nhân vật lịch sử của đạo Hòa Hảo có thật đan xen, khiến cho tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” phảng phất bóng dáng của tự truyện.

 

“Dòng sông thơ ấu” như là nhân chứng của ký ức lịch sử

Dòng sông trong tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng hiện diện như một “nhân vật” đặc biệt, chứng kiến sự lớn lên, trưởng thành của các nhân vật, sự đổi thay của quê hương và xã hội. Qua dòng sông, Nguyễn Quang Sáng kể lại những kỷ niệm hồn nhiên, những giấc mơ dang dở và cả những nỗi đau mất mát. Nó không chỉ là không gian sinh hoạt của tuổi thơ, của sự sôi động miền quê sông nước, mà còn là nơi lưu giữ những rung động đầu đời, những bài học đầu tiên về cuộc sống. Nhân vật cô gái Chi (hay còn gọi là Trâm) là hình ảnh đẹp lưu giữ trong ký ức tác giả và gây rung cảm sâu sắc với độc giả về một người phụ nữ lặng lẽ không lập gia đình, chờ đợi người yêu đi kháng chiến cho đến khi mái tóc đã pha sương và chàng trai ấy đã hy sinh, chưa kịp một lần gặp lại.

Tác phẩm “Dòng sông thơ ấu” không chỉ dừng lại ở tuổi thơ mà còn gợi lên bức tranh lớn hơn về xã hội miền Tây Nam Bộ thời kỳ trước năm 1945 và vắt ngang qua bằng những mảnh ký ức của những năm tháng sau này. Đó là xã hội mà những mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa kháng chiến và thực dân, giữa lòng yêu nước và sự cơ hội chính trị bắt đầu lộ rõ. Dòng sông không còn là chốn bình yên của tuổi thơ mà dần mang theo cả những dòng chảy của biến cố và thay đổi của lịch sử. Đó là câu chuyện treo cờ đỏ búa liềm ở Cột Dây Thép hay về nhà cách mạng Châu Văn Liêm, về giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, về đạo Cao Đài… Dù không miêu tả trực diện, chiến tranh thế giới thứ hai và bối cảnh đất nước Việt Nam thời đó vẫn hiện lên qua những câu chuyện nhỏ, những biến cố xảy ra quanh cuộc sống của cậu bé Năm.

Ở một tầng mức ý nghĩa sâu hơn, “Dòng sông thơ ấu” là một lời tri ân đối với quê hương miền Tây Nam Bộ, cụ thể là mảnh đất An Giang đã nuôi dưỡng tâm hồn và ký ức của nhà văn. Nguyễn Quang Sáng không chỉ tái hiện vẻ đẹp của vùng đất này mà còn gợi lên một khát vọng hòa bình và những ước vọng nhân văn, cũng như quyết tâm mở lòng ra với đất nước, với kháng chiến, như lời khẳng định của cậu bé Năm, nhân vật chính trong tác phẩm: “Lâu nay, mọi người như đi trên con sông, tôi thấy bạn bè và thiên hạ, ai ai cũng có một chỗ trên chiếc thuyền của mình, còn tôi, cứ phải lặn hụp, ngoi ngóp trên mặt sông. Đêm ấy, tôi như thấy được bóng dáng chiếc thuyền của mình, tôi sẽ bơi tới.”

 

“Dòng sông thơ ấu” và chất miền Tây Nam Bộ đậm đặc

Nguyễn Quang Sáng sử dụng giọng văn mộc mạc, gần gũi, mang đậm phong vị Nam Bộ. Từ cách xây dựng lời thoại đến cách miêu tả thiên nhiên, con người, ông đưa người đọc hòa mình vào không gian miền quê thân thuộc, cảm nhận được cả mùi bùn, mùi nước sông, ở đó có những con người miền Tây khẳng khái, nhân hậu, nghĩa tình. Ngôn ngữ của Nguyễn Quang Sáng đầy chất thơ, giàu hình ảnh nhưng không hề xa rời thực tế. Ông sử dụng những câu chữ giản dị nhưng giàu sức gợi, làm bật lên vẻ đẹp tự nhiên của dòng sông, làng quê và cả những cảm xúc tinh tế của nhân vật. “Từng mảng đất từ trên bờ đổ ùm xuống, bọt nước tung trắng xóa. Bờ sông hõm vô với màu đất đỏ. Và dòng sông như giận ai, từ nơi xa khơi, ở giữa dòng, nổi lên từng đợt sóng bạc đầu, gầm thét đuổi xô nhau đập vào bờ. Và xa kia, ở làng tôi, mây khói đen như kéo cả bầu trời hạ xuống, trên đầu của con sông. Ôi! Dòng sông thơ ấu của tôi chiều hôm ấy sao mà buồn thế!”

Cảnh sắc miền quê Tây Nam Bộ được Nguyễn Quang Sáng tái hiện như một bức tranh chân phương, mộc mạc, nhưng nhiều màu sắc. Dòng sông không chỉ là một không gian địa lý mà còn là một nhân tố tham gia vào dòng cảm xúc, ký ức và sự trưởng thành của nhân vật. Những nhân vật trong tác phẩm, từ cậu bé Năm đến những người lớn, đều được xây dựng gần gũi, chân thực. Dù là trẻ em hay người lớn, mỗi nhân vật đều mang trong mình những nét riêng, phản ánh rõ tính cách và hoàn cảnh sống của họ.

Dòng sông là biểu tượng trung tâm của tác phẩm, mang ý nghĩa đa tầng: sông là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, nhân chứng của những thay đổi, biến thiên của lịch sử, lòng người, và biểu tượng của dòng chảy cuộc đời. Nó vừa là chốn bình yên vừa là nơi khơi dậy những trăn trở và suy tư của một con người đã đi qua nhiều biến động thời cuộc, nay ngoảnh đầu nhìn lại. Tuổi thơ trong tác phẩm không chỉ là những ký ức đẹp đẽ mà còn là biểu tượng cho những giá trị nhân văn sâu sắc, nhắc nhở con người giữ gìn những ký ức quá khứ, dù có thể có những bất toàn, có những đau thương, nhưng quan trọng là những điều trong sáng và tốt đẹp trong cuộc sống của một thời đại đấu tranh cho quê hương, dân tộc, vẫn luôn được gìn giữ, nhớ về

“Dòng sông thơ ấu” là một tác phẩm mang giá trị lớn cả về nội dung và nghệ thuật. Nguyễn Quang Sáng không chỉ kể lại câu chuyện của riêng mình mà còn kể câu chuyện của cả một thế hệ, của cả một dân tộc. Tác phẩm là một lời nhắc nhở về tầm quan trọng của ký ức, về giá trị của tuổi thơ và tình yêu quê hương. Nguyễn Quang Sáng, với “Dòng sông thơ ấu,” đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn học Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là một cuốn hồi ký văn chương mà còn là một tượng đài nghệ thuật về tuổi thơ và ký ức quê hương. Dưới ngòi bút của ông, dòng sông không chỉ chảy trên trang giấy mà còn chảy vào lòng người đọc, mang theo những xúc cảm và suy tư về cuộc đời.

Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn lớn với sự nghiệp gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước. Những tác phẩm của ông, trong đó có “Dòng sông thơ ấu” là một phần không thể thiếu trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm