TIN TỨC

“Theo chồng về quê” của Mai Khoa – một bài thơ hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-21 16:12:35
mail facebook google pos stwis
1508 lượt xem

ĐINH THIÊN HƯƠNG

Bởi yêu chồng từ lúc mới bén duyên
Như tình biển yêu thuyền thương nhớ
Nghĩa vợ chồng chẳng bao giờ hết nợ
Sợi tơ hồng em xe chỉ luồn kim

Điều ước ao em mải miết kiếm tìm
Một miền quê nơi “đất lành chim đậu”
Có câu ví dặm ân tình sâu đậm
Có vườn trầu ngan ngát hương cau…

Đất miền Trung tuy sỏi đá bạc màu
Người xứ Nghệ luôn giàu lòng nhân ái
Nét dịu dàng như cỏ cây hoa trái
Dòng Lam giang vời vợi trong xanh

Bỏ phố thị về miền đất quê anh
Đêm ngắm trăng thanh soi mình trên cát
Chiếc thuyền nan chòng chành nghe biển hát
Làn gió nam man mát phía chân trời

Thời gian ơi! Lời yêu thương vời vợi
Nơi làng quê ấm áp khói lam chiều
Chùa An Thái ngân tiếng chuông chầm chậm
Núi Phượng Hoàng sừng sững chắn bão giông

Cuộc sống buồn vui san sẻ cùng chồng
Có mệt mỏi không giận hờn oán trách
Tìm hạnh phúc ở trong từng trang sách
Trong bát chè xanh sóng sánh vị quê mình!

Nghệ An, 15.5.2024
Mai Khoa

Mai Khoa là hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Mảnh đất phương Nam là nơi vợ chồng chị và con cháu chọn làm nơi định cư đã mấy chục năm. Chị vốn là gái gốc nội thành Hà Nội. Tuổi thanh xuân, từng là vận động viên bóng bàn trong quân đội. Rồi theo tiếng gọi tình yêu, Mai Khoa kết duyên với chàng trai biển Quỳnh xứ Nghệ. Quê chồng có nhà cửa, vườn tược, có tông tộc và tình làng nghĩa xóm – nơi bao năm qua, từ thuở xanh mái đầu đến nay đà bạc tóc, ở vào cái tuổi “cổ lai hy”, Mai Khoa vẫn luôn có những chuyến “theo chồng về quê”.

Vì thương nhau mà bén duyên chồng vợ. Chị yêu anh như “tình biển yêu thuyền”, bất chấp xa cách, chẳng nệ giàu nghèo, không âu lo kẻ miền quê “gió Lào cát trắng” - người kinh kỳ, thanh lịch Tràng An. Thời ấy, quyết định này phải nói là dũng cảm! Vì thế, ngay trong khổ thơ mở đầu, Mai Khoa có hai câu thơ tự nhiên mà hồn hậu, khăng khít, vấn vít nghĩa tình, duyên nợ keo sơn, với một hình ảnh thơ đậm chất dân ca, giàu gợi cảm và đầy tinh thần chủ động: “Nghĩa vợ chồng chẳng bao giờ hết nợ / Sợi tơ hồng em xe chỉ luồn kim”. Tình yêu vô bờ bến và trong trẻo ấy khiến Mai Khoa cả đời như chưa dứt nợ. Và điều đó cũng chứng tỏ, chàng trai xứ Nghệ của chị có sức hấp dẫn đến mức nào…

Anh ấy thật hạnh phúc vì trong đời có người vợ – người yêu anh và yêu tất cả những gì dung dị, nghèo khó, gian khổ của quê anh, từ thuở hàn vi đến bây giờ đủ đầy của ăn của để. Không biết chuẩn mực của cái thời “Một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” có chi phối tình nồng của họ không. Nhưng đọc cả bài thơ, như được dõi theo suốt hành trình cuộc đời, ta luôn thấy Mai Khoa thi vị hóa những giá trị vật chất và tinh thần ở nơi quê chồng. Tuyệt đối không thở than, “không giận hờn oán trách”. Nhờ thế, chị đã tạo nên trùng điệp những hình ảnh thơ dung dị mà ăm ắp yêu thương, ngập tràn cảm xúc: “Câu ví dặm ân tình sâu đậm / Có vườn trầu ngan ngát hương cau / Đất miền Trung sỏi đá bạc màu / Người xứ Nghệ luôn giàu lòng nhân ái… Dịu dàng như cỏ cây hoa trái… Lam giang vời vợi trong xanh… Trăng thanh soi mình trên cát… Thuyền nan chòng chành nghe biển hát… Gió nam man mát phía chân trời… Làng quê ấm áp khói lam chiều / Chùa An Thái ngân tiếng chuông… Núi Phượng Hoàng sừng sững chắn bão giông…”. Thật là nặng lòng, không chê quê xa - quê nghèo khó. Yêu thế mới là yêu!

Cho tới hôm nay, vợ chồng Mai Khoa đã dắt tay nhau đi đến chặng cuối của đường đời, chị mới thổ lộ ý nguyện từ thuở thanh tân, làm kim chỉ nam, làm nguyên tắc sống: “Điều ước ao em mải miết kiếm tìm / Một miền quê nơi đất lành chim đậu”. Và tất nhiên, như chúng ta ai cũng biết, suốt một đời chăn gối, chẳng phải bao giờ cũng “cơm lành, canh ngọt” cả đâu. Nhưng nếu biết giữ nguyên tắc sống như thế, biết tôn thờ duyên kiếp, chấp nhận nhau, thì:

“Cuộc sống buồn vui san sẻ cùng chồng / Có mệt mỏi không giận hờn oán trách / Tìm hạnh phúc ở trong từng trang sách / Trong bát chè xanh sóng sánh vị quê mình!”

Hai tiếng “quê mình” ở cuối bài khác hẳn với “miền đất quê anh” ở phần mở bài. Nó là cả một quá trình “tự diễn biến – tự chuyển hóa”. Bây giờ nghe sao mà lịm ngọt yêu thương! Keo sơn và nồng nàn, gắn kết…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm