TIN TỨC

Trương Nam Hương Tạ ơn Hà Nội trọn đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-21 21:21:15
mail facebook google pos stwis
2153 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

“Mặt hồ giữa phố như nghiên mực / Sông thảo hoa văn một nét rồng / Hoa sữa thơm nồng lên giấy điệp / Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”. Chỉ với bốn câu thơ trong bài tứ tuyệt Bốn nét phác Hà Nội, Trương Nam Hương đã cho thấy sự khác biệt của một tài thơ.

“Rủ nhau thăm cảnh Kiếm hồ / Thăm cầu Thê Húc, thăm chùa Ngọc Sơn / Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn /Vì ai gây dựng nên non nước này”, (ca dao). Hồ Gươm, không chỉ là “lẵng hoa” giữa lòng Hà Nội, mà còn ôm vào mình biết bao huyền sử. Quần thể di tích hiện hữu cùng năm tháng minh chứng cho “kho báu” thiêng liêng ấy.

Trước khi vào Đền Ngọc Sơn (lúc đầu gọi là chùa, trên đảo Ngọc), ai chưa từng để ý tòa tháp ấy? Dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng ẩn dụ hoài bão lớn lao: “Tả Thanh thiên”, tức Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Ngọc Bội (tên cũ là núi Độc Tôn), bên hồ Hoàn Kiếm.


Nhà thơ Trương Nam Hương.

Trương Nam Hương tưởng tưởng ra Hồ Gươm như một “nghiên mực”. Đã có bút thì phải có mực mới viết được. Có hiểu bối cảnh lịch sử lúc cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (thường gọi là Thần Siêu), xây dựng vào năm 864 mới thấm ý nghĩa người xưa gửi gắm. Đó là khí phách Hà Nội.

Và nữa, đó là sông Hồng, với huyền sử Rồng bay lên. Hoa sữa – một thời là một trong những loài hoa đại diện cho tình yêu, đã đi vào bài hát Hoa Sữa của nhạc sỹ Hồng Đăng. Hà Nội là thơ, là âm nhạc, là hội họa, “Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”.

Viết về Hà Nội không dễ, viết ngắn về Hà Nội càng khó và để “nằm lòng” cùng thời gian, càng cực khó. Cố nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh từng nhắc đến yếu tố “may mắn” khi sáng tạo là ở điểm này. Thấu cảm Hà Nội và với tài thơ của mình, nhà thơ Trương Nam Hương mới có được thi phẩm Bốn nét phác Hà Nội.

***

Trương Nam Hương có bố người Huế, mẹ Bắc Ninh, tuổi thơ gắn bó với Hà Nội. Sau thời gian ngắn ở Huế, Biên Hòa, gia đình ông định cư tại TP. Hồ Chí Minh: “Ruổi rong khắp bốn phương trời/ Câu thơ hành khất theo người hành hương/ Ta gom nhặt giữa đời thường/ Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha”, (Câu thơ ngày về).

Do vậy, trong thơ Trương Nam Hương có ngọt ngào Kinh Bắc; thâm trầm cố đô Huế; hào hoa, thanh lịch Hà Nội; hào sảng, cưu mang của đất phương Nam. “Trong tôi có chút sâu đằm / của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô / sông Hồng hắt đỏ lên thơ / tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang”, (Gửi hai dòng sông quê).

Trương Nam Hương “thờ phụng” Hà Nội như thờ phụng một linh hồn. Trương Nam Hương viết khá nhiều về Hà Nội, tình cảm, tâm thế của ông thuộc về Hà Nội. Có thể kể đến Trăng phố, Hà Nội một thời, Mùa xanh, Hà Nội anh về, Viết ở Nghi Tàm, Rơm rạ một thời tôi, Lộc vừng Hồ Gươm, Với sông Hồng, Ký ức phố, Góc nhớ Hà Nội...Có thể nói, Hà Nội “ám ảnh” trong tâm hồn thơ ông.

Trương Nam Hương sống ở Hà Nội vào thời kỳ đất nước chưa thống nhất, cuộc sống biết bao gian khó: “Một thời Hà Nội lo toan/ Gạo ngô thì thiếu, hoa xoan lại thừa/ Một thời. Ôi, một - thời – xưa/ Áo phong phanh gió bốn mùa buồn vui”, (Hà Nội một thời)

Nhưng ta vẫn gặp một Hà Nội bình yên, thân thương và rộng lượng. “Nhớ Hà Nội những đêm báo động / Mặc bom rung dế vẫn gáy trong hầm / Hoa sữa còn thơm, biết mình còn sống / Mẹ khóc thầm trong giá rét căm căm”, (Thành phố tuổi thơ tôi).


Ảnh tàu điện giữa phố phường Hà Nội của nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Đức Thomas Billhardt. Nguồn: Internet

Đến bây giờ Trương Nam Hương vẫn chưa quên những niềm vui trẻ con, chọc bàng chín, nhảy tàu điện ra Bờ Hồ xem chợ Tết, dỏng tai nghe hát xẩm....Đó là một phần ký ức.

Những quả sấu giòn rơi trưa tháng sáu
Hà Nội ơi nhớ quá tuổi lên mười
Ta nhón nhẩy bước cào cào châu chấu
Suối ve trào vòm phượng - nắp vung sôi

(Thành phố tuổi thơ)

Năm 1985, Trương Nam Hương trở lại Hà Nội lần đầu, anh xúc động: “Anh xa đất Bắc mười năm / Tay em Hà Nội xin cầm hơi lâu / Hỏi mùa hoa sữa đi đâu / Câu thơ ngồi khóc, mắt nâu lại buồn”, (Chiều Hà Nội và em). Và thổn thức: “Ly kem Thủy Tạ mười năm trước / Còn mãi thơm tho đến tận giờ / Anh đứng bên kia cầu Thê Húc / Nhìn áo em hồng nắng lấp lơ… “, (Nhớ mùa Đông Hà Nội).

Người ta đã từng tổ chức rất nhiều triểm lãm về Hà Nội, như “Triển lãm Hà Nội những năm đầu thế kỷ 19” (năm 2018), “Hoài niệm Hà Nội phố” (năm 2018), “Xưa và Nay, đổi thay đường phố Hà Nội” (năm 2023)....; đặc biệt, các triển lãm “Thương nhớ thời bao cấp" (năm 2018), "Ký ức Hà Nội" (năm 2018), “Hà Nội 1972 – Khát vọng hòa bình” (năm 2022), "Hà Nội 1967 - 1975" (năm 2023 của nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Billhardt)... Tất cả những hình ảnh đó có trong bài thơ Hà Nội một thời của Trương Nam Hương.
...
Một thời Hà Nội hiên ngang
Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi
Một thời Hà Nội cùng tôi
Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường

Một thời Hà Nội thảo thương
Sẻ chia lát đậu, thìa đường, mớ rau
Một thời Hà Nội buốt đau
Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang

(Hà Nội một thời)

Đó là một thời lung liêng trong tâm hồn thơ Trương Nam Hương. Ông sống cùng gian khó mà tự hào, kiêu hãnh...Đến bây giờ, Trương Nam Hương vẫn “Tạ ơn Hà Nội trọn đời / Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”, (Hà Nội một thời). “Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi / Phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quyệt/ Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết/ Có sông và đời mẹ ở bên trong”, (Với sông Hồng).


"Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi", thơ Trương Nam Hương

Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây... có vị trí “đặc biệt” trong thơ Trương Nam Hương; đó là không gian nghệ thuật trong thơ ông. Nhìn sương khói Hồ Hoàn Kiếm ông lặng nhớ về tuổi thơ, về mẹ của mình: “Nhớ lặng thầm thôi không dám gọi/ Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi/ Bao nhiêu sợi trắng dâng như khói/ thảng mặt Hồ Gươm lạnh bốc hơi”, (Nhớ mùa Đông Hà Nội). Và ông bồi hồi: “Anh ra đền Ngọc Sơn ngồi/ Là si lựa chỗ không người để gieo”, (Viết ở Hồ Gươm).

Hồ Gươm hiện lên trong thơ ông với một lời mời: “Lên cầu Thê Húc đi em / Nhớ thăm thẳm nhớ một đêm gió lùa / Rễ si rét đến run mùa / Môi em đào nụ giao thừa - Mùa Xuân”, (Lời mời đêm giao thừa).

Còn đây là những câu thơ tình anh viết ở Hồ Tây: “Bao tình nhân đến Hồ Tây / Khéo thôi kẻo dẫm dấu giày anh xưa/ Áo lưng lửng lẳn eo mùa / Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây”, (Trăng phố). “Mùa hư ảo hay tình em ảo thế/ Anh xoay ngang khẽ chạm sóng Tây Hồ/ Có ánh mắt nhìn anh qua thế kỷ/ Thấy anh giờ dắt nhớ tuổi anh xưa!”, (Góc nhớ Hà Nội).

***

Tài thơ Trương Nam Hương bộc lộ từ sớm. Khi mới ngoài 20 tuổi Trương Nam Hương đã xuất bản Khúc hát người xa xứ, (NXB Trẻ, 1990) và cho đến nay ông đã có 12 tác phẩm. Về thành tựu, Trương Nam Hương đã có 10 giải thưởng; giải nào cũng danh giá, nhưng phải kể đến Giải thưởng Văn nghệ Quân đội (1989-1990) và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, (năm 1991), nhiều giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và các giải thưởng khác.

Về đề tài Hà Nội, ông đã đạt Giải Nhất Cuộc thi thơ Thăng Long - Hà Nội, trái tim tôi, của báo Sài Gòn Giải phóng (năm 2010), nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Có thể nói thế này, nếu thi ca là một “tôn giáo” thì Trương Nam Hương từ lâu đã được chọn là một tông đồ. Ngoài thơ và dịch thơ, ông không “sân si” một lĩnh vực nào khác. Dẫu “thế giới xô lệch” và văn chương đang “bươn bả” với nhiều xu hướng, phong cách nhưng Trương Nam Hương vẫn vậy, bình thản, thánh thiện. Ông tiếp tục sáng tạo thi ca những gì thuộc về nhân bản.

“Nhớ xưa Hà Nội anh về/ Gặp Thu môi cốm váy xòe heo may”, (Hà Nội anh về). Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Khi tôi viết những dòng này, Hà Nội vào Thu. Dù tròn “lục thập hoa giáp” nhưng trái tim Trương Nam Hương vẫn dào dạt, trẻ trung lắm. Hà Nội vẫn chờ Hương đấy!

Nguồn: https://vlr.vn/truong-nam-huong-ta-on-ha-noi-tron-doi

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Hóa bật ra nội lực đi trong cuộc đời
Phải giàu trải nghiệm lắm trong cuộc sống này, nhà thơ Trần Hóa mới có thể chia sẻ với bạn bè, người thân và tha nhân những câu thơ gan ruột, chất chứa đầy gian truân và thử thách của mình.
Xem thêm