TIN TỨC
  • Bút ký - Tạp văn
  • Từ chiến trường đến trại tù Côn Đảo: Người chiến sĩ quân báo khi về lại đời thường

Từ chiến trường đến trại tù Côn Đảo: Người chiến sĩ quân báo khi về lại đời thường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-02 06:24:27
mail facebook google pos stwis
2840 lượt xem

CUỘC THI "ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA"

PHẠM BÁ NHIỄU

Chuyến đi về TP Bạc Liêu thăm bạn tù Côn Đảo, tôi may mắn được đi cùng bác Nguyễn Văn Ẩn, thương binh hạng 4/4 ở Hội CCB P. Tân Quy - Quận 7, để đến thăm một bạn tù Côn Đảo - bác Huỳnh Đảm, nguyên Chủ tịch Hội CCB tỉnh Bạc Liêu. Đó là 2 bạn tù cùng 6-7 năm liền ở Trại tù Côn Đảo. Cả 2 đều là thương binh nặng, từng ở các trại tù ác nghiệt nhất nhiều năm liền tại nhà lao Côn Đảo - Trại A.6 và Trại A.7 (các trại cấm cố) mà không hề biết khuất phục những trận đòn thù chí tự tại Côn Đảo.

 Người tù A.7 CCB Nguyễn Văn Ẩn (thứ 2 trái qua) thăm lại chiến trường xưa Cà Mau  -Ảnh: PBN.

Những người tù Côn Đảo không hề khuất phục

Khi gặp lại bạn tù qua bao năm, mà hai người cùng giam giữ tại Côn Đảo - Trại A.7, mà hai người đều không giấu niềm xúc động. Bác Huỳnh Đảm cho hay, Côn Đảo 50 năm trước, các dãy nhà tù đều bị mốc meo, cây cối trong các dãy tù thì ít, mà trời khi nắng lên cứ chỗ nào cũng hầm hập, cái nóng kinh  người trong mỗi trại tù, song lính ngụy canh gác không hề rời nữa mét khi các anh ra sân hay khi tù nhân đi đổ rác... tất tần tật đủ 24/24 giờ, mỗi trại giam đều có lính canh đầy đủ. Bác Huỳnh Đảm khi đó là giao liên mật của Cục hậu cần Quân Khu 9, bị địch bắt đày ra Côn Đảo 7 năm liền, còn bác Nguyễn Văn Ẩn là chiến sĩ quân báo theo dõi diễn biến tình hình địch tại chiến trường miền Trung địa bàn Quân khu 5, và khi bị lộ,  địch bắt giam tháng 12 năm 1970, sau đó xét xử và đày ra Côn Đảo vào trại cầm cố A.6, sau sang trại A.7. 

Bác Ẩn kể chúng tôi biết, ngày đó trong tù khu Trại cấm cố thời Mỹ là nơi chúng canh giữ rất cẩn mật, đề phòng tù nhân ta trốn trại. Đó là hai dãy chuồng tù, làm hai hàng dài cả mấy chục mét dọc căn nhà, phía trên có hàng kẽm lưới B40 trãi hết trại, để khi tù nhân chống đối, chúng dễ cho cả nắm bột vôi... trừng trị tù nhân.

Bác Huỳnh Đảm kể thêm, trong đời tù cấm cố, hễ chúng biết là những người lính hoạt động trong những lĩnh vực quan trọng nào, là chúng cho nhốt vô đây, để khỏi hòng ra thoát trại. Trại cấm cố được anh em tù mệnh danh như loại chuồng cọp thời Pháp, mà anh em bạn tù quen gọi là chuồng cọp Mỹ (tức là 2 thời thực dân chiếm giữ Đảo, đều dung những trại này để tra tấn tù nhân yêu nước). Với chuồng cọp thời Pháp, là một căn nhà khoảng 6 x 10 mét nằm riêng, khi thả tù nhân vào, chúng bỏ phân bò lên ngập nữa chân người, có khi người tù mà chúng biết là nhân vật thật quan được trọng của Cộng sản, thì chúng cho phân bò gần đến nữa người, rồi đẩy tù nhân vào đó - bác Trần Trọng Tân (Hai Tân), có lần khi sinh hoạt chi bộ với chúng tôi tại Ban Tuyên giáo Thành ủy, cho biết - nơi mà bác Hai Tân đã ngấm vào đó cả mấy tuần lễ liền, chỉ ngữi mùi phân bò thối nồng nặc hằng ngày.

Còn đối với Trại cấm cố dưới thời đế quốc Mỹ (trại A.7) là một dãy nhà tù dài khoảng 20 phòng/mỗi bên. Chúng nhốt tù nhân vào đó chỉ vẽn vẹn trong mỗi phòng rộng 1,5 X 3 mét mà không cho tù nhân nào được ngoi đầu lên, hay thoát ra khỏi 4 bức tường để thở. Điều mà chúng muốn, là hầu như chúng cố không cho tù nhân cựa quậy, chứ đừng nói đến giao lưu với ai hay làm được cái gì trong trại tù A.7. Khi có biến động chính trị, tù nhân phản ứng, thì chúng cho lính gác đứng lên gác trên đầu tù nhân, tung cả nhiều nắm vôi bột cay xé mắt, hay cả xô nước bẩn giội xuống... mà chúng muốn làm cho tù nhân sống chết sao mặc kệ. Trong trại A.6 và trại A.7, mỗi tù nhân một ngày chỉ được dùng đúng 1 ly (loại ¼ lít) nước sạch, còn muốn có nữa người tù nhân nào khát nước thì chỉ có lấy nước tiểu trong người mình vừa tiểu ra... mà uống. Điều hết sức dã man của hai tại Trại cấm cố trại A.6 và trại A.7 là thế - bác Huỳnh Đảm nhấn mạnh.

Thế nhưng, suốt những năm tháng dài, cả hai bạn tù tri kỹ của 2 miền Nam - miền Trung, bác Huỳnh Đảm và Nguyễn Văn Ẩn đã trụ tại đây hàng 6-7 năm liền (bác Huỳnh Đảm 7 năm), mà không ai sa ngã hay không người tù nào khai ra các bí mật gì của đơn vị. Cho đến ngày Hiệp định Paris ký kết tháng 01/1973, sau 1 năm chúng mới cho bộ đội ta ra đảo để đón các ông được trở về đất liền.

Tại Trại cấm cố, có những chuyện bây giờ anh em kể lại, mà bác Nguyễn Văn Ẩn thì không muốn anh em nhắc nhiều đến mình, đó là hành động tự mổ bụng mình để cực kỳ phản đối chính sách hà khắc đối với người tù của trại tù Côn Đảo.

Vào một sáng ngày hè 1973, người tù chiến sĩ quân báo Nguyễn Văn Ẩn cùng anh em bạn tù cùng đứng lên hô to phản đối chính sách hà khắc của bọn trại tù đang áp dụng những chính sách thời trung cổ với tù nhân; đấu tranh chống chào cờ Việt Nam Cộng hòa, thực hiện dân sinh, dân chủ cho tù nhân... Và chính ông đã tự dùng con dao bí mật giấu trong phòng cai ngục để tự rạch bụng mình, trước bọn cai ngục, để phản đối trại tù A.7. Suốt 23 ngày liền cuối năm 1973, các tù nhân trại A7 và cùng nhiều trại khác đã đấu tranh không khoan nhượng với bọn cai ngục tại Côn Lôn, buộc chúng sau đó phải chấp nhận những yêu sách của tù nhân.

Chủ ngục tù Côn Đảo vào lúc đó là Trung tá Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Vệ (từ 1973-1975). Hắn ta luôn ra lệnh cho bọn cai ngục sẵn sàng đàn áp dã man tất cả trại tù khu A.6, A.7 và các trại chuồng cọp Pháp và chuồng cọp Mỹ kế bên. Và cùng hai chiến sĩ tù nhân khác, bác Nguyễn Văn Ẩn nhờ bạn tù kế bên cho mượn lưỡi dao là thẻ bài (tức thẻ tù) mài bén một bên, được các ông cất giấu bí mật. Ông đứng thẳng nói bọn cai ngục của trại: Tụi tao sẽ đứng lên mổ bụng của mình, để chúng bay và cả thế giới sẽ biết nhà tù đế quốc Mỹ - Việt Nam Cộng hòa đối xử tù nhân ra sao? Nói rồi tự ông lấy lưỡi bảng hiệu tù bằng thép, được các ông mài sắc bén như lưỡi dao một bên, tự đứng lên rạch phần dưới bụng của mình, máu ra xối xã, trước mặt những kẻ canh giữ trại tù...  Bọn cai ngục xin hứa sẽ cải tạo lại những chủ trương cho tù nhân ăn uống và sinh hoạt, chỉ là đấu tranh để cho mỗi một tuần bạn tù cùng nhau được ra sân tắm nắng 2 lần, mà chúng vẫn để anh em tù nhân phải đổ máu, chúng mới cho - hai bác bạn tù Côn Đảo nhắc tới chuyện đó, thật khó mà những chiến sĩ trong trại cấm cố A6,A7 có ngày nào được quên.

Vậy đó, chế độ lao tù Côn Đảo là vậy! người tù chiến sĩ quân báo Nguyễn Văn Ẩn nhắc lại chúng tôi nghe, khi lần ra đảo vào dịp tháng 4/2019 năm rồi, khi chúng tôi ra đảo tìm đến Trại cấm cố 6 và Trại 7 mà chúng đã nhốt  các ông nhiều năm trời, mới thấy sự khủng khiếp của chế độ lao tù thời đế quốc Mỹ là như thế nào, cách tra tấn thế nào, mà các cựu tù Cộng sản vẫn không một lời khai báo.

Còn chiến sĩ Nguyễn Hồng Tráng (Ba Tráng) cựu tù tại nhà tù Phú Quốc 7 năm liền từ 21/4/1966 đến 3/1973, nay ông đã 73 tuổi, nhà ở P.Phú Thuận, Quận 7-TPHCM cho tôi biết: điều mà giờ đây, tôi không thể quên sự ám ảnh thật man dã của cách tra tấn cực kỳ là man rợ, không đổ máu là dùng dây thu bắn vào hạ bộ mỗi tù nhân. Theo đó, khi chúng đến lượt tra tấn mình, chúng bắt lột hết tất cả quần áo, kể cả quần lót, rồi căng giang hai tay mà hai tên đao phủ trại tù cầm giữ chặt, sau đó, trong vòng một giờ đồng hồ, chúng lần lượt dùng dây thun, bắn vào hòn dái của mỗi người tù bộ độ ta. Mỗi lần chúng bắn như thế, dù máu không có chảy ra, nhưng sự tác động thần kinh, nhức nhỏi trong óc thì thật là kinh khủng, nó nhức lên tận đáy óc não của mình trong cả tiếng đồng hồ. Cái đau về thần kinh của người lính tù nhân bộ độ ta ở cách tra tấn này, thì trên cả thế giới chưa hề thấy ở đâu mà có như chúng đã tra tấn bộ đội ta khi lọt vào tay chúng hàng chục năm ròng.

Thế nhưng, chúng tôi những tù nhân Bộ đội Cụ Hồ, vẫn quyết không ai khai đơn vị mình ở đâu, làm gì? vì chúng biết ông là một chiến sĩ quân báo, nắm giữ nhiều thông tin quan trọng, cần phải bắt khai báo ra cho chúng - Bác Ba Tráng nói rõ.

Tôi hỏi, bác còn nhớ ai đã tra tấn bác không? Bác Ba Tráng nói, tên thượng sĩ Nhứt Nhu (quê hắn ở Đồng Tháp) là một đao phủ của loại tra tấn này. Bình thường, hắn dùng kềm nhổ răng mỗi anh em chúng tôi hàng ngày, tôi cũng bị hắn nhổ răng mất 5 cái, nhưng nhổ răng dẫu máu có ra mà còn chịu đựng được, còn khi chúng bắn dây thun vào bộ hạ của mình thì thật nhức nhối cho cả người, vì đó là nút thần kinh - bác Ba Tráng khẳng định. Lần ra Phú Quốc năm 2010, tôi may mắn được một chiến sĩ tình báo bộ đội ta giam giữ và bị tên thượng sĩ Nhứt Nhu (Trần Văn Nhu) tra tấn, đến thăm khu vườn của y trong khu vực đối diện trại tù Phú Quốc. Ông ta là người tầm thước thấp, mập, nhìn thì như người bình thường, nhưng theo các chiến sĩ tù nhân ta, thì ông ta là một tay ác độc vào lại hàng đầu thế giới của trại tù Phú Quốc. Mỗi khi ông ta tra tấn, ông ta chỉ chọn hai cách nhớ đời cho mỗi chiến sĩ ta khi đối diện lọt vào ông thượng sĩ Nhứt Nhu, là cầm kềm nhổ răng cho máu tuôn xối xã và dùng dây thun bắn vào bộ hạ từng người. Cái độc ác thế, phải nói là giữ kỷ lục của cái ác với từng chiến sĩ ta khi lọt vô Trại tù Phú Quốc. Sau năm 1975, ông về tá túc tại khu vườn rộng gần 1000m đối diện Trại tù Phú Quốc, mà bộ đội ta cho ông ta ở.

Nay khi nghĩ hưu, bác Ba Tráng lại trở về Quận 7-TPHCM, đưa vợ và 3 người con vào làm ăn, bác phụ trách Phó Ban liên lạc Hội tù kháng chiến tại Quận 7-TPHCM, con cái của bác vẫn học tập, lao động giữ thanh danh của người cha mình từng 7 năm đày đọa tại Trại tù Phú Quốc, một con trai bác hiện là Phó Chủ tịch UBND P.Phú Thuận, Quận 7.

Người tù Côn Đảo thành CCB gương mẫu làm ăn kinh tế

Sau Hiệp định Paris một năm, tháng 2/1974 CCB Nguyễn Văn Ẩn được trao trả tại Thị xã Lộc Ninh, và tổ chức đưa về căn cứ Trung ương Cục miền Nam, tiếp tục an dưỡng rồi thực hiện nhiệm vụ phân công về công tác Quân báo ở Khu 5.  

Ngày giải phóng miền Nam, bác Văn Ẩn về thăm lại TP Đà Nẵng quê mình. Hết thời gian an dưỡng và phục vụ ở cứ, ông lại về quê và được Khu ủy Khu 5 (năm 1975 - 1976) phân công về phụ trách công tác vật tư nông nghiệp cho địa bàn tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (lúc đó), là Phó Tổng giám đốc Công ty Vật tư Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn (NN-PTNT). Rồi sau đó, năm 1991 được Bộ NN-PTNT điều động vô TPHCM, tiếp tục giữ nhiệm vụ Tổng giám đốc Công ty Xuất Nhập khẩu Nông sản và Vận tải, chuyên trách thị trường vận tải nông sản từ miền Trung vào vùng miền Nam và ngược lại. Bác Ẩn nói vui, cũng nhờ vậy mà ông bén duyên được với cô gái Sài thành quê gốc xứ Quảng nhà tôi và rồi mua đất cất nhà cho vợ con tại Khu phố 3 - Tân Quy năm 1993.

Đảm nhiệm Tổng giám đốc Công ty Xuất Nhập khẩu Nông sản và Vận tải thuộc Bộ NN - PTNT hơn 15 năm liền, nên ông đều rất am hiểu và chuyên tìm đúng các nguồn vật tư nông nghiệp mà lúc này bà con nông dân miền Trung đang rất thiếu cho ruộng đồng, đưa ra thị trường TP Đà Nẵng, và tỉnh Quảng Nam lúc đó, khi bà con làm nông nghiệp còn quá thiếu thốn các nguồn vật tư nông nghiệp.  

Sau nhiều năm tham gia làm kinh tế, bác CCB Nguyễn Văn Ẩn đã xây dựng được một hệ chân rết từ TP.HCM ra các tỉnh Long An, Bình Dương, Biên Hòa, Cần Thơ... Công việc muốn hiệu quả, phải rất bận rộn. Đối với bác Ẩn, khi về P. Tân Quy, Quận 7 hoạt động Cựu Chiến binh (CCB) ông đã có dịp san sẽ cùng các CCB những việc gì Hội CCB Phường cần đến là ông không lúc nào từ chối.

Ngày Đảng, Nhà nước cho nghĩ hưu năm 1997 sau hơn 40 năm tham gia cách mạng, ông về cùng Hội CCB P.Tân Quy, năm 2000 và 10 năm liền ông đảm nhiệm Ủy viên Ban Chấp hành Hội CCB Phường, Chi hội trưởng Chi hội CCB Khu phố 2 - P.Tân Quy, Quận 7, cùng chia ngọt, sẽ ngọt với từng hội viên CCB, trong đó có gần 20 tù nhân là các chiến sĩ bộ đội ta đã từng nếm đủ các trại tù của Mỹ-ngụy.

Đến nay, đúng 70 tuổi đời, hơn 45 tuổi Đảng (ông vào Đảng ngày 10/12/1975), người lính quân báo chiến trường năm xưa và người tù trại A.6, trại A.7 - các trại cấm cố - cũng như tham gia công tác CCB hơn 30 năm nay, vẫn luôn một lòng, một ý cùng đưa trí tuệ của mình, cùng các CCB P. Tân Quy Quận 7 mãi mãi trung thành với Đảng, với Tổ quốc để phấn đấu không ngừng đưa Hội CCB vững mạnh. Với những chiến công trong ngành quân báo, ông đã được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng 3, Bằng khen đấu tranh dũng cảm trong tù của Khu Đoàn Khu 5 - Đoàn Thanh niên CM Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng; cùng nhiều giấy khen, bằng khen của Hội CCB Thành phố, UBND Quân 7.

Trong gia đình ông là một người chồng, người cha đáng kính với 2 đứa con trai đã thành đạt trong học hành, làm việc (cháu thứ 2 đang làm việc trong ngành Công nghệ Thông tin và sinh sống tại Nhật Bản), cháu đầu là chủ doanh nghiệp - đều làm việc hết mình noi theo cha mình. CCB Nguyễn Văn Ẩn mong muốn, khi còn đủ sức khỏe thì còn có thể đóng góp được gì cho CCB Khu phố và Hội CCB Phường, ông không bao giờ ngán ngại, để những người lính từ nhà tù Côn Đảo, Phú Quốc sau khi trở về địa phương, sẽ vẫn luôn giữ mãi nguyên bản lĩnh & lòng tự tin của mình vẫn mãi là người lính bộ đội Cụ Hồ.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm
Làm du lịch từ lò gạch Sa Đéc xưa
Vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, cứ từ 20 tháng chạp đổ lên, người miền Nam lại lũ lượt tìm về vãn cảnh nhà vườn hoa kiểng Tân Quy Đông (Sa Đéc- Đồng Tháp). Cạnh bên Tân Quy Đông là vùng đất Tân Quy Tây bạt ngàn vườn ruộng được bồi đắp phù sa quanh năm bởi con sông Tiền hiền hoà quê kiểng. Lớp phù sa dày dặn bám trên đồng ruộng lâu năm trở thành lớp đất nâu non (đất sét) dẻo quẹo, là loại nguyên liệu rất tốt để người địa phương nung gạch xây dựng các công trình.
Xem thêm
​Âm vang Điện Biên – Tùy bút Nguyễn Hồng Quang
Trời tháng tư đã rất nóng. Nhưng trong khu rừng Pú Đồn – Mường Phăng, nơi đặt sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên năm xưa – không khí lại thật mát mẻ. Những cây cổ thụ cao lớn vươn cành lá xanh tốt che kín cả bầu trời. Tiếng chim rừng ríu rít vang lên giữa không gian tĩnh lặng. Nhiều cây hoa ban vẫn còn khoe sắc trắng tím dịu dàng. Từng chùm phong lan nở rộ trên thân cây già tạo nên vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh khiết.
Xem thêm