TIN TỨC

Trần Nguyệt Ánh – Người ký họa chân dung Tây Nguyên bằng thơ 1- 2- 3

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-05-04 00:29:41
mail facebook google pos stwis
2882 lượt xem

    (Đọc “Vọng núi” (Thơ Trần Nguyệt Ánh – NXB Hội nhà văn , 2022)

Trần Nguyệt Ánh, tên thật là Trần Thị Nguyệt Ánh, quê gốc Thái Bình, hiện đang là giáo viên ở Trường Dân tộc nội trú thị xã Buôn Hồ (Đắk Lắk), hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk. Tác phẩm đã xuất bản: “Gọi về miền nhớ” (thơ - NXB Hội Nhà văn, 2019; “Miền gió say” (NXB Hội Nhà văn, 2021); “Vọng núi” là tập thơ thứ 3 (NXB Hội Nhà văn, 2022). Đây là tập thơ 1-2-3 khá mới lạ. Một dạng thơ chỉ xuất hiện trong vài ba năm trở lại đây. Trang Văn học Sài Gòn đã và đang có cuộc thi thơ 1-2-3 gây sự chú ý và thu hút được nhiều nhà thơ muốn khám phá, thử sức mình. Trần Nguyệt Ánh là một hạt nhân tích cực trong số đó, tháng 7/2021, chị đã nhận được giải thưởng cuộc thi thơ này.

Tác giả Trần Nguyệt Ánh

Tôi khá bất ngờ với thể thơ này! Càng bất ngờ hơn sau khi đọc hết tập bản thảo “Vọng núi”, với 123 bài thơ 1-2-3 của Trần Nguyệt Ánh, tôi nhận thấy như có một ma lực cuốn hút từ tập thơ này. Mỗi bài như một phác thảo, như một bức kí họa bằng thơ. Ở đó, bản chất, mảnh đất, tình yêu, tình người được nhà thơ Nguyệt Ánh chấm phá, tưởng như rất nhanh, nhưng những nhát cọ về một Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ lại hiện lên với khuôn mặt khá thần thái, cá tính, hoang sơ, bình dị, và ẩn chứa nội lực tiềm tàng.

Bản hòa tấu cồng chiêng vút lên/ Âm thanh cuộn trào từ dòng Sê Rê Pốk/ Bật ra từ những cánh rừng già/ Bung lên từ lòng đất ba zan/ Tiếng của núi sông, hòa âm vào hồn dân tộc/ Bên nhà rông, lễ thổi tai cho một sinh linh chào đời”.

Thơ 1-2-3 của Trần Nguyệt Ánh không đi sâu vào đặc tả sự vật  hiện tượng, tất cả như khái quát, như dàn ý của bài tập làm văn. Ở đó, khơi gợi khi nói về Tây Nguyên, người ta không thể không nhắc đến cồng, chiêng; đó là tiếng nói tâm linh của người dân bản địa với Yang (trời - đất), cầu bình an và mùa màng bội thu; người ta không thể quên sức mạnh sục sôi của con sông Sê rê pốc, có mạch nguồn trong sâu thẳm từ rừng già, từ trong mạch ngầm đất đỏ ba zan... Ở đó, trong ngôi nhà rông, lễ thổi tai cho một sinh linh chào đời, để tất cả như thấy một Tây Nguyên hoang sơ, dữ dội luôn được kế thừa và những mầm non được sinh ra và lớn lên mạnh mẽ. Những mầm non của đại ngàn được thai nghén, tôi luyện trong khí trời, âm thanh cồng chiêng, của sông cha, sông mẹ, có khi, nguồn cơn từ ánh mắt.

    “Ánh mắt mẹ sáng bừng trang cổ tích/ Soi cho con thoát kiếp nhọc nhằn/ Bàn tay mẹ chai sần vất vả/ Dắt con qua vùng lam lũ mưu sinh/ Hạt hạnh phúc mẹ gieo trồng ý thức/ Ngát đời con hoa thắm ân tình”.

Từ ánh mắt mẹ soi sáng, dẫn dắt con đi từ cổ tích bước ra đời thật, với bàn tay lao động chai sần, vất vả, cuộc sống làm lũ mưu sinh, để câu kết ... “Ngát đời con hoa thắm ân tình” là một câu chuyện dài về cuộc đời, và một cái kết đầy nhân nghĩa. Mẹ luôn chấp nhận mọi gian khó, hy sinh để đời con tươi sáng trong một thế giới ngát hương hoa ân tình. Vẻ đẹp truyền thống, cốt cách của mảnh đất, con người, đặc biệt là hình ảnh người mẹ Tây Nguyên truyền lửa cho con được đúc kết sáng ở thì tương lai, có giá trị nhân văn và trường tồn vĩnh cửu. Những sinh linh của đại ngàn vừa chào đời ấy lại được được mẹ, cha, thụ phấn, ươm mầm trong lao khổ nhưng đầy tình yêu thương... để bức tranh mẹ vẽ tương lai con bừng sáng, rộng mở.

    “Ươm mầm xanh tỉa xới vun trồng/ Mẹ thai nghén cả mùa gieo hạt/ Cha thụ phấn cánh đồng ngô cuối vụ/ Giọt yêu thương ngấm mặn đất khô cằn/ Bờ vai nhỏ oằn cong miền ký ức/ Từ cánh đồng con thẳng bước phía trời xa”.

      Hình ảnh Tây Nguyên, đôi khi chỉ là khung cửi ngày xưa ngủ quên trên gác bếp, đôi khi là chiếc gùi trên lưng lên rẫy, làm nương, với những củ sắn, đọt khoai, quả bắp, níu vịn với người đi qua nghèo đói, vào thơ Trần Nguyệt Ánh cũng hiện lên một hình ảnh Tây Nguyên tươi đẹp, đậm chất truyền thống:

 “Gùi tre, ta vịn vào em cùng nhau nương náu/ Đồng hành giữa nhịp sống muôn màu tràn hương sắc/ Củ sắn, đọt khoai, củi khô, quả bắp/ Dìu nhau vượt qua cái đói nghèo/ Ta vịn vào em thấy cuộc sống đẹp tươi/ Em trên lưng cho nét dân tộc sáng ngời huyền thoại”.

      Nhà thơ Trần Nguyệt Ánh, một giáo viên với hơn 20 năm trên bục giảng. Chị thường xuyên tiếp xúc với số đông con em các dân tộc thiểu số, thấu hiểu sâu sắc những khó khăn vất vả và những thiếu thốn các em cần bù đắp, những giấc mơ ngủ vùi cần được khai sáng. Tập thơ “Vọng núi” của chị như tiếng vọng thời gian, hướng con người về cội nguồn, gốc rễ với những giá trị nhân văn sâu lắng, từ đó thắp sáng ước mơ, khát vọng của mỗi người.

Tiếng đàn Chapi đi tìm giấc mơ/ Theo ngọn gió vút cao đỉnh núi/ Mơ hạt lúa đầy bồ, hạt cà phê tròn mẩy/ Ché rượu cần ngọt thơm mùi nếp rẫy/ Ánh mắt Tây Nguyên nồng ấm ân tình/ Giấc mơ nảy mầm từ đất cổ bazan!

Từ những giấc mơ nhỏ nhoi, mơ lúa đầy bồ, hạt cà phê tròn mẩy, những “Giấc mơ nảy mầm từ đất cổ bazan”... là giấc mơ của mảnh đất, con người Tây nguyên. Cả những giấc mơ của con trẻ, cho dù phải đi qua năm nắng mười mưa, những mùa giáp hạt đói khát, vẫn luôn được nuôi dưỡng bằng ánh mắt ân tình của cha, của mẹ. Và cho dù “Tấm lưng mẹ uốn cong cả hoàng hôn” để đời con bước ra ánh sáng, được sống trong thơm thảo nghĩa tình.

Ngày đã cạn/ Thu trôi trên cánh đồng giáp hạt/ Tuổi thơ con lấm lem mùi rơm rạ/ Chiều nay bão chạy dọc cánh đồng/ Tấm lưng mẹ uốn cong cả hoàng hôn/ Tảo tần ngược xuôi cho đời con thơm thảo!”.

Hình ảnh “Tấm lưng mẹ uốn cong cả hoàng hôn” là một hình ảnh rất thơ, là một điểm sáng trong tập. Ta thấy hình ảnh người mẹ lưng còng cõng nắng, được ví von lưng mẹ uốn cong cả hoàng hôn. Nhà thơ Trần Nguyệt Ánh sử dụng biện pháp ẩn dụ nhân hóa ca ngợi đức hi sinh lớn lao của người mẹ. Một bức tranh nghệ thuật khơi gợi tư duy hình tượng, không chỉ riêng tạc vào trời đất hình ảnh người mẹ Tây Nguyên mà là người mẹ chung, người mẹ đất nước vĩ đại có giá trị xuyên thời gian. Nơi ấy, những đứa con được sinh ra, lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha, mẹ, được tắm gội trong dòng sông nhân nghĩa, chan chứa ân tình, những đứa con ấy, hơn ai hết cũng cảm nhận sâu sắc công cha, nghĩa mẹ tận sâu thẳm trái tim mình.

Chiều bên dòng Krông A Na/ Con dựa vào lòng sông mẹ/ Lắng nghe nước chạy dọc tim mình/ Dòng sông tình yêu từ lòng Cư Yang Sin bất tận/ Cùng hòa nhập vào dòng sông cha/ Dáng mẹ hiền hòa”.

 Từ đó: “Con tự vẽ cho mình một đường bay/ Vẫy vùng trên bầu trời nhân nghĩa/ Cất cánh với ước mơ rộng mở...

Tập thơ Vọng núi của nhà thơ Trần Nguyệt Ánh là đứa con tinh thần thứ ba và là tập thơ đầu tiên viết theo thể thơ 1-2-3, chắc chắn cần lắm sự đầu tư, nghiên cứu, thẩm định của các nhà chuyên môn. Tôi là một người yêu thơ chỉ đọc, cảm nhận, nhìn tập thơ ở một góc nhỏ, còn nhiều bài thơ trong tập viết về muôn mặt cuộc đời sinh động, cảm động và lôi cuốn... Bên cạnh những mặt nổi trội như đã nói, ở tập thơ này có cảm giác nhiều bài vẫn nặng về tả, câu thơ còn thô, chưa được mềm mại. Tôi cho rằng, dù là thơ gì đi chăng nữa, thì lời lẽ, ngôn ngữ thơ phải đẹp, phải có nhạc tính, có thi ảnh, khơi gợi trí tưởng tượng và lôi cuốn người đọc. Dù sao cũng là một bước đột phá táo bạo của nhà thơ Trần Nguyệt Ánh. Tôi xin trích nguyên văn những trao đổi, suy nghĩ của chính tác giả tập thơ, để mọi người có thêm sự đồng cảm, và có thêm những ý kiến đóng góp cho nhà thơ Trần Nguyệt Ánh có thêm động lực, niềm tin, theo đuổi và thành công hơn ở những tập tiếp theo:

Để đi đến quyết định in tập thơ Vọng núi, tôi muốn “đổi mới” mình. Tôi rất vinh dự là một trong những người đầu tiên góp tiếng nói của mình, muốn đi sâu khám phá bản sắc văn hoá, phong tục của người Tây nguyên thể nghiệm ở loại hình thơ mới mẻ, đầy sức hấp dẫn này! Điều mà một cây bút mới như tôi vẫn đang trên con đường tìm kiếm phong cách cho riêng mình. Tôi mong đón nhận nhiều sự góp ý và hi vọng sau tập “Vọng núi”, bạn đọc sẽ được đón đọc nhiều hơn nữa về thơ 1-2-3”của tôi, cũng như của nhiều nhà thơ trên cả nước”.

                                              Trương Nhất Vương

                                        (Hội VHNT tỉnh Đak Lak)

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm