TIN TỨC

Trương Nam Hương Tạ ơn Hà Nội trọn đời

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-10-21 21:21:15
mail facebook google pos stwis
1632 lượt xem

NGÔ ĐỨC HÀNH

Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Mặt hồ giữa phố như nghiên mực / Sông thảo hoa văn một nét rồng / Hoa sữa thơm nồng lên giấy điệp / Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”. Chỉ với bốn câu thơ trong bài tứ tuyệt Bốn nét phác Hà Nội, Trương Nam Hương đã cho thấy sự khác biệt của một tài thơ.

Rủ nhau thăm cảnh Kiếm hồ / Thăm cầu Thê Húc, thăm chùa Ngọc Sơn / Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn /Vì ai gây dựng nên non nước này”, (ca dao). Hồ Gươm, không chỉ là “lẵng hoa” giữa lòng Hà Nội, mà còn ôm vào mình biết bao huyền sử. Quần thể di tích hiện hữu cùng năm tháng minh chứng cho “kho báu” thiêng liêng ấy.

Trước khi vào Đền Ngọc Sơn (lúc đầu gọi là chùa, trên đảo Ngọc), ai chưa từng để ý tòa tháp ấy? Dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng ẩn dụ hoài bão lớn lao: “Tả Thanh thiên”, tức Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Ngọc Bội (tên cũ là núi Độc Tôn), bên hồ Hoàn Kiếm.


Nhà thơ Trương Nam Hương.

Trương Nam Hương tưởng tưởng ra Hồ Gươm như một “nghiên mực”. Đã có bút thì phải có mực mới viết được. Có hiểu bối cảnh lịch sử lúc cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (thường gọi là Thần Siêu), xây dựng vào năm 864 mới thấm ý nghĩa người xưa gửi gắm. Đó là khí phách Hà Nội.

Và nữa, đó là sông Hồng, với huyền sử Rồng bay lên. Hoa sữa – một thời là một trong những loài hoa đại diện cho tình yêu, đã đi vào bài hát Hoa Sữa của nhạc sỹ Hồng Đăng. Hà Nội là thơ, là âm nhạc, là hội họa, “Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”.

Viết về Hà Nội không dễ, viết ngắn về Hà Nội càng khó và để “nằm lòng” cùng thời gian, càng cực khó. Cố nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh từng nhắc đến yếu tố “may mắn” khi sáng tạo là ở điểm này. Thấu cảm Hà Nội và với tài thơ của mình, nhà thơ Trương Nam Hương mới có được thi phẩm Bốn nét phác Hà Nội.

***

Trương Nam Hương có bố người Huế, mẹ Bắc Ninh, tuổi thơ gắn bó với Hà Nội. Sau thời gian ngắn ở Huế, Biên Hòa, gia đình ông định cư tại TP. Hồ Chí Minh: “Ruổi rong khắp bốn phương trời/ Câu thơ hành khất theo người hành hương/ Ta gom nhặt giữa đời thường/ Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha”, (Câu thơ ngày về).

Do vậy, trong thơ Trương Nam Hương có ngọt ngào Kinh Bắc; thâm trầm cố đô Huế; hào hoa, thanh lịch Hà Nội; hào sảng, cưu mang của đất phương Nam. “Trong tôi có chút sâu đằm / của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô / sông Hồng hắt đỏ lên thơ / tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang”, (Gửi hai dòng sông quê).

Trương Nam Hương “thờ phụng” Hà Nội như thờ phụng một linh hồn. Trương Nam Hương viết khá nhiều về Hà Nội, tình cảm, tâm thế của ông thuộc về Hà Nội. Có thể kể đến Trăng phố, Hà Nội một thời, Mùa xanh, Hà Nội anh về, Viết ở Nghi Tàm, Rơm rạ một thời tôi, Lộc vừng Hồ Gươm, Với sông Hồng, Ký ức phố, Góc nhớ Hà Nội...Có thể nói, Hà Nội “ám ảnh” trong tâm hồn thơ ông.

Trương Nam Hương sống ở Hà Nội vào thời kỳ đất nước chưa thống nhất, cuộc sống biết bao gian khó: “Một thời Hà Nội lo toan/ Gạo ngô thì thiếu, hoa xoan lại thừa/ Một thời. Ôi, một - thời – xưa/ Áo phong phanh gió bốn mùa buồn vui”, (Hà Nội một thời)

Nhưng ta vẫn gặp một Hà Nội bình yên, thân thương và rộng lượng. “Nhớ Hà Nội những đêm báo động / Mặc bom rung dế vẫn gáy trong hầm / Hoa sữa còn thơm, biết mình còn sống / Mẹ khóc thầm trong giá rét căm căm”, (Thành phố tuổi thơ tôi).


Ảnh tàu điện giữa phố phường Hà Nội của nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Đức Thomas Billhardt. Nguồn: Internet

Đến bây giờ Trương Nam Hương vẫn chưa quên những niềm vui trẻ con, chọc bàng chín, nhảy tàu điện ra Bờ Hồ xem chợ Tết, dỏng tai nghe hát xẩm....Đó là một phần ký ức.

Những quả sấu giòn rơi trưa tháng sáu
Hà Nội ơi nhớ quá tuổi lên mười
Ta nhón nhẩy bước cào cào châu chấu
Suối ve trào vòm phượng - nắp vung sôi

(Thành phố tuổi thơ)

Năm 1985, Trương Nam Hương trở lại Hà Nội lần đầu, anh xúc động: “Anh xa đất Bắc mười năm / Tay em Hà Nội xin cầm hơi lâu / Hỏi mùa hoa sữa đi đâu / Câu thơ ngồi khóc, mắt nâu lại buồn”, (Chiều Hà Nội và em). Và thổn thức: “Ly kem Thủy Tạ mười năm trước / Còn mãi thơm tho đến tận giờ / Anh đứng bên kia cầu Thê Húc / Nhìn áo em hồng nắng lấp lơ… “, (Nhớ mùa Đông Hà Nội).

Người ta đã từng tổ chức rất nhiều triểm lãm về Hà Nội, như “Triển lãm Hà Nội những năm đầu thế kỷ 19” (năm 2018), “Hoài niệm Hà Nội phố” (năm 2018), “Xưa và Nay, đổi thay đường phố Hà Nội” (năm 2023)....; đặc biệt, các triển lãm “Thương nhớ thời bao cấp" (năm 2018), "Ký ức Hà Nội" (năm 2018), “Hà Nội 1972 – Khát vọng hòa bình” (năm 2022), "Hà Nội 1967 - 1975" (năm 2023 của nhiếp ảnh gia người Đức Thomas Billhardt)... Tất cả những hình ảnh đó có trong bài thơ Hà Nội một thời của Trương Nam Hương.
...
Một thời Hà Nội hiên ngang
Giữa bom rơi. Hứng quả bàng chín rơi
Một thời Hà Nội cùng tôi
Mũ rơm, lọ mực, nếp xôi đến trường

Một thời Hà Nội thảo thương
Sẻ chia lát đậu, thìa đường, mớ rau
Một thời Hà Nội buốt đau
Khâm Thiên trắng xót mái đầu khăn tang

(Hà Nội một thời)

Đó là một thời lung liêng trong tâm hồn thơ Trương Nam Hương. Ông sống cùng gian khó mà tự hào, kiêu hãnh...Đến bây giờ, Trương Nam Hương vẫn “Tạ ơn Hà Nội trọn đời / Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”, (Hà Nội một thời). “Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi / Phù sa đỏ như miếng trầu mẹ quyệt/ Ăn hạt gạo mãi giờ con mới biết/ Có sông và đời mẹ ở bên trong”, (Với sông Hồng).


"Chỉ sông Hồng thương mẹ hát đơn côi", thơ Trương Nam Hương

Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây... có vị trí “đặc biệt” trong thơ Trương Nam Hương; đó là không gian nghệ thuật trong thơ ông. Nhìn sương khói Hồ Hoàn Kiếm ông lặng nhớ về tuổi thơ, về mẹ của mình: “Nhớ lặng thầm thôi không dám gọi/ Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi/ Bao nhiêu sợi trắng dâng như khói/ thảng mặt Hồ Gươm lạnh bốc hơi”, (Nhớ mùa Đông Hà Nội). Và ông bồi hồi: “Anh ra đền Ngọc Sơn ngồi/ Là si lựa chỗ không người để gieo”, (Viết ở Hồ Gươm).

Hồ Gươm hiện lên trong thơ ông với một lời mời: “Lên cầu Thê Húc đi em / Nhớ thăm thẳm nhớ một đêm gió lùa / Rễ si rét đến run mùa / Môi em đào nụ giao thừa - Mùa Xuân”, (Lời mời đêm giao thừa).

Còn đây là những câu thơ tình anh viết ở Hồ Tây: “Bao tình nhân đến Hồ Tây / Khéo thôi kẻo dẫm dấu giày anh xưa/ Áo lưng lửng lẳn eo mùa / Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây”, (Trăng phố). “Mùa hư ảo hay tình em ảo thế/ Anh xoay ngang khẽ chạm sóng Tây Hồ/ Có ánh mắt nhìn anh qua thế kỷ/ Thấy anh giờ dắt nhớ tuổi anh xưa!”, (Góc nhớ Hà Nội).

***

Tài thơ Trương Nam Hương bộc lộ từ sớm. Khi mới ngoài 20 tuổi Trương Nam Hương đã xuất bản Khúc hát người xa xứ, (NXB Trẻ, 1990) và cho đến nay ông đã có 12 tác phẩm. Về thành tựu, Trương Nam Hương đã có 10 giải thưởng; giải nào cũng danh giá, nhưng phải kể đến Giải thưởng Văn nghệ Quân đội (1989-1990) và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, (năm 1991), nhiều giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và các giải thưởng khác.

Về đề tài Hà Nội, ông đã đạt Giải Nhất Cuộc thi thơ Thăng Long - Hà Nội, trái tim tôi, của báo Sài Gòn Giải phóng (năm 2010), nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Có thể nói thế này, nếu thi ca là một “tôn giáo” thì Trương Nam Hương từ lâu đã được chọn là một tông đồ. Ngoài thơ và dịch thơ, ông không “sân si” một lĩnh vực nào khác. Dẫu “thế giới xô lệch” và văn chương đang “bươn bả” với nhiều xu hướng, phong cách nhưng Trương Nam Hương vẫn vậy, bình thản, thánh thiện. Ông tiếp tục sáng tạo thi ca những gì thuộc về nhân bản.

Nhớ xưa Hà Nội anh về/ Gặp Thu môi cốm váy xòe heo may”, (Hà Nội anh về). Với Hà Nội, Trương Nam Hương đã viết, vẫn viết cho những đứa con xa đất Thủ đô, ngược dòng cảm xúc. Thơ về Hà Nội của ông là tiếng thơ khắc khoải, sóng luôn vỗ đến nao lòng.

Khi tôi viết những dòng này, Hà Nội vào Thu. Dù tròn “lục thập hoa giáp” nhưng trái tim Trương Nam Hương vẫn dào dạt, trẻ trung lắm. Hà Nội vẫn chờ Hương đấy!

Nguồn: https://vlr.vn/truong-nam-huong-ta-on-ha-noi-tron-doi

Bài viết liên quan

Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm