TIN TỨC

Thương nhớ bạn hiền Lê Văn Nghĩa…

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-07-25 17:15:41
mail facebook google pos stwis
1934 lượt xem

Nhà văn, nhà báo Lê Văn Nghĩa ra đi vào lúc dịch Covid-19 đang diễn ra nghiêm trọng (25.7.2021), khiến tôi và bạn bè, bạn đọc không thể đến viếng, tiễn biệt, chia buồn cùng gia đình của Nghĩa được!

 

Dấn thân trong phong trào học sinh Sài Gòn

Những năm 1970 thành phố Sài Gòn có một thế hệ học sinh trung học sát cánh cùng lứa đàn anh sinh viên, dấn thân vào những cuộc bãi khóa, hội thảo, xuống đường... đấu tranh đòi dân chủ học đường, đòi hòa bình, dân chủ... Thời ấy, bạn bè trang lứa như tôi và Lê Văn Nghĩa tham gia phong trào yêu nước đều ở độ tuổi 15, 17.

Trong một cuộc xuống đường vào năm 1970, tôi chợt thấy một anh chàng đi gần, dáng cao gầy, trang phục kiểu hippy thời đó: quần ống loe dài, áo màu sặc sở hình kỷ hà, dẫn đầu nhóm học sinh trường Petrus Ký (nay là Lê Hồng Phong). Chúng tôi hăng hái giơ cao tay, đồng thanh hô la những khẩu hiệu: “Trả tự do cho sinh viên học sinh (SVHS) yêu nước bị bắt vô cớ”, “Hòa bình Việt Nam, muôn năm!”…

Tôi tiến sát anh, kề tai hỏi: “Bạn tên gì? Ở trường nào vậy?”, bạn đáp gọn: “Lê Văn Nghĩa, trường Petrus Ký”. Rồi chúng tôi lại tiếp tục đi đầu đoàn biểu tình hàng trăm SVHS với những tấm biểu ngữ, băng-đơ-rôn bằng vải trắng có viết khẩu hiệu chữ màu đỏ xanh trên tay băng băng tiến bước... Cho tới khi đoàn người trẻ bị lực lượng cảnh sát dã chiến với đồng phục rằn ri màu xanh lá ngăn chận bằng những vòng dây kẽm gai cuồn cuộn, những chiếc dùi cui đập thẳng cánh vào đầu, mặt

 

 

Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Những lần gặp nhau trò chuyện tại trụ sở Tổng hội Sinh viên số 207 đường Hồng Bàng, quận 5 sau đó, Nghĩa không nói ra (do nguyên tắc giữ bí mật “ngăn cách” của tổ chức cách mạng) nhưng tôi đoán Nghĩa là một đoàn viên TNCS thuộc Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định hoạt động bên cánh học sinh trường Petrus Ký. Cách ăn mặc kiểu hippy của anh nhằm tránh bị mấy ông an ninh mật vụ để ý!

Gặp nhau tại khám Chí Hòa, Sài Gòn

Khoảng năm 1952-1962, Đài phát thanh Sài Gòn hằng ngày vang lên bài hát Xổ số kiến thiết Quốc gia qua giọng ca sang sảng của nghệ sĩ Trần Văn Trạch (1924-1994). Với mái tóc dài, giọng ca trầm ấm và phong thái biểu diễn hài hước, ông được khán giả, báo chí Sài Gòn trước 1975 phong tặng danh hiệu “quái kiệt Trần Văn Trạch” nhằm ngợi ca tài năng đa dạng. Ông là nhạc sĩ sáng tác bản nhạc này vào năm 1952 và nhiều bản khác; là hoạt náo viên, là ca sĩ kiêm diễn viên kịch nghệ, điện ảnh, là M.C. Ông còn là em ruột của giáo sư - nhạc sĩ Trần Văn Khê.

Bài hát có đoạn: “Xổ số kiến thiết Quốc gia, giúp đồng bào ta xây đắp muôn người được nên cửa nhà!/Triệu phú đến nơi, chỉ 10 đồng thôi! Mua lấy xe nhà, giàu sang mấy hồi!...”.

Đám trẻ nhỏ tinh nghịch chế lời bài hát thành: “Trúng số kiến thiết Quốc gia, lấy vợ người ta! Vô khám Chí Hòa, ở luôn tới già!...”.

Hồi nhỏ xíu , tôi từng hát lời nhạc chế này. Nhưng ai ngờ có ngày mình phải vô khám Chí Hòa “tạm trú” hơn 4 năm trời! (từ sau 1975 đến nay, khám Chí Hòa là Trại giam Chí Hòa, tọa lạc quận 10, TP.HCM).

Tôi bị cảnh sát Sài Gòn vây bắt về tội “phá rối trật tự trị an” và giải vào đây vào ngày 30.9.1971, bị giam một tháng ở Tổng nha Cảnh sát Quốc gia để tra tấn, khảo cung; Sau đó, bị giải về khám Chí Hòa , giam chung phòng với 16 sinh viên học sinh khác. Đến khoảng giữa năm 1972, Lê Văn Nghĩa bị bắt vào khám Chí Hòa giam chung phòng tập thể SVHS tranh đấu!

Quân số tù nhân SVHS - có người được trả tự do hoặc đày đi nới khác - cứ tiếp tục bổ sung tăng dần lên 20 rồi 25, rồi 45, 50... theo năm tháng, theo nhịp độ đấu tranh của phong trào thanh niên đô thị Sài Gòn và miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài 20 năm từ 1955 đến 1975.

Trong nhà tù, Nghĩa đã cùng tập thể anh em “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng gan lì chịu đựng đòn roi tra tấn; Nhưng Nghĩa kiên cường chịu đựng gian khổ và sống hòa đồng. Ít nói, thỉnh thoảng Nghĩa chỉ thốt ra vài lời hài hước, tạo nên tiếng cười, giúp anh em giảm căng thẳng trong đời sống tù đày giữa bốn bức tường nghiệt ngã...

Khoảng 2 năm sau, Lê Văn Nghĩa và một nhóm anh em bị tách ra, đày đi Côn đảo.

Những năm cùng dùi mài kinh sử ở Hà Nội

Khoảng đầu năm 1976, Nghĩa được Thành đoàn cử đi học trường Tuyên Huấn trung ương Hà Nội 4 năm, chung khóa với các anh Hoàng Đôn Nhật Tân (Sáu Triều)...

Giữa năm 1977, tôi được ông Võ Văn Kiệt - Bí thư Thành ủy - ký quyết định đặc cách cử đi học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc tại Hà Nội hệ chính quy 2 năm. Hai ngôi trường cùng tọa lạc tại huyện Từ Liêm, nên chúng tôi thường gặp nhau vào cuối tuần để dạo phố, ăn kem,uống trà tâm sự.

Tôi quen diễn viên điện ảnh Trà Giang do cùng là Đại biểu Quốc hội khóa IV (khóa Quốc hội thống nhất hai miền đầu tiên - nhiệm khóa 1976-1992). Thời đó, chị Trà Giang nổi tiếng với vai chị Dịu trong bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm lừng danh khắp nước. Chị mời tôi đến nhà chơi, ăn cơm, tôi rủ Nghĩa theo. Thế là cứ khoảng một tháng, bọn tôi lại đến thăm chị Trà Giang. Chị ở cùng chồng là anh Bích Ngọc - nhạc sĩ, giảng viên piano và bé gái Bích Trà (hiện nay là nghệ sĩ - giảng viên piano tầm quốc tế).

Thú thật, với đám lưu học sinh chúng tôi rời gia đình ở Sài Gòn, đi “du học” tận Hà Nội, chưa vợ con, thiếu thốn tình cảm gia đình, lại lâm vào thời kỳ cả nước đang rất khó khăn về cơm-áo-gạo-tiền nên mỗi khi có người quen nào - tốt bụng như chị Trà Giang - gọi tới thăm nhà, mời dùng “cơm thật”, là bọn tôi “mừng hết lớn!”.

Có lần, Nghĩa kể với tôi: “Tui làm quen với nhà văn Tô Hoài và lân la tới nhà ổng hằng tuần để học nghề viết văn. Gặp tui, ổng có vẻ ngán ngại tốn thời gian lắm! Nhưng mình 'tầm sư học đạo' thì phải lì chứ sao!”.

Điều này cho thấy, Lê Văn Nghĩa đã có chí cầm bút làm nhà văn từ những năm anh bước vào độ tuổi 30 đầy sung mãn.

Khoảng từ năm 2000, gia đình nghệ sĩ Trà Giang vào sống ở TP.HCM. Rồi anh Bích Ngọc mất sớm và người con gái - nghệ sĩ dương cầm Bích Trà thường đi giảng dạy piano ở nước ngoài. Thi thoảng con bay về Việt Nam thăm mẹ hoặc mẹ bay qua nước ngoài gặp con, nhưng do dịch Covid-19 bùng nổ, suốt cả năm hai mẹ con chưa được gặp nhau.

Chị Trà Giang sống cô quạnh, nhưng chị đã tìm niềm vui sống bằng cách học hội họa và đã vẽ khá nhiều tranh đẹp, bán được ở thị trường tranh trong nước. Nghĩa và tôi thường gặp chị uống cà phê, trò chuyện.

Khi tôi gọi điện báo chị Trà Giang Nghĩa mất, hai chị em đều nghẹn ngào khi nói về Nghĩa. Chị kể: vào đầu tháng 4.2021, chị có vào bệnh viện thăm Nghĩa. Tôi đáp: “Khi nào hết dịch, em mời chị Trà Giang và Minh Hạnh gặp nhau trò chuyện, dùng cơm. Bảo trọng sức khỏe nhe chị! Thương chị quá!”.

Thời cùng làm Báo Tuổi Trẻ

Lê Văn Nghĩa làm Báo Tuổi Trẻ từ cuối 1975 đến 2015, tổng cộng gần 40 năm. Nghĩa với vai trò Phó Tổng thư ký tòa soạn phụ trách Báo Tuổi Trẻ Cười một thời gian dài và gắn liền nghiệp viết với rất nhiều tác phẩm, đa số thể loại trào phúng, châm biếm.

Lê Văn Nghĩa đã tham gia xây dựng nhiều chuyên mục và nhân vật trào phúng được xem là “để đời” qua các bút danh Hai Cù Nèo, Đại Văn Mỗ, Thằng Hề, Điệp viên 00 thấy… Khoảng từ 10 năm trước khi qua đời, Nghĩa cật lực, miệt mài cầm bút, viết nên nhiều tác phẩm nổi tiếng về học đường Sài Gòn thời xưa và về phong cách, văn hóa người Sài Gòn xưa như cuốn Mùa hè năm Petrus, Sài Gòn khâu lại mảnh thời gian...

Vợ Nghĩa là nhà thiết kế thời trang nổi tiếng Minh Hạnh.

Mỗi lần ra tác phẩm mới, Nghĩa đều tìm cách gởi tặng tôi. Nghĩa thường gọi điện báo tôi: “Tui vừa xuất bản tác phẩm mới, muốn gặp Lê Văn Nuôi và nhà viết kịch Lê Chí Trung để ký tặng ở một quán bia, do tôi chọn”.

Thế là ba người bạn cùng họ Lê, cùng nghiệp văn chương, báo chí đã có một buổi chiều-tối gặp nhau chuyện trò tâm sự chuyện đời, chuyện nghề, bia bọt lai rai thiệt đã đời!

Không ngờ đó là lần gặp sau cùng giữa bộ ba Lê Văn Nghĩa - Lê Văn Nuôi - Lê Chí Trung! Nghĩa đã mắc bạo bệnh từ mấy năm trước đó. Đến tháng 4.2021 thì trở nặng, di căn…

Kỳ vọng các tác phẩm văn chương tài hoa và tâm huyết về đời sống văn hóa Sài Gòn xưa, về phong cách sống người Sài Gòn xưa của nhà báo, nhà văn Lê Văn Nghĩa sẽ lưu mãi trong lòng bạn đọc Sài Gòn và cả nước.

Vĩnh biệt bạn hiền, nhà báo, nhà văn Lê Văn Nghĩa!

“... Mỗi người thân một vẻ đáng yêu

Từ cái tên cầu kỳ hay mộc mạc

Từ một giọng cười, một bài ca hay hát

Đều cắm sâu vào nỗi bồi hồi!

Đều nhẹ nở những đóa hương trong máu

Dù mấy phương trời cách biệt xa xôi...”

Trích bài thơ Dù mấy trời cách biệt

Lê Văn Nuôi viết năm 1972.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm
Viết cho tuổi hai mươi: giữa chênh vênh và hoài bão – Tản văn Phạm Phúc Vinh
“Tuổi hai mươi giống như một cơn mưa rào mùa hạ. Người ta vừa sợ ướt áo, lại vừa muốn đằm mình vào cái mát lạnh của đất trời. Chênh vênh đó, nhưng cũng rực rỡ vô cùng.”
Xem thêm
Thấy gì sau những chiếc xe hút đinh tự nguyện – Tạp bút Trần Đôn
Trong dòng chảy hối hả của giao thông đô thị, đôi khi ta bắt gặp hình ảnh những chiếc xe tự chế gắn thanh nam châm miệt mài rà sát mặt đường để “giải cứu” người đi đường khỏi nạn “đinh tặc”. Hình ảnh ấy đã trở nên quen thuộc ở nhiều nơi.
Xem thêm
Sắc hoa tháng Ba ở Điện Biên - Tản văn Phan Anh
Thời bây giờ, hoa ban không còn là loài hoa độc quyền của Tây Bắc nữa. Người ta đã nhân giống và đưa cây ban về trồng ở khắp mọi nơi. Chỉ riêng ở Hà Nội, cứ mỗi độ xuân về, trong hơi ấm của nắng mới tháng ba, trên đường Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Thanh Niên, Bắc Sơn, công viên Cầu Giấy, hồ Gươm, hồ Thiền Quang, hồ Tân Xã … người ta thấy nàng công chúa của xứ sở Tây Bắc tưng bừng bung nở trên các vòm cây, đua nhau khoe sắc ngập trời, rồi thoang thoảng gửi hương vào trong không gian êm dịu của mùa xuân; khiến cho chị em không khỏi xốn xang, quên cả cái tiết trời còn chưa hết gió lạnh lẫn mưa bụi mà nô nức sửa soạn áo váy, rủ nhau đi sống ảo làm cho phố phường những nơi ấy cũng trở nên vui tươi, náo nhiệt.
Xem thêm
​Đám rau mùi già tháng Giêng của mẹ - Tạp bút Lê Thị Hiệp
Là một người rất thích rau mùi(người miền Nam gọi là ngò rí) nên mẹ tôi ngay từ lúc còn trẻ cho tận tới nay khi đã về già, bà vẫn luôn duy trì thói quen gieo trồng loại rau gia vị cực kỳ ngon và có mùi thơm vô cùng hấp dẫn này. Mẹ tôi kể rằng, từ khi lấy bố về làm dâu nhà ông bà nội tôi, thì mảnh vườn sau nhà rộng rãi, dẫu có trồng loại rau gì đi chăng nữa thì mẹ vẫn luôn dành ra một khoảng đất màu mỡ gần ngay khu vực cầu ao để gieo trồng rau mùi.
Xem thêm
Chân Mây 3 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Anh kể: Một hôm đang trong cơn tuyệt vọng. Anh cố gượng dậy cho mấy con cá nhỏ trong bể ăn. Bỗng nhiên anh thấy viên cuội lấp lánh đáy bể và chợt nhớ ra. Hôm ở đảo Hòn Dáu anh có nhặt một viên cuội ở bãi biển. Viên cuội vân hoa nhiều màu rất đẹp nhưng nhỏ chỉ bằng ngón chân cái. Mang về anh thả viên cuội vào bể cá và quên.
Xem thêm
Lặng lẽ Tết – Tản văn Lê Trọng Bình
Sau 45 năm đằng đẵng Tết Nam, lần đầu tiên được về quê ăn Tết, cảm giác của tôi như được “chào đời không tiếng khóc” nơi quê cha đất tổ, bởi sinh tôi ra chưa được cái Tết nào thì gia đình đã Nam tiến. Thường thì tâm lý người xa quê đoàn tụ sẽ vui lắm, nhưng trong tôi thì khác hoàn toàn bởi những cung bậc đầu tiên ấy.
Xem thêm
Tình mẫu tử - Trần Thế Tuyển
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Văn chương TP.HCM giới thiệu tản văn “Tình mẫu tử” của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển: một câu chuyện giản dị mà xúc động về tình mẹ.
Xem thêm
Tuổi thơ tôi - Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Có những ký ức tưởng như đã ngủ yên trong quá khứ, nhưng chỉ cần một buổi chiều lặng gió, một mùi hương quen bất chợt thoảng qua, chúng lại trở về nguyên vẹn. Khi ấy, tuổi thơ hiện lên trong tôi như một thước phim cũ – chậm rãi, trong trẻo mà thấm đẫm những rung động rất sâu của một đời người.
Xem thêm