TIN TỨC

Tiếng nói giàu trực cảm từ “Phút bù giờ”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-11 20:41:27
mail facebook google pos stwis
3622 lượt xem

HOÀNG THỤY ANH

Cầm trên tay tập thơ “Phút bù giờ”, tôi thấy Minh Đan rất “đặc biệt” trong cách đặt nhan đề. Trước đây là “Phút 89”, hiện tại là “Phút bù giờ”. “Phút 89” là nước rút rồi. Vậy “Phút bù giờ”, Minh Đan có gì mới? Có lật được tình huống mà chị đã từng thử thách mình không?

“Phút bù giờ” có 5 phần: Khâu múi nhớ, Phố trôi, Ghi chép vụn vặt mùa covid, Nước mắt xé trời, Lương tâm cô đơn. Từ những bi kịch, day dứt bên trong đến những éo le, khổ ải của cuộc thế đều dự phần làm nên chất thơ riêng của Minh Đan. Chị lặn sâu vào con chữ, lặn sâu vào thăm thẳm bể đời, không phải tham vọng chứng minh sự hiện diện của một chủ thể đa bản ngã mà chỉ mong đủ “hát khẽ cho riêng mình nghe”. Vì thế, thơ như là những lời tâm tình thủ thỉ. Mạch cảm xúc nối tiếp nhau hình thành nên kết cấu tự sự, kể chuyện, trần tình.

1. Người phụ nữ thể nghiệm với chính mình

Trước hết, thơ Minh Đan là tiếng nói riêng tư với những trạng thái, cảm xúc chông chênh, đầy mâu thuẫn, nhưng dám nói, dám thổ lộ, dám đấu tranh cho khát vọng tình yêu cũng như những nhu cầu hết sức bản năng của bất cứ người phụ nữ nào. Người phụ nữ trong thơ chị luôn sẵn sàng đi đến tột cùng bản thể dẫu phải trả giá mấy trăm lần khổ đau, dẫu phải nhọc nhằn tự khâu vá những vết thương, bởi một lý do hết sức táo bạo: sự thể nghiệm. Không chỉ thể nghiệm ở sự chia li, bị dối lừa mà còn thể nghiệm bằng chính thân xác của mình trong trò chơi của đàn ông. Người đàn bà thơ chị không giấu nhẹm nỗi đau, nỗi cô đơn, ngược lại, phản ứng/kháng, chấp nhận đối mặt để tự làm một cuộc thể nghiệm với chính mình. Bản nguyên nữ, do đó, khẳng định căn cước nổi loạn thơ chị: “bao lần khiêu vũ trong mưa/ tự nâng bước mình qua ngày giông gió/ thăng hoa với cô đơn” (em đàn bà… không cần tình nhân). Và cái nhân vị nữ giới thơ chị trọn vẹn hơn khi quăng quật trong vô biên nỗi đau: “cô đơn đóng khung chật cứng”, “đêm giăng đầy tim em”, “đếm tháng ngày méo tròn dằng dặc”.

2. Người phụ nữ với nỗi đau đời

Thơ Minh Đan giàu chất thế sự. 4 phần còn lại thể hiện rất rõ những tình cảm, suy tư của chị về thân phận của trẻ em đường phố, về những tháng ngày trong vòng vây của dịch bệnh, về nước mắt xé trời miền Trung, về thân phận con người,… Âm sắc nữ quyền vẫn là chủ âm của các phần này. Ý thức phái tính thể hiện rõ qua cái tôi tự thuật giàu cảm xúc. Hay nói cách khác, những câu chuyện tự thuật đều được soi ngắm từ bên trong, từ tiếng lòng đầy yêu thương, trắc ẩn của chị. Trước những mảnh đời nhọc nhằn, trái tim chị không thôi thổn thức, bao la, rộng mở, thánh thiện: “bác sỹ thẩm mỹ bó tay/ ý nghĩ trong tôi gai nhú:/ ‘có phép thần tiên nào hóa tất cả thành cao lương?// để tôi thết đãi những đứa trẻ bên đường" (mảnh vỡ). Những sẻ chia, đồng cảm, thấu hiểu không cầu kì, màu mè, tấc lòng ấm áp thế nào thì cứ thế chảy ra. Có lẽ vì thế, ở bài thơ nào, cảm xúc của chị cũng trào dâng, cháy trên từng câu chữ. Giọng điệu vừa dịu dàng vừa mạnh mẽ, vừa bao dung vừa riết róng, vừa sâu sắc vừa quyết liệt, xác tín một cái tôi nữ giới bản lĩnh, chân thành, giàu trực cảm cho “Phút bù giờ”.

Như vậy, phút bù giờ mà chị đặt nhan đề cho tập thơ chính là muốn nói đến những khoảnh khắc tột cùng hết lòng với bản thể, với đời. Nếu cuộc đời cho chúng ta những giây phút bù giờ quý giá thì hãy tận dụng nó để tỏa sáng, để được là chính mình. Bởi, chỉ trong sự chật hẹp, thúc bách mới thấy được giá trị thẳm sâu của nỗi đau, sức mạnh của vết thương. Và khoảnh khắc ấy đã mang đến cho chị sự tự tin và lòng kiêu hãnh hết sức nhân bản: “điều hạnh phúc nhất là/ giữ được tiếng Người/ vươn thẳng mà đi” (ý niệm).

Minh Đan bộc bạch, chọn nghiệp bút nghiên đó là nghiệp trời đày. Mà xưa nay, thơ đày thì phải đày đến kiệt cùng mới đã đành! Nhưng nhờ thế, chúng ta mới có được những câu thơ day dứt viết từ sức ép của phút bù giờ, “viết từ dòng máu nóng”.

Quả thật, Minh Đan đã “cứa máu mình chỉ để thơ rơi”.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm