TIN TỨC

Trương Nam Hương Tạ ơn Hà Nội trọn đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-21 21:21:15
mail facebook google pos stwis
1776 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Mặt hồ giữa phố như nghiên mực / Sông thảo hoa văn một nét rồng / Hoa sữa thơm nồng lên giấy điệp / Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”. Chỉ với bốn câu thơ trong bài tứ tuyệt Bốn nét phác Hà Nội, Trương Nam Hương đã cho thấy sự khác biệt của một tài thơ.

Rủ nhau thăm cảnh Kiếm hồ / Thăm cầu Thê Húc, thăm chùa Ngọc Sơn / Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn /Vì ai gây dựng nên non nước này”, (ca dao). Hồ Gươm, không chỉ là “lẵng hoa” giữa lòng Hà Nội, mà còn ôm vào mình biết bao huyền sử. Quần thể di tích hiện hữu cùng năm tháng minh chứng cho “kho báu” thiêng liêng ấy.

Trước khi vào Đền Ngọc Sơn (lúc đầu gọi là chùa, trên đảo Ngọc), ai chưa từng để ý tòa tháp ấy? Dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng ẩn dụ hoài bão lớn lao: “Tả Thanh thiên”, tức Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Ngọc Bội (tên cũ là núi Độc Tôn), bên hồ Hoàn Kiếm.


Nhà thơ Trương Nam Hương.

Trương Nam Hương tưởng tưởng ra Hồ Gươm như một “nghiên mực”. Đã có bút thì phải có mực mới viết được. Có hiểu bối cảnh lịch sử lúc cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (thường gọi là Thần Siêu), xây dựng vào năm 864 mới thấm ý nghĩa người xưa gửi gắm. Đó là khí phách Hà Nội.

Và nữa, đó là sông Hồng, với huyền sử Rồng bay lên. Hoa sữa – một thời là một trong những loài hoa đại diện cho tình yêu, đã đi vào bài hát Hoa Sữa của nhạc sỹ Hồng Đăng. Hà Nội là thơ, là âm nhạc, là hội họa, “Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”.

Viết về Hà Nội không dễ, viết ngắn về Hà Nội càng khó và để “nằm lòng” cùng thời gian, càng cực khó. Cố nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh từng nhắc đến yếu tố “may mắn” khi sáng tạo là ở điểm này. Thấu cảm Hà Nội và với tài thơ của mình, nhà thơ Trương Nam Hương mới có được thi phẩm Bốn nét phác Hà Nội.

***

Trương Nam Hương có bố người Huế, mẹ Bắc Ninh, tuổi thơ gắn bó với Hà Nội. Sau thời gian ngắn ở Huế, Biên Hòa, gia đình ông định cư tại TP. Hồ Chí Minh: “Ruổi rong khắp bốn phương trời/ Câu thơ hành khất theo người hành hương/ Ta gom nhặt giữa đời thường/ Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha”, (Câu thơ ngày về).

Do vậy, trong thơ Trương Nam Hương có ngọt ngào Kinh Bắc; thâm trầm cố đô Huế; hào hoa, thanh lịch Hà Nội; hào sảng, cưu mang của đất phương Nam. “Trong tôi có chút sâu đằm / của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô / sông Hồng hắt đỏ lên thơ / tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang”, (Gửi hai dòng sông quê).

Trương Nam Hương “thờ phụng” Hà Nội như thờ phụng một linh hồn. Trương Nam Hương viết khá nhiều về Hà Nội, tình cảm, tâm thế của ông thuộc về Hà Nội. Có thể kể đến Trăng phố, Hà Nội một thời, Mùa xanh, Hà Nội anh về, Viết ở Nghi Tàm, Rơm rạ một thời tôi, Lộc vừng Hồ Gươm, Với sông Hồng, Ký ức phố, Góc nhớ Hà Nội...Có thể nói, Hà Nội “ám ảnh” trong tâm hồn thơ ông.

Trương Nam Hương sống ở Hà Nội vào thời kỳ đất nước chưa thống nhất, cuộc sống biết bao gian khó: “Một thời Hà Nội lo toan/ Gạo ngô thì thiếu, hoa xoan lại thừa/ Một thời. Ôi, một - thời – xưa/ Áo phong phanh gió bốn mùa buồn vui”, (Hà Nội một thời)

Nhưng ta vẫn gặp một Hà Nội bình yên, thân thương và rộng lượng. “Nhớ Hà Nội những đêm báo động / Mặc bom rung dế vẫn gáy trong hầm / Hoa sữa còn thơm, biết mình còn sống / Mẹ khóc thầm trong giá rét căm căm”, (Thành phố tuổi thơ tôi).


Ảnh tàu điện giữa phố phường Hà Nội của nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Đức Thomas Billhardt. Nguồn: Internet

Đến bây giờ Trương Nam Hương vẫn chưa quên những niềm vui trẻ con, chọc bàng chín, nhảy tàu điện ra Bờ Hồ xem chợ Tết, dỏng tai nghe hát xẩm....Đó là một phần ký ức.

Những quả sấu giòn rơi trưa tháng sáu
Hà Nội ơi nhớ quá tuổi lên mười
Ta nhón nhẩy bước cào cào châu chấu
Suối ve trào vòm phượng - nắp vung sôi

(Thành phố tuổi thơ)

Năm 1985, Trương Nam Hương trở lại Hà Nội lần đầu, anh xúc động: “Anh xa đất Bắc mười năm / Tay em Hà Nội xin cầm hơi lâu / Hỏi mùa hoa sữa đi đâu / Câu thơ ngồi khóc, mắt nâu lại buồn”, (Chiều Hà Nội và em). Và thổn thức: “Ly kem Thủy Tạ mười năm trước / Còn mãi thơm tho đến tận giờ / Anh đứng bên kia cầu Thê Húc / Nhìn áo em hồng nắng lấp lơ… “, (Nhớ mùa Đông Hà Nội).

Người ta đã từng tổ chức rất nhiều triểm lãm về Hà Nội, như “Triển lãm Hà Nội những năm đầu thế kỷ 19” (năm 2018), “Hoài niệm Hà Nội phố” (năm 2018), “Xưa và Nay, đổi thay đường phố Hà Nội” (năm 2023)....; đặc biệt, các triển lãm “Thương nhớ thời bao cấp" (năm 2018), "Ký ức Hà Nội" (năm 2018), “Hà Nội 1972 – Khát vọng hòa bình” (năm 2022), "Hà Nội 1967 - 1975" (năm 2023 của nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Billhardt)... Tất cả những hình ảnh đó có trong bài thơ Hà Nội một thời của Trương Nam Hương.
...
Một thời Hà Nội hiên ngang
Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi
Một thời Hà Nội cùng tôi
Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường

Một thời Hà Nội thảo thương
Sẻ chia lát đậu, thìa đường, mớ rau
Một thời Hà Nội buốt đau
Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang

(Hà Nội một thời)

Đó là một thời lung liêng trong tâm hồn thơ Trương Nam Hương. Ông sống cùng gian khó mà tự hào, kiêu hãnh...Đến bây giờ, Trương Nam Hương vẫn “Tạ ơn Hà Nội trọn đời / Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”, (Hà Nội một thời). “Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi / Phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quyệt/ Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết/ Có sông và đời mẹ ở bên trong”, (Với sông Hồng).


"Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi", thơ Trương Nam Hương

Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây... có vị trí “đặc biệt” trong thơ Trương Nam Hương; đó là không gian nghệ thuật trong thơ ông. Nhìn sương khói Hồ Hoàn Kiếm ông lặng nhớ về tuổi thơ, về mẹ của mình: “Nhớ lặng thầm thôi không dám gọi/ Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi/ Bao nhiêu sợi trắng dâng như khói/ thảng mặt Hồ Gươm lạnh bốc hơi”, (Nhớ mùa Đông Hà Nội). Và ông bồi hồi: “Anh ra đền Ngọc Sơn ngồi/ Là si lựa chỗ không người để gieo”, (Viết ở Hồ Gươm).

Hồ Gươm hiện lên trong thơ ông với một lời mời: “Lên cầu Thê Húc đi em / Nhớ thăm thẳm nhớ một đêm gió lùa / Rễ si rét đến run mùa / Môi em đào nụ giao thừa - Mùa Xuân”, (Lời mời đêm giao thừa).

Còn đây là những câu thơ tình anh viết ở Hồ Tây: “Bao tình nhân đến Hồ Tây / Khéo thôi kẻo dẫm dấu giày anh xưa/ Áo lưng lửng lẳn eo mùa / Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây”, (Trăng phố). “Mùa hư ảo hay tình em ảo thế/ Anh xoay ngang khẽ chạm sóng Tây Hồ/ Có ánh mắt nhìn anh qua thế kỷ/ Thấy anh giờ dắt nhớ tuổi anh xưa!”, (Góc nhớ Hà Nội).

***

Tài thơ Trương Nam Hương bộc lộ từ sớm. Khi mới ngoài 20 tuổi Trương Nam Hương đã xuất bản Khúc hát người xa xứ, (NXB Trẻ, 1990) và cho đến nay ông đã có 12 tác phẩm. Về thành tựu, Trương Nam Hương đã có 10 giải thưởng; giải nào cũng danh giá, nhưng phải kể đến Giải thưởng Văn nghệ Quân đội (1989-1990) và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, (năm 1991), nhiều giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và các giải thưởng khác.

Về đề tài Hà Nội, ông đã đạt Giải Nhất Cuộc thi thơ Thăng Long - Hà Nội, trái tim tôi, của báo Sài Gòn Giải phóng (năm 2010), nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Có thể nói thế này, nếu thi ca là một “tôn giáo” thì Trương Nam Hương từ lâu đã được chọn là một tông đồ. Ngoài thơ và dịch thơ, ông không “sân si” một lĩnh vực nào khác. Dẫu “thế giới xô lệch” và văn chương đang “bươn bả” với nhiều xu hướng, phong cách nhưng Trương Nam Hương vẫn vậy, bình thản, thánh thiện. Ông tiếp tục sáng tạo thi ca những gì thuộc về nhân bản.

Nhớ xưa Hà Nội anh về/ Gặp Thu môi cốm váy xòe heo may”, (Hà Nội anh về). Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Khi tôi viết những dòng này, Hà Nội vào Thu. Dù tròn “lục thập hoa giáp” nhưng trái tim Trương Nam Hương vẫn dào dạt, trẻ trung lắm. Hà Nội vẫn chờ Hương đấy!

Nguồn: https://vlr.vn/truong-nam-huong-ta-on-ha-noi-tron-doi

Bài viết liên quan

Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm