TIN TỨC

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-30 19:36:07
mail facebook google pos stwis
431 lượt xem

NGUYỄN XUÂN SANG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Các nhà thơ từ cổ chí kim không nhiều thì ít đều viết thơ tình, điều đó không có gì lạ; vì tâm hồn họ lãng mạn, mơ mộng, tôn thờ phái đẹp. Nhà thơ Nguyên Bình không nằm ngoài số đó. Anh viết văn làm thơ từ thời sinh viên, cả trước và sau năm 1975. Những bài thơ tình, anh không dám trao tay cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế anh yêu say đắm: Vẫn mãi “Là bài thơ còn hoài trong vở/Giữa giờ chơi mang đến lại mang về” thơ Đỗ Trung Quân.

Nhà thơ Nguyên Bình (bên trái) và Tác giả

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối, mê say, nồng cháy. Nay nhà thơ chậm rãi bước qua bảy mươi hai mùa lá vàng rơi, thú nhận: “Tôi yêu em đến cuồng điên/Một trăm năm nữa lụy phiền em không?” (Lụy phiền). “Em hãy dịu dàng yêu kiều thầm lặng/Tôi sẽ trao thơ đến tận muôn đời” (Sương khói). “Đã đầy đầy một vòng tay/Tròn ba vạn sáu ngàn ngày yêu em” (Đã đầy). “Thơ là sợi tóc chẻ đôi/ Em cầm một nửa cột tôi đêm ngày” (Thơ tình). Thế là đã rõ, trong cuộc đời nhà giáo - nhà thơ Nguyên Bình chỉ tôn sùng hai thứ: Thơ và Ái Tình.

Nhà thơ Nguyên Bình là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tên thật Nguyễn Bá Bỉnh, sinh năm 1953, tại thôn La Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thôn La Chữ nằm sâu bên trái đường quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Huế hơn chục km về hướng Bắc; nhà thơ Nguyên Bình sinh ra và lớn lên trên mảnh đất hiếu học “bao la chữ nghĩa” ấy. Sau khi tốt nghiệp khoa địa lý, trường đại học sư phạm Huế, thầy giáo trẻ độc hành vào  phương Nam lập nghiệp.

Nhà thơ Nguyên Bình say mê “cày ải” trên “cánh đồng” chữ nghĩa không mệt mỏi, kết quả cho ra đời những tác phẩm văn học: Truyện ký “Những mùa trăng cũ”, “Tiền kiếp” thơ, năm 2019. “Hoa vàng trên áo xanh” thơ, năm 2020. “Dòng nhựa thơm nguyện ước” thơ, năm 2021. “Giấc mơ tôi” thơ, năm 2021. “Phù vân” thơ, năm 2021. “Khắc bóng thời gian” thơ, năm 2021. “Quyền năng của ngôn ngữ từ trái tim” cảm nhận văn học - tập 1, năm 2021. “Bài luân vũ của giao cảm thi ca” cảm nhận văn học - tập 2, năm 2022. “Thắp nến tôi để giành” thơ, năm 2022. “Giao cảm văn chương” cảm nhận văn học - tập 3, năm 2024. Chủ biên 2 tuyển tập thơ: “Hương mùa gió lạ”, năm 2023 (gồm 108 tác giả) và “Mở cửa mùa xuân”, năm 2025 (gồm 99 tác giả). Ngoài ra có một số tập thơ anh tự in và lưu hành nội bộ: “Thầm lặng yêu người” , “Mùa hoa giã quỳ”, “Cung đàn tình thơ”, “ nhặt nhạnh ý đời” (thơ Haiku). Nhà thơ Nguyên Bình viết thơ tình chiếm 70%, chủ yếu hoài niệm về tình yêu tuổi hoa niên; thơ Triết luận chiếm 15%, thể hiện quan niệm nhân sinh, suy tưởng về mối quan hệ xã hội; thơ Thiền khoảng 15 %, thể hiện cảm thức tôn giáo, ý thức ứng xử tinh thần. Được biết, tác giả có 100 bài thơ tình được phổ nhạc; có hơn 300 trang viết về các tập thơ, các bài thơ đã in.

Những tác phẩm văn học của nhà thơ Nguyên Bình.

Viết về đề tài tình yêu, mỗi nhà thơ có cách khai thác nhân vật trữ tình khác nhau. Nhà thơ Nguyên Bình lấy thi liệu là đối tượng nữ đang ôm cặp đến lớp với đôi tà áo dài trắng như đôi cánh bướm tinh khôi, hay người đẹp trong mộng để gây nên chất men xúc tác. Theo Bạch Cư Dị “Tình là cái gốc của thơ”. Mới mùa xuân mát mẻ, chim ca hoa nở đó, mùa hạ vội vàng tới. Khi hoa phượng đỏ thắp những chùm lửa cháy bập bùng trong sân trường, cộng với tiếng ve ngân thổn thức biết mùa hè đã đến “gieo mầm ly biệt”. Cuộc đời học trò vô tư sắp kết thúc, để chọn một con đường tương lai đang chờ phía trước: “Trang sách học trò chưa hết bâng khuâng/Em úp mặt vào trong vạt áo/Mùa cứ trôi nhuộm buồn chân sáo/Sắp hết rồi những bước tung tăng”(Mùa qua). Khi đang yêu tâm hồn ngập tràn một trời mơ ước, mang tâm trạng “rơm rớm nhớ, lưa thưa buồn”. Tình yêu của chàng trai về cô gái chưa có gì nắm bắt cụ thể, chỉ chút tình suông, vẽ mộng lên bốn bức tường lớp học, con đường xưa em qua chỉ còn lại những dấu chân mờ. Chàng thở than: “ Có ai khờ dại yêu liều như tôi/Ơi à năm tháng đầy vơi/Tôi đem phơi áo hong lời nguyện xưa” (Như chưa bao giờ). Nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng mang tâm trạng tương tự: “Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu/ Nên có một gã khờ/Ngọng nghịu đứng làm thơ”. Nhà bác học Lê Qúi Đôn nhận định: “Thơ phát khởi từ lòng ta”, so sánh khi đọc thơ tình của Nguyên Bình quả không sai. Những bài thơ tình anh viết dạt dào cảm xúc bắt nguồn từ tâm trạng yêu đương mãnh liệt, khởi từ lòng anh nhưng không có tên nhân vật cụ thể, không có địa chỉ cụ thể, không có hoàn cảnh cụ thể, không có thời gian cụ thể và không có không gian cụ thể. Chủ thể trữ tình trong thơ anh mông lung, mờ ảo, bồng bềnh mây, lãng đãng sương, thực thực, hư hư: “Ra phố thèm nhắm mắt/ Mộng du trên vỉa hè/chạy quanh triền cơm áo/Tôi gặp tôi u mê/Chẻ đôi câu thơ đắng/Tôi đứt lìa giấc mơ/Nửa thân ôm hoang phế/Nửa hồn treo ngác ngơ” (Chẻ thơ). Hình ảnh mùa thu thật đẹp, cây trút lá vàng, thơm hương cốm mới, trăng rằm sáng tỏ, ánh nắng vàng tươi, tiếng trống trường ngân vang báo hiệu ngày khai gỉang năm học mới. Trong sắc thái mùa thu vàng dịu dàng ấy, giữa anh và em có biết bao kỷ niệm đẹp “cùng chung lối về”, “cùng thưởng thức ly chè ướp hương thề”, anh gửi ngàn câu thơ em cất giữ nêm chật trong cặp sách học trò. Vì ngại ngùng nên lời yêu em, anh chưa dám thổ lộ, để: “Mùa thu chia ly mùa thu vấn vương/Em lấy chồng xa khi tình đang chớm/Chiếc lá bơ vơ thở dài sầu muộn/Mùa thu nghẹn lòng…ta chợt mất nhau” (Thu hoang đường). Trong tình yêu, giận dỗi là chuyện thường tình, nó như chất gia vị để nêm nếm tình yêu thêm hương vị đậm đà hơn. Anh muốn em phụng phịu, làm mặt giận để anh có cớ chiều chuộng em, vì anh yêu em hơn mọi thứ trên đời: “Có một điều anh nhớ em gần chết/Nhớ như điên khùng da diết khôn nguôi/Đã ba hôm hay hơn thế mất rồi/Giận đi em để anh còn dành dỗ” (Không giận cũng buồn). Những vần thơ khi yêu thật đắm say, thổn thức, khơi mạch nguồn thơ tuôn chảy, nhen lên ngọn lửa hồng tình ái. Anh là nhà thơ giàu tình cảm, không có bạc vàng châu báu, chỉ biết nâng niu lòng thơm thảo trao em: “Anh lại viết cho em/ Những bài thơ nho nhỏ/Gói ghém vào trong đó/Chút gió, chút mây, chút hương cỏ cây” (Thơ tình). Dù cách xa nhau, nhưng anh biết giờ này em vừa mới thức dậy chải đầu soi gương, chuẩn bị đến nhà thờ dự lễ. Em hãy xưng tội giùm anh: “Chàng làm thơ yêu em/Quên trời quên đất/Quên Chúa lòng lành/Quên Phật từ bi” (Em đi xem lễ). Anh yêu em, yêu trong mộng tưởng, như lấp lánh ánh sao, là sóng biếc dạt dào, đêm từng đêm khát khao bờ môi mềm dịu ngọt: “Dù sao cũng đã một lần/ Yêu nhau mà chẳng nợ nần gì nhau” (Niệm khúc). Nhà thơ Xuân Diệu từng thở dài: “Yêu là chết ở trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu/Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết!” (Yêu). Còn nhà thơ Nguyên Bình yêu em đang độ trăng tròn, em duyên dáng đếm bước giữa sân trường rực nắng, đẹp như một bông hoa. Định bụng ngày ra trường anh sẽ thổ lộ tình yêu với em. Nhưng có ngờ đâu mẹ cha ép uổng, em đành nuốt lệ theo chồng để hồn anh giông bão. Thời gian thoi đưa, mới đó đã: “Ba mươi bảy năm cách trở, tôi về đơn lẻ một mình/Hỏi ai một câu ấp ủ/Sao xưa em phụ tình tôi” (Tìm gặp). Cõi lòng anh tan nát mà hỏi vậy thôi, chỉ để giải bày cho lòng nhẹ vơi chút nào, chứ mong chi một lời giải đáp từ em. Vì em hóa thành bóng chim tăm cá khuất bóng cuối chân trời góc bể gần bốn chục năm rồi! Tình yêu không đáp ứng được tình yêu nó cào xé, đớn đau, thương nhớ biết nhường nào!.

Tôi may mắn có dịp tiếp xúc với nhiều nhà thơ ở ba miền, mỗi người một tính cách, một giọng điệu thơ và một sự đam mê thơ khác nhau. Riêng nhà thơ Nguyên Bình chung thủy với “nàng thơ” thật mãnh liệt. Anh chủ động điều khiển các con chữ tinh anh linh hoạt phù hợp theo tứ thơ, câu thơ, bài thơ mình khai triển. Anh nắm chắc cách gieo vần các thể thơ nhằm tạo nên sự biểu đạt cao nhất. Thơ tình Nguyên Bình ngôn ngữ tinh tế, lấp lánh sự lãng mạn thanh cao. Ít có nhà thơ nào giành phần lớn viết thơ tình như nhà thơ Nguyên Bình. Mỗi bài thơ tình của anh dạt dào, nồng nàn, đắm đuối đề cao cái đẹp của tình yêu lứa đôi.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm