TIN TỨC

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-30 19:36:07
mail facebook google pos stwis
764 lượt xem

NGUYỄN XUÂN SANG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Các nhà thơ từ cổ chí kim không nhiều thì ít đều viết thơ tình, điều đó không có gì lạ; vì tâm hồn họ lãng mạn, mơ mộng, tôn thờ phái đẹp. Nhà thơ Nguyên Bình không nằm ngoài số đó. Anh viết văn làm thơ từ thời sinh viên, cả trước và sau năm 1975. Những bài thơ tình, anh không dám trao tay cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế anh yêu say đắm: Vẫn mãi “Là bài thơ còn hoài trong vở/Giữa giờ chơi mang đến lại mang về” thơ Đỗ Trung Quân.

Nhà thơ Nguyên Bình (bên trái) và Tác giả

Thơ tình Nguyên Bình đắm đuối, mê say, nồng cháy. Nay nhà thơ chậm rãi bước qua bảy mươi hai mùa lá vàng rơi, thú nhận: “Tôi yêu em đến cuồng điên/Một trăm năm nữa lụy phiền em không?” (Lụy phiền). “Em hãy dịu dàng yêu kiều thầm lặng/Tôi sẽ trao thơ đến tận muôn đời” (Sương khói). “Đã đầy đầy một vòng tay/Tròn ba vạn sáu ngàn ngày yêu em” (Đã đầy). “Thơ là sợi tóc chẻ đôi/ Em cầm một nửa cột tôi đêm ngày” (Thơ tình). Thế là đã rõ, trong cuộc đời nhà giáo - nhà thơ Nguyên Bình chỉ tôn sùng hai thứ: Thơ và Ái Tình.

Nhà thơ Nguyên Bình là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tên thật Nguyễn Bá Bỉnh, sinh năm 1953, tại thôn La Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thôn La Chữ nằm sâu bên trái đường quốc lộ 1A, cách trung tâm thành phố Huế hơn chục km về hướng Bắc; nhà thơ Nguyên Bình sinh ra và lớn lên trên mảnh đất hiếu học “bao la chữ nghĩa” ấy. Sau khi tốt nghiệp khoa địa lý, trường đại học sư phạm Huế, thầy giáo trẻ độc hành vào  phương Nam lập nghiệp.

Nhà thơ Nguyên Bình say mê “cày ải” trên “cánh đồng” chữ nghĩa không mệt mỏi, kết quả cho ra đời những tác phẩm văn học: Truyện ký “Những mùa trăng cũ”, “Tiền kiếp” thơ, năm 2019. “Hoa vàng trên áo xanh” thơ, năm 2020. “Dòng nhựa thơm nguyện ước” thơ, năm 2021. “Giấc mơ tôi” thơ, năm 2021. “Phù vân” thơ, năm 2021. “Khắc bóng thời gian” thơ, năm 2021. “Quyền năng của ngôn ngữ từ trái tim” cảm nhận văn học - tập 1, năm 2021. “Bài luân vũ của giao cảm thi ca” cảm nhận văn học - tập 2, năm 2022. “Thắp nến tôi để giành” thơ, năm 2022. “Giao cảm văn chương” cảm nhận văn học - tập 3, năm 2024. Chủ biên 2 tuyển tập thơ: “Hương mùa gió lạ”, năm 2023 (gồm 108 tác giả) và “Mở cửa mùa xuân”, năm 2025 (gồm 99 tác giả). Ngoài ra có một số tập thơ anh tự in và lưu hành nội bộ: “Thầm lặng yêu người” , “Mùa hoa giã quỳ”, “Cung đàn tình thơ”, “ nhặt nhạnh ý đời” (thơ Haiku). Nhà thơ Nguyên Bình viết thơ tình chiếm 70%, chủ yếu hoài niệm về tình yêu tuổi hoa niên; thơ Triết luận chiếm 15%, thể hiện quan niệm nhân sinh, suy tưởng về mối quan hệ xã hội; thơ Thiền khoảng 15 %, thể hiện cảm thức tôn giáo, ý thức ứng xử tinh thần. Được biết, tác giả có 100 bài thơ tình được phổ nhạc; có hơn 300 trang viết về các tập thơ, các bài thơ đã in.

Những tác phẩm văn học của nhà thơ Nguyên Bình.

Viết về đề tài tình yêu, mỗi nhà thơ có cách khai thác nhân vật trữ tình khác nhau. Nhà thơ Nguyên Bình lấy thi liệu là đối tượng nữ đang ôm cặp đến lớp với đôi tà áo dài trắng như đôi cánh bướm tinh khôi, hay người đẹp trong mộng để gây nên chất men xúc tác. Theo Bạch Cư Dị “Tình là cái gốc của thơ”. Mới mùa xuân mát mẻ, chim ca hoa nở đó, mùa hạ vội vàng tới. Khi hoa phượng đỏ thắp những chùm lửa cháy bập bùng trong sân trường, cộng với tiếng ve ngân thổn thức biết mùa hè đã đến “gieo mầm ly biệt”. Cuộc đời học trò vô tư sắp kết thúc, để chọn một con đường tương lai đang chờ phía trước: “Trang sách học trò chưa hết bâng khuâng/Em úp mặt vào trong vạt áo/Mùa cứ trôi nhuộm buồn chân sáo/Sắp hết rồi những bước tung tăng”(Mùa qua). Khi đang yêu tâm hồn ngập tràn một trời mơ ước, mang tâm trạng “rơm rớm nhớ, lưa thưa buồn”. Tình yêu của chàng trai về cô gái chưa có gì nắm bắt cụ thể, chỉ chút tình suông, vẽ mộng lên bốn bức tường lớp học, con đường xưa em qua chỉ còn lại những dấu chân mờ. Chàng thở than: “ Có ai khờ dại yêu liều như tôi/Ơi à năm tháng đầy vơi/Tôi đem phơi áo hong lời nguyện xưa” (Như chưa bao giờ). Nhà thơ Đỗ Trung Quân cũng mang tâm trạng tương tự: “Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu/ Nên có một gã khờ/Ngọng nghịu đứng làm thơ”. Nhà bác học Lê Qúi Đôn nhận định: “Thơ phát khởi từ lòng ta”, so sánh khi đọc thơ tình của Nguyên Bình quả không sai. Những bài thơ tình anh viết dạt dào cảm xúc bắt nguồn từ tâm trạng yêu đương mãnh liệt, khởi từ lòng anh nhưng không có tên nhân vật cụ thể, không có địa chỉ cụ thể, không có hoàn cảnh cụ thể, không có thời gian cụ thể và không có không gian cụ thể. Chủ thể trữ tình trong thơ anh mông lung, mờ ảo, bồng bềnh mây, lãng đãng sương, thực thực, hư hư: “Ra phố thèm nhắm mắt/ Mộng du trên vỉa hè/chạy quanh triền cơm áo/Tôi gặp tôi u mê/Chẻ đôi câu thơ đắng/Tôi đứt lìa giấc mơ/Nửa thân ôm hoang phế/Nửa hồn treo ngác ngơ” (Chẻ thơ). Hình ảnh mùa thu thật đẹp, cây trút lá vàng, thơm hương cốm mới, trăng rằm sáng tỏ, ánh nắng vàng tươi, tiếng trống trường ngân vang báo hiệu ngày khai gỉang năm học mới. Trong sắc thái mùa thu vàng dịu dàng ấy, giữa anh và em có biết bao kỷ niệm đẹp “cùng chung lối về”, “cùng thưởng thức ly chè ướp hương thề”, anh gửi ngàn câu thơ em cất giữ nêm chật trong cặp sách học trò. Vì ngại ngùng nên lời yêu em, anh chưa dám thổ lộ, để: “Mùa thu chia ly mùa thu vấn vương/Em lấy chồng xa khi tình đang chớm/Chiếc lá bơ vơ thở dài sầu muộn/Mùa thu nghẹn lòng…ta chợt mất nhau” (Thu hoang đường). Trong tình yêu, giận dỗi là chuyện thường tình, nó như chất gia vị để nêm nếm tình yêu thêm hương vị đậm đà hơn. Anh muốn em phụng phịu, làm mặt giận để anh có cớ chiều chuộng em, vì anh yêu em hơn mọi thứ trên đời: “Có một điều anh nhớ em gần chết/Nhớ như điên khùng da diết khôn nguôi/Đã ba hôm hay hơn thế mất rồi/Giận đi em để anh còn dành dỗ” (Không giận cũng buồn). Những vần thơ khi yêu thật đắm say, thổn thức, khơi mạch nguồn thơ tuôn chảy, nhen lên ngọn lửa hồng tình ái. Anh là nhà thơ giàu tình cảm, không có bạc vàng châu báu, chỉ biết nâng niu lòng thơm thảo trao em: “Anh lại viết cho em/ Những bài thơ nho nhỏ/Gói ghém vào trong đó/Chút gió, chút mây, chút hương cỏ cây” (Thơ tình). Dù cách xa nhau, nhưng anh biết giờ này em vừa mới thức dậy chải đầu soi gương, chuẩn bị đến nhà thờ dự lễ. Em hãy xưng tội giùm anh: “Chàng làm thơ yêu em/Quên trời quên đất/Quên Chúa lòng lành/Quên Phật từ bi” (Em đi xem lễ). Anh yêu em, yêu trong mộng tưởng, như lấp lánh ánh sao, là sóng biếc dạt dào, đêm từng đêm khát khao bờ môi mềm dịu ngọt: “Dù sao cũng đã một lần/ Yêu nhau mà chẳng nợ nần gì nhau” (Niệm khúc). Nhà thơ Xuân Diệu từng thở dài: “Yêu là chết ở trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu/Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết!” (Yêu). Còn nhà thơ Nguyên Bình yêu em đang độ trăng tròn, em duyên dáng đếm bước giữa sân trường rực nắng, đẹp như một bông hoa. Định bụng ngày ra trường anh sẽ thổ lộ tình yêu với em. Nhưng có ngờ đâu mẹ cha ép uổng, em đành nuốt lệ theo chồng để hồn anh giông bão. Thời gian thoi đưa, mới đó đã: “Ba mươi bảy năm cách trở, tôi về đơn lẻ một mình/Hỏi ai một câu ấp ủ/Sao xưa em phụ tình tôi” (Tìm gặp). Cõi lòng anh tan nát mà hỏi vậy thôi, chỉ để giải bày cho lòng nhẹ vơi chút nào, chứ mong chi một lời giải đáp từ em. Vì em hóa thành bóng chim tăm cá khuất bóng cuối chân trời góc bể gần bốn chục năm rồi! Tình yêu không đáp ứng được tình yêu nó cào xé, đớn đau, thương nhớ biết nhường nào!.

Tôi may mắn có dịp tiếp xúc với nhiều nhà thơ ở ba miền, mỗi người một tính cách, một giọng điệu thơ và một sự đam mê thơ khác nhau. Riêng nhà thơ Nguyên Bình chung thủy với “nàng thơ” thật mãnh liệt. Anh chủ động điều khiển các con chữ tinh anh linh hoạt phù hợp theo tứ thơ, câu thơ, bài thơ mình khai triển. Anh nắm chắc cách gieo vần các thể thơ nhằm tạo nên sự biểu đạt cao nhất. Thơ tình Nguyên Bình ngôn ngữ tinh tế, lấp lánh sự lãng mạn thanh cao. Ít có nhà thơ nào giành phần lớn viết thơ tình như nhà thơ Nguyên Bình. Mỗi bài thơ tình của anh dạt dào, nồng nàn, đắm đuối đề cao cái đẹp của tình yêu lứa đôi.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm
Bốn “khúc Nghệ” trong thơ Đinh Nho Tuấn
Tôi chọn những đơn vị thơ dài ngắn khác nhau để gọi tên và chỉ ra bốn “khúc Nghệ” khác lạ trong thơ Đinh Nho Tuấn. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, tôi càng ngấm thêm hai câu thơ viết về quê hương rất chí lý của B. Brecht: Không nơi đâu thánh thiện/ Bằng chính quê hương mình.
Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm