TIN TỨC

Thơ Hữu Nhân Và Sen Đồng Tháp

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-05 00:15:32
mail facebook google pos stwis
14514 lượt xem

Bùi Công Thuấn

Nhà thơ Hữu Nhân (sinh năm 1968) là người Đồng Tháp (quê xã Hòa An, TP.Cao Lãnh). Anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Tác phẩm đã in: Khúc đồng vọng (thơ. 1999), Bài ca về những dòng sông (thơ 2005), Những người đi ra từ rừng tràm (tiểu thuyết. 2008); Tôi, em & sen (thơ. 2018) Sau những mùa sen (thơ. 2019) Thành phố - những mùa sen (thơ. 2021). Rực mãi những mùa sen” (thơ. 2022)…

Nhà thơ Hữu Nhân cho biết, anh đang viết một quyển tiểu thuyết có tính huyền thoại về Đồng Tháp Mười, dung nạp những chuyện dân gian, truyền kỳ, thậm chí cả chuyện bùa chú, ma quái giúp người đọc hình dung ra được Đồng Tháp Mười của mình. Và cuốn “Những ngày máu đọng hồn sen”, viết về cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân Đồng Tháp đấu tranh trong hai cuốc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Nhà thơ Thai Sắc nhận xét: “Hữu Nhân là một trong những nhà thơ tiêu biểu của Đồng Tháp và là cây bút “độc nhất vô nhị” làm thơ về “sen” với số lượng và tần suất kỷ lục.”(Fb Nguyễn Hữu Nhân 21/9/22)

Nhà thơ Hữu Nhân

THƠ HỮU NHÂN VÀ THI PHÁP CA DAO

Thơ Hữu Nhân gây được ấn tượng đẹp với người đọc ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên bởi những bài thơ được viết bằng thi pháp ca dao đương đại. Đó là những bài thơ điệu nói, dùng hình ảnh biểu cảm và dùng ngôn ngữ Nam bộ chân chất mộc mạc, có lúc rất bạo, nhờ thế Cái đẹp của thơ Hữu Nhân truyền trực tiếp vào trái tim người đọc, tạo được sự đồng cảm tức thời, vừa quen, vừa lạ, vừa truyền thống lại vừa hiện đại.

Tháp Mười lạ. Tháp Mười quen

Hồn ta đuối giữa sắc sen ngàn đời

Bữa em quăng một nụ cười

Ta chạy theo bắt hụt hơi mấy lần

Tháp Mười lạ. Tháp Mười thân

Quẩn quanh bao nẻo mòn chân còn thèm

Bữa em rót chút hơi men

Ta cong người uống say mèm đến nay

Tháp Mười ân nghĩa cao dày

Hơn sen khoe sắc nở đầy khắp nơi.

(Fb Nguyễn Hữu Nhân 22/4/2022)

 

Người đọc có thể ngỡ chữ Ta là nhân vật trữ tình của thơ Lãng mạn (“Ta là Một là Riêng là Thứ Nhất”-Hy Mã Lạp Sơn -Xuân Diệu). Nhưng trong thơ Hữu Nhân, “Ta” là nhân vật Ca dao (Ta về ta tắm ao ta; Bao giờ chạch đẻ ngọn đa/ sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình). Nói thế để hiểu nhà thơ đã hòa mình với cộng đồng, với đồng bào mình. Chữ “Ta “ cũng thể hiện một phẩm chất thơ mới sau Cách mạng tháng Tám (1945), bắt nguồn từ Tuyên Ngôn Độc Lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.”

Trong bài thơ trên những chữ: “Bữa em quăng một nụ cười/ Ta chạy theo bắt hụt hơi; Ta cong người uống say mèm…” là những từ ngữ, những tứ thơ rất bạo, rất lạ, đậm chất Nam bộ và rất cốt cách. Nó tạo được những chấn động nghệ thuật buộc người đọc phải chăm chú nhìn. Và bỗng phát hiện ra một cốt cách độc đáo trong thơ Hữu Nhân

Nhà thơ Hữu Nhân tâm sự:

“Tôi cứ bị ám mãi bởi hai câu thơ của nhà thơ Bảo Định Giang:

Tháp Mười đẹp nhứt bông sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ

và bốn câu thơ khác của nhà thơ Lý Thuận Khanh:

Tháp Mười ngàn sen nở

Mỗi đóa một anh hùng

Danh thơm truyền muôn thuở

Trai dũng, gái kiên trung

Chỉ cần thẩm thấu cho hết những tầng ý nghĩa của những câu thơ trên là đủ để những bài thơ về Sen của mình tiếp tục đến với mọi người. Nói cách khác, tôi sẽ còn làm thơ về Sen đến trọn đời!” (Fb Nguyễn Hữu Nhân 20/5/22)

 

4 tập thơ của Hữu Nhân viết về Sen

 

TA, EM VÀ SEN

Trong cấu trúc thơ Hữu Nhân, có ba nhân vật: Ta, Em và Sen. Ba nhân vật này có lúc là ba, có lúc là một, riêng biệt độc đáo, song lại thấp thoáng ẩn hiện bóng dáng nhà thơ.

Nhân vật EM cũng là nhân vật đối thoại của ca dao (Trúc xinh trúc mọc bờ ao/ Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh). Trong thơ Hữu Nhân, nhân vật Em biến hóa. Có khi em là sen, em là người yêu, và em là chính nhà thơ.

                        này em xin chớ hững hờ

lửa tình vừa cháy trên bờ môi xuân

em về từ cuộc trăm năm

giũ bao héo úa gọi rằm về theo

ta ngồi buồn thỉu buồn thiu

còn em còn trọn tình yêu, sen à!

                                         (Fb 17/5/22)

này em, mình khẽ khàng thôi

ngoài kia sen mĩm môi cười cùng ta

                                               (Fb 9/5/22)

             em xin mong được nhẹ nhàng

có rơi cũng chỉ ven đàng xứ em

dầu lời tán tụng ngất lên

thì em cũng vẫn là em thôi mà

                           (Fb 3/5/22)

Thực ra Em chỉ là hóa thân của tác giả để tự tình, để phong phú hóa đối tượng chia sẻ. Em tạo nên giọng trữ tình cho thơ.

 

Nhân vật SEN là nhân vật trung tâm của thơ Hữu Nhân. Trần Quang Thuật nhận xét: “hoa sen được Hữu Nhân ví như một thiếu nữ đa tài, hiếu khách. “(Fb 17/5/22)

Thực ra Sen là nhân vật tư tưởng của thơ Hữu Nhân, bởi sen thực hiện nhiều nhiệm vụ trong cấu trúc thơ. Sen là hồn thơ, là tư tưởng của Hữu Nhân. Sen vừa là đối tượng được khám phá, vừa là trung tâm thẩm mỹ, vừa là nhân vật đối thoại, lại vừa là hóa thân của nhà thơ. Và Sen chính là kết tinh đặc sắc sự sáng tạo của Hữu Nhân. Tài thơ Hữu Nhân hiển lộ trong Sen:

Sen quán xuyến bài thơ : Sen mở đầu và kết thúc bài thơ tạo nên một cấu trúc tư tưởng chặt chẽ. Trong thơ Hữu Nhân, ở mạch ngầm, có sự vận động của tư tưởng. Điều ấy tạo nên chiều sâu tư tưởng cho thơ.  Người đọc vô tình có thể không nhận ra, nhưng vẫn cảm nhận một cách mơ hồ quyến rũ của tư tưởng. Xin đọc (lưu ý, tác giả không viết hoa các chữ đầu câu):

em đừng nỡ trách hờn tôi

lỡ tay ngắt phải một chồi sen non

hẹn thề nặng tựa núi non

nào ngờ lông lốc mấy hòn sỏi trơ

em đừng tiếc những giấc mơ

mất còn cũng một bến bờ phải qua

xa thì đã trót thiệt xa

gần thì cũng phải đã ba bốn chiều

em đừng… tôi lỡ trót liều

yêu thêm lần nữa dẫu tiêu tan đời

sao bao nhiêu mỏi mê rồi

cuối đầu tôi nhặt lại chồi sen xưa

                       (Fb 23/8)

 

Sự vận động tư tưởng từ câu thơ đầu: “lỡ tay ngắt phải một chồi sen non” đến câu thơ kết: “sao bao nhiêu mỏi mê rồi/ cuối đầu tôi nhặt lại chồi sen xưa” nằm ở mạch ngầm, vừa tạo nên một cấu trúc nghệ thuật rất đẹp, và vừa lộ ra sự tài hoa bình dị của hồn thơ Hữu Nhân.

Sen được Hữu Nhân khám phá sâu sắc, đa chiều với nhà thơ, với quê hương, với cuộc đời.

Sen là chính nhà thơ

              mai sau dẫu có thể nào

sen em vẫn một sắc màu riêng em

             (Fb 12/5)

 

          Sen mang tư tưởng Thiền

                         ta về chốn đó bình yên

một mình ta một đầm sen hẹn hò

em từ xa lắm chuyến đò

ta từ độ ấy đến giờ đa mang…

…sáng nay nghiệp lỡ khởi rồi

hồi đầu thị ngạn mù khơi bến bờ

Sen là sự chọn lựa một lối sống, một tuyên ngôn sống

                           Ta về với những sắc sen

             Bỏ sau lưng những bon chen xứ người …

                           (Fb 2/5-bài 5)  

 

Một đời "thuần khiết hồn sen"

Cùng hương lúa chín thân quen khắp vùng

Bao nhiêu nghĩa nặng tình thâm

Gói vào màu lá non xanh vươn mình.

                  

Sen là Cái Đẹp, là giấc mơ về những gì lý tưởng

                         ta gọi mình thôi sen ơi

giữa se se lạnh có môi phớt hồng

ta co mình giữa chợ đông

em xanh tán lá uốn vòng theo mây

ta gọi mình hết đêm nay

chỉ còn nửa mảnh trăng gầy nằm trơ

            em là sen em là mơ

ta làm cả cuộc đời chờ thủy chung

em từ chua chát sình bùn

bỗng dưng lên phố tận cùng sắc hương

gọi em theo dọc con đường

giữa thênh thang nắng giữa bươn chải đời

lạ xa chạm phải mắt cười

em hồn hậu nụ ta bời bời thơ

(Fb 12/5)

 

 

Sen là một trải nghiệm

                         sen chưa già và tình thì không trẻ

sao không yêu những ngày tháng đang trôi

sao không uống cạn hết những cay đắng

để thương mình nông nổi đến hoa râm

và sau những xanh hồng đỏ trắng

ta gặp sen tinh khiết đến vô ngần!

(Fb 12/5/22-bài 8)

 

Sen là chốn quê.

                         đắng cay nếu đã tận cùng

bíu câu vọng cổ vắt lừng chừng mây

đớn đau rời rã đôi tay

thì mình về lại nơi này. Phố sen

một Cao Lãnh của thân quen

nơi còn tối lửa tắt đèn chờ nhau

           (FB 6/5/ bài 7)

 

Hữu Nhân có nhiều tứ thơ rất hay về sen:

Biết là thuần khiết hồn sen

Em về từ chốn bưng biền xa xăm

    (Fb 6/5/22)

            cám ơn sen sắc trong ngần

gột giùm ta hết mấy lần bùn nhơ

   (Fb 12/5/ 22)

 

Xin nhau một giấc mơ sen

Để còn gặp lại người quen biết mình

              (Fb 2/5/ 22)

 

             hình như ta mắc nợ rồi

giữa miền sen gặp nụ cười rất sen

mình đi bên những lạ quen

thêm yêu những luống đất phèn nở hoa

  (FB 19/5)

 

bao nhiêu nhan sắc cõi này

không bằng một nét chân mày của em

góp gom hết những ánh đèn

không bằng một nụ cười sen giữa rằm

 

Và đây là một bài rất lạ

thử ngồi nhắm mắt thật lâu

biết đâu mình thấy thật sâu chính mình

lạ quen cũng sẽ đượm tình

thực hư ra chốn miếu đình chứng miêng

thứ ngồi nhắm mắt ngắm sen

biết đâu mình rõ sang hèn đời nhau

thân sơ rồi cũng ngọt ngào

theo sen mình tập tỏa dào dạt hương

thử ngồi ngắm mắt soi gương

biết đâu phiền muộn sẽ tuồn tuột trôi

chỉ còn lại một thằng tôi

và ngoài kia nữa rợp trời sắc sen.

                                 (Fb 27/5/22)

 

Nhân vật Ta, như đã nói ở trên là “Cái Ta” ca dao. Nhưng không hẳn là như vậy, mà có sự giao thoa giữa Cái Ta ca dao với Cái Ta trữ tình của thơ Lãng mạn, nên Cái Ta ấy vừa bình dị, lại riêng tư và có chút “ngông” (trong văn chương truyền thống: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, là những tác gia nổi tiếng “ngông”)

             ta phường giá áo túi cơm

câu thơ lạc giữa những cơn mê dài

(Fb 25/4/22)

             mình đi bên những lạ quen

thêm yêu những luống đất phèn nở hoa

hình như ta lại thấy ta

giữa thênh thang nắng giữa bao la trời

(Fb 19/5/22)

ta từng quen thói dọc ngang

em dạy ta biết xếp hàng thẳng ngay

 (Fb 11/5/22)

 

chỉ còn lại một thằng tôi

và ngoài kia nữa rợp trời sắc sen.

                                 (Fb 27/5/22)

Trong nhiều bài thơ, Cái Ta ẩn giấu một nỗi buồn thế sự, buồn thói đời, tình đời, buồn vì những ước mơ, khát vọng không vươn tới được. Có cả nỗi buồn bầm dập đớn đau. Nhưng, may mà có sen - quê hương, có sen-Cái Đẹp lý tưởng, sen tư tưởng tự giác ngộ và sen-là hồn thơ, nên thơ Hữu Nhân vượt qua những cô đơn, bi tráng.

đắng cay nếu đã tận cùng

bíu câu vọng cổ vắt lừng chừng mây

đớn đau rời rã đôi tay

thì mình về lại nơi này. Phố sen

một Cao Lãnh của thân quen

nơi còn tối lửa tắt đèn chờ nhau

nơi từng thề trước hẹn sau

từng chia sẻ những ngọt ngào riêng ta

mà thôi. Nào xót nào xa

ướp sen ta cạn chén trà cuối đông

(Fb 6/5-bài 7)

 

Rõ ràng Hữu Nhân không giải quyết những bi đát của cuộc sống bằng tư tưởng Thiền (“Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”-Nguyễn Du), cũng không bằng thái độ sống “Vi vô vi, sự vô sự” của Lão tử, hay nghiền ngẫm về hiện sinh mà bản chất là “hiện sinh quy tử” (Being Towards Death-Heidergger). Nhà thơ trở về với “Sen”, “phố sen”, nơi còn tình người “tối lửa tắt đèn chờ nhau”, nơi “từng chia sẻ những ngọt ngào riêng ta”. Đó là minh triết Việt. Dân tộc này tồn tại nhiều ngàn năm lịch sử là ở minh triết ấy. Nhà thơ về với nhân dân, với cộng đồng xóm làng, chốn bình yên, để sống đời sen.

ta về chốn đó bình yên

một mình ta một đầm sen hẹn hò…

                   (Fb 3/5/22)

              cám ơn sen sắc trong ngần

  gột giùm ta hết mấy lần bùn nhơ

(Fb 12/5/22)

Điều gì giúp Hữu Nhân viết được rất nhiều bài thơ về sen, và anh còn viết suốt đời? Đó là sự sáng tạo ba nhân Ta, Sen và Em chuyển hóa lẫn nhau, chuyển hóa trong bút pháp; từ đó thể hiện tư tưởng thẩm mỹ. Người đọc có cảm giác rằng Hữu Nhân viết lục bát tự nhiên như hương hoa đồng nội, viết về sen như một nguồn cảm hứng vô tận, và tìm thấy ở Sen những tư tưởng minh triết cho thái độ sống “ngang tàng” của mình.

ta từng quen thói dọc ngang

em dạy ta biết xếp hàng thẳng ngay.

 (Fb 11/5/22)

3. LỤC BÁT SEN CỦA HỮU NHÂN

Rất nhiều người làm thơ Lục bát bắt chước ca dao. Họ sử dụng lại những “từ khóa”, những mô hình của ca dao (thế Phú, thể Tỷ, thể Hứng và nhiều biện pháp tu từ quen thuộc). Nhưng hầu như không thành công bởi vì thơ rất cũ (thiếu sáng tạo).

Hữu Nhân làm thơ lục bát hiện đại, thành công được là nhờ những yều tố nào?

Như tôi đã trình bày ở trên, Hữu Nhân sử dụng một vài yếu tố của thi pháp ca dao, đó là thể Lục bát điệu nói, dùng hình ảnh biểu cảm của ca dao, dùng chất liệu ngay trong đời sống chung quanh mình. Trong những bài về sen, tư tưởng chủ đạo được Hữu Nhân khai thác từ ca dao là sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Ngoài những yếu tố ấy, Lục bát của Hữu Nhân là lục bát hiện đại, lấp lánh những tứ thơ mới, chứa đựng tư tưởng mới, hiện thực được ghi lại qua góc nhìn mới và nhân vật trữ tình của thơ là nhân vật mới (nhân vật của ca dao là nông dân).

            ta ngồi buồn thỉu buồn thiu

còn em còn trọn tình yêu, sen à!

                           (Fb 2/5/22)

 

             đời mình như thể đời sen

nấp trong những luống đất phèn tỏa hương

giản đơn cây lá nhà vườn

muốn xin an phận thủ thường được đâu

trót đời sen phải phô màu

trót đời sông xin đục ngầu phù sa.

 

Ngoài phép so sánh và phép trùng điệp của ca dao, “đất phèn tỏa hương” là một tứ thơ mới. Thành ngữ “cây nhà lá vườn” chuyển thành “cây lá nhà vườn”, tư tưởng của người nông dân là “an phận thủ thường”, nhưng với Hữu Nhân, tư tưởng ấy là không thể chấp nhận. Là sen thì phải phô bày hương sắc, là sông thì suốt đời phải trĩu nặng phù sa, nghĩa là mỗi hữu thể tại thế, bất chấp bão giông, phải dâng cho đời những tinh hoa, tinh chất của mình, không thể “an phận thủ thường”. Đó là tư tưởng mới mà Hữu Nhân vuột qua ca dao.

Trong thơ Lục bát, Hữu Nhân cũng có những thủ pháp riêng, chẳng hạn phép đảo trong những câu thơ sau:

             Cất lên vũ khúc trăng rằm

Cho nghiêng ngả nắng/ cho sầm sập đêm

Biết là thuần khiết. Vậy thôi

Ta tương tư nụ ta nhoài nhoài hoa

đằng sau vóc dáng hao gầy

là bừng bừng sắc là đầy đầy hương (6/5-bài 10)

 

Hữu Nhân sử dụng phép đảo tính từ lên trước danh từ (trong tiếng Việt, tính từ đi sau danh từ, bổ nghĩa cho danh từ), tạo nên chất thẩm mỹ mới cho ngôn ngữ: Nghiêng ngả nắng (nắng nghiêng ngả); sầm sập đêm (đêm sầm sập); tương tư nụ (nụ tương tư); nhoài nhoài hoa (hoa nhoài nhoài); bừng bừng sắc (sắc bừng bừng); đầy đầy hương (hương đầy đầy)…

Ở yếu tố khác của thi pháp, Hữu Nhân khai thác được nhạc tính của tiếng Việt (tiếng Việt nhiều tứ ghép, từ láy) phù hợp với nhịp 2/ 2/ 2/ 2 của Lục bát, khiến cho Lục bát tự nhiên như hơi thở, kể cả khi Hữn Nhân dùng những từ nói rất khó đặt vào thơ. Nhạc thơ luôn biến hóa:

            Ngập sông /mưa gió/ cuống cuồng

Ngập hồn tôi/ những nỗi buồn/ dân tôi

Nước xuôi. Ừ nước /cứ trôi

Người neo lại/ với lở bồi/ đời nhau.

(Nhật ký mùa nước  2011. Fb 30/8/22)

 

Hữu nhân còn có những bài thơ tình yêu rất duyên, và những sáng tác phong trào đầy sáng tạo (khác với sáng tác phong trào hô khẩn hiệu). Đây là bài thơ viết mừng Hồng Ngự. Thơ phong trào nhưng vẫn có dấu ấn riêng. Hồng Ngự ở phía thượng nguồn sông Mêkông, có biên giới Việt-Cambuchia:

                        chào em từ phía thượng nguồn

phù sa ăm ắp vẫn cuồn cuộn trôi

một thời lạ lẫm trong tôi

yêu thương quá nên xa xôi vẫn tìm

chào em Hồng Ngự vùng biên

hai trăm năm đang bước lên đường hoàng

qua rồi ngày tháng gian nan

dáng rồng đang viết những trang anh hùng

chào em Hồng Ngự vào xuân

phố phường rộng mở nở bừng sắc hoa

yêu nhau viết một khúc ca

mừng đô thị trẻ vươn xa từng ngày

(Fb 2/5/22-bài 7)

 

CON ĐƯỜNG MAI SAU

Tôi mượn lời thơ này của Hữu Nhân để ghi lại đây tấm lòng của nhà thơ với Đồng Tháp, với thơ ca và cuộc đời… và cũng để ghi lại những tình cảm yêu quý của tôi với Đồng Tháp mà đọc thơ Hữu Nhân tôi cảm nhận được. Hữu Nhân là một hồn thơ đầy “nghĩa tình, năng động, sáng tạo” (tình thần Nghị quyết Đảng bộ Đồng Tháp).

này em sen dẫu tàn rồi

nhưng hương còn ướp đẫm trời đầy sương

mai sau sau nữa con đường

bàn tay xin giữ bình thường sắc hoa

(Fb 22/4/22)

 

Bài viết 10/2022

B.C.T

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm
Tiếp vần – nâng vần: Thủ pháp điều động ngữ âm trong cấu trúc kiến tạo cảm xúc
Trong hành trình đi tìm vân tay trên mặt chữ, mỗi người làm thơ đều trải qua những chặng dừng của nhận thức. Đối với tôi, hành trình ấy kéo dài hơn 30 năm, từ những rung động vô thức của một cậu học trò đến sự tỉnh thức quyết liệt của một người đã đi qua đủ thăng trầm nhân thế. Giữa lúc thi đàn đương đại đang rộn ràng với những cuộc tháo khoán vần điệu hay các thử nghiệm tân hình thức, hậu hiện đại; tôi nhận ra mình vẫn trung thành với một lối đi riêng - một thủ pháp mà tôi tạm định danh là: Tiếp vần - Nâng vần.
Xem thêm
Giữa “biến tấu lời” và “giấc mơ cây”: Những nỗ lực làm mới thơ Trần Vũ Long
Thơ Trần Vũ Long, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, nổi lên như một “cõi riêng” vừa lặng lẽ, vừa ám ảnh. Anh không phải người thích xuất hiện trước đèn flash hay những diễn đàn ồn ào, nhưng mỗi tập thơ anh in ra — từ Biến tấu lời, Niềm tin gió đến Giấc mơ cây — đều để lại một dư vị khó phai.
Xem thêm
“Chiến công từ trong lòng đất”: Bản hùng ca về khát vọng hòa bình và hạnh phúc
Giữa dòng chảy mênh mang của văn học về đề tài chiến tranh cách mạng, có những tác phẩm chạm đến tầng sâu thẳm nhất trong trái tim người đọc không phải bằng kỹ thuật hư cấu ly kỳ, mà bằng chính sức nặng của sự thật lịch sử được viết nên từ máu, nước mắt và một nhân cách lớn lao. Tuyển tập 10 cuốn sách mang tên “Chiến công từ trong lòng đất” của cố Đại tá Lưu Phước Anh (bí danh Lê Bình)
Xem thêm
Những câu thơ bi bô thơm mùi cỏ
“Khói, bụi và cỏ” là tập thơ thứ 7 của nhà thơ Đinh Nho Tuấn. Ở tập thơ thứ 7 này, có gì mới, khác biệt so với những tập thơ trước đó: Em hãy cho anh vội, Em tôi, Dan díu với núi sông, Ngàn tiếng đời ấp ủ, Lời phả hương, Năm ngón chưa đặt tên? Và liệu nhà thơ Đinh Nho Tuấn có vượt được chính mình hay không?
Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm