TIN TỨC

Về với sự biết ơn và tấm lòng lành

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-01-24 19:44:39
mail facebook google pos stwis
1815 lượt xem

BÙI PHAN THẢO

Lần nào đến Côn Đảo, tôi cũng lặng người trước những mộ bia. Những mộ bia của những người anh hùng, những người có tên. Và những ngôi mộ không có bia mộ, không có tên người. Những nấm mồ vô danh của những người đã nằm xuống trong số 20.000 người đã nằm xuống trên vùng đất thiêng này.

Vọng về tiếng của người xưa

Lần này, chuyến Về nguồn do Ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM tổ chức vào những ngày nửa đầu tháng 11-2023, chúng tôi đã có 2 lần đến nghĩa trang Hàng Dương trong một ngày. Buổi trưa, khi đoàn đặt chân đến Côn Đảo, đã đến viếng nghĩa trang Hàng Keo, nghĩa trang Hàng Dương, làm lễ dâng hương các anh hùng liệt sĩ. Buổi tối, sau chương trình tặng quà cho người nghèo, trao học bổng cho học sinh nghèo, học giỏi, đoàn lại ra nghĩa trang Hàng Dương thắp hương tưởng niệm…


Đoàn nhà văn TP HCM trong chuyến về nguồn tại Côn Đảo tháng 11-2023

Dù dưới bóng mát những hàng cây che dịu một ngày nắng gắt hay màn đêm buông xuống, nghĩa trang vẫn không đem lại cảm giác thâm u mà tất cả chúng tôi đều cảm nhận sự linh thiêng trong không gian. Nghe như từ trong lòng đất vọng về tiếng nói của những anh hùng liệt sĩ, những người đã khuất. Nghe trong gió vọng về tiếng người, trong mây thấp thoáng những đôi mắt dõi theo, ấm áp. Sau khi làm lễ, thắp nhang cho các anh hùng liệt sĩ, cầm trên tay những bó nhang, chúng tôi chia ra mỗi người một hướng, đi về phía những ngôi mộ không mộ bia, cắm những nén nhang thơm với sự bồi hồi. Những nén nhang cháy đỏ trong đêm, hẳn cũng làm ấm lòng người dưới mộ khi biết người sau luôn nhớ về những người đi trước, đã nằm xuống với đất thiêng để hôm nay đất nước thanh bình…

Những linh hồn bất tử

Sự linh thiêng của những linh hồn bất tử ai cũng cảm nhận từ đáy tim mình. Đã đến với đất thiêng, lòng mỗi người đều đã dọn sạch, không còn chỗ cho những sân si, tính toan, vị kỷ. Ai cũng mở lòng đón nhận những cảm xúc đan xen của bất cứ người dân Việt yêu nước nào khi đến với Côn Đảo, từ lòng biết ơn về sự hy sinh cao cả đến sự khâm phục ý chí đấu tranh kiên cường; từ trí tuệ của những tù nhân chiến sĩ cách mạng đến nỗi niềm của con người bình thường trước những giằng xé tâm can vì xa gia đình, vợ con. Trong giam cầm, tù ngục của kẻ thù, vẫn ngời lên những khí chất, phẩm tiết đáng kính phục. Có đi đến, tận mắt quan sát những nhà tù, “địa ngục trần gian” với đủ hình thức tra tấn dã man mới thấy sự tàn ác tận cùng của kẻ thù và ý chí kiên cường, sự tận trung với Đảng với dân của người chiến sĩ cách mạng. Những hy sinh của họ là không có gì so sánh nổi. Họ hóa hồn thiêng sông núi, thân thể tan vào đất đen, vào biển xanh, nhưng hương linh còn ở lại với núi rừng, hàng cây, ngọn cỏ, hòa trong tiếng gió lộng trùng khơi, từng đêm thổi vào thị trấn rười rượi bóng trăng, ánh sao lấp lánh một vùng.


Các nhà văn trong đoàn VNS đến Côn Đảo (9-11/11/2023) - Ảnh: Nguyên Hùng.

Đêm đó, giữa khoảnh sân nơi làm lễ tưởng niệm, khi các thành viên nghệ sĩ trong đoàn cất lên tiếng hát “Về đây, các anh ơi hãy về đây” (Linh thiêng Việt Nam, nhạc và lời: Lê Quang), trời bỗng đổ cơn mưa dù cả ngày trời nắng ráo. Những giọt mưa không quá lớn để ướt đẫm áo người, không quá nhỏ để khỏi bận tâm, song không ai bảo ai, đều hiểu rằng: Các anh linh đang về, hiện thân trong những giọt mưa, chứng giám cho lòng lành của đoàn về nguồn… Các nghệ sĩ cũng thấu hiểu điều đó, vẫn biểu diễn hết mình. Chúng tôi vẫn ngồi giữa sân, nhìn lên bầu trời đen thẫm và lòng khấn thầm cùng sự tri ân. Rồi chỉ hơn năm phút sau, cơn mưa tạnh hẳn, bầu trời lại quang đãng, điểm xuyết những vì sao…

Đủ duyên và sự thành tâm

Những người am hiểu và yêu hòn đảo thiêng này đều hiểu một điều gần như chân lý, đó là phải đủ duyên mới đến được Côn Đảo. Duyên đó có được phải xuất phát từ tấm lòng lành thì bằng cách này hay cách khác, người đời sẽ đến được Côn Đảo. Bằng không, mọi dự tính, sắp đặt đều không thành, không thể đặt chân lên vùng đất thiêng này. Điều đó ngẫm ra trong hoàn cảnh nào cũng đúng. Trên những ngả đường thị trấn, buổi chiều trở đi, hàng đoàn người nghiêm cẩn sắp lễ, vòng hoa và thành kính vào nghĩa trang viếng các hương hồn liệt sĩ. Trong những lời khấn vái, hẳn là những điều mong mỏi tốt đẹp cho dòng họ, gia đình, cho quốc thái dân an… và chỉ với lòng lành mới được chứng giám qua những cây nhang rực lên, mùi nhang ấm cả nghĩa trang trong chiều hôm…

Buổi chiều ở khu xà lim cũ, chúng tôi nghe soạn giả Cao Đức Trường, một cựu tù chính trị Côn Đảo, kể về những tháng ngày ông và đồng đội bị giam cầm, những trận tra tấn dã man đổ xuống thân thể gầy yếu của tù nhân song những chiến sĩ cách mạng kiên trung vẫn giữ vững khí tiết. Ông kể về những nữ tù nhân đầu tiên bị đưa ra Côn Đảo khiến lòng những nam tù nhân lúc ấy đều chùng xuống vì thương, vì lo cho những người phụ nữ. Ông đọc lại bài thơ của người chồng làm cho vợ, cũng ở trong xà lim, dặn dò nhau giữ vững tinh thần đấu tranh, khí tiết của người một lòng theo cách mạng.

Bên ngoài sân nhà tù, màu đất sẫm hơn. Phải chăng đất này thấm máu đỏ của bao thế hệ tù nhân mà đổi màu, đất trộn máu xương trộn nắng gió mà thành sắc màu như vậy. Trước sân nhà tù, những cây bàng vẫn lên xanh, chiếc lá đỏ rụng xuống như một hiện thân, một nhắc nhớ về sự hy sinh. Trên đất nước này, nhiều nơi trồng bàng, nhưng chưa nơi nào bàng tập trung nhiều như Côn Đảo. Bàng dọc đường ven biển, bàng trong phố của thị tứ ngày xưa, huyện lỵ hôm nay, nhiều gốc là cổ thụ. Bàng trên mọi ngả đường, trước hiên nhà dân. Những cây bàng xanh ngắt, tượng trưng cho sức sống bền bỉ của người dân Côn Đảo, sống lành hiền bên những huyền thoại, bên di ảnh, bên những ngôi mộ. Biết bao câu chuyện được kể truyền đời hơn 100 năm qua, từ lúc thực dân Pháp dựng nên nhà tù Côn Đảo rồi đến chính quyền Sài Gòn tiếp tục mở mang, xây các “chuồng cọp” khiến dư luận thế giới bất bình, phẫn nộ.

Bàng che nắng phương Nam bỏng rát, bàng che mưa cho người trú chân. Những trái bàng thơm quyến dụ trẻ con, những hạt bàng giòn, bùi hôm nay trở thành đặc sản để mang về đất liền làm quà, dù để có được một ký hạt bàng cũng đã là kỳ công phơi, tách, đóng gói…

Mở ra tương lai

Bước đi trên Côn Đảo hôm nay, lòng chúng tôi dậy lên những cảm xúc bồi hồi. Dường như chạm vào đâu cũng nghe thời gian lên tiếng, những dấu tích xưa cùng ký ức bi hùng. Nơi cầu tàu 914, ban trưa nắng chói, tôi nhìn ra phía biển dường như thấy những tấm lưng gầy oằn xuống, có ngọn roi của cai tù tàn nhẫn quất vào lưng và tiếng rên khẽ vì đau của người tù… 914 người đã bỏ mạng nơi cầu tàu này, một con số đáng hãi hùng, đầy bi phẫn về cái ác của một thời đã hiện diện nơi đây, chôn vùi tuổi thanh xuân của bao thế hệ người Việt Nam yêu nước…

Hôm nay Côn Đảo đã đổi thay nhiều. Khu thị trấn đã ra dáng phố phường. Những con đường đẹp, rộng, dài, đầy bóng mát, các công trình xây dựng bề thế cũng nhiều lên. Trường học khang trang, những khuôn mặt bé thơ sáng trong, lanh lợi đạp xe đến trường. Côn Đảo hôm nay không còn xa ngái, từ đất liền ra đi tàu cao tốc theo ngả Vũng Tàu hay Trần Đề (Sóc Trăng) đều tiện, đi máy bay cũng dễ dàng với sân bay Cỏ Ống đã đẹp hơn nhiều và chuẩn bị nâng cấp, mở rộng hơn. Trong tương lai, khách đến Côn Đảo sẽ ngày một đông hơn, bởi đây không chỉ là địa chỉ về nguồn mà còn là điểm đến du lịch tâm linh. Sau những giờ phút thăm các di tích lịch sử, dâng hương tại nghĩa trang, không gì dễ chịu bằng dầm mình xuống biển. Biển nơi đây ấm, như lòng người, như thấm hết ân tình của bao thế hệ mà trao truyền lại cho nhau lòng biết ơn và nghĩa tình sâu nặng.

Nguồn: Người Lao động số Xuân 2024.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Hà Nội và nỗi niềm hoa sữa – Tản văn Đào Thị Thu Hiền
Nhớ đến những mùa hoa Hà Nội, những người yêu mảnh đất này không thể không nhắc đến mùa hoa sữa. Đó là một mùa hoa nhưng cũng có thể gọi về cả mùa thơ, mùa nhạc khiến cho đất trời thủ đô khoảnh khắc cuối thu chầm chậm sang đông bỗng trở nên rạo rực, thao thức, nồng nàn với những vấn vương bởi cái hương thơm ngọt ngào, đằm sâu, quyến rũ đang dịu dàng gửi vào trong gió. Mùi hương ấy làm cho bao bước chân qua không khỏi ngập ngừng như thể đang bị níu lại. Có lẽ vì thế mà loài hoa này, từ lâu, đã được xem là tình yêu và nỗi nhớ của người Hà Nội.
Xem thêm
Kiến nghị lấy ngày 27/7 làm ngày Quốc giỗ
Tôi quan niệm rằng sự hy sinh của những người con đất Việt không bị giới hạn bởi một thời đại, một cuộc chiến tranh hay một thế hệ. Tất cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do và sự trường tồn của đất nước đều xứng đáng được các thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ. Bởi vậy, khi bàn về Ngày Quốc giỗ, cần phân biệt rõ giữa việc lựa chọn một ngày tưởng niệm chung và việc bảo đảm sự tri ân đối với từng đối tượng, từng giai đoạn lịch sử. Hai việc này không nhất thiết loại trừ nhau.
Xem thêm
Những người đi qua Trường Sơn – 55 năm một lời hẹn
Bài đăng Đặc san của Hội Nhà báo TPHCM chào mừng Đại hội Hội Nhà báo TPHCM
Xem thêm
Về bến Lộc An
Bài đăng báo Cựu chiến binh Việt Nam
Xem thêm
Đồng xu nhỏ và những chuyến xe – Tùy bút Trương Văn Dân
Lâu lắm, có lẽ gần 30 năm sau tôi mới gặp lại Franco. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người mỗi ngả để mưu sinh. Ai cũng đều trải qua những thăng trầm về công việc, đổi nhà, gia đình con cái… thế là chúng tôi mất tin nhau.
Xem thêm
Khoa phục hồi chức năng (A26) vững chuyên môn, sáng y đức
Y học hiện đại có thể kéo dài một nhịp tim, giành lại một mạng sống từ ranh giới sinh tử. Nhưng chính Phục hồi chức năng mới là người trả lại cho nhịp tim ấy một lý do để đập, trả lại cho sự sống ấy một phẩm giá để tồn tại. Bởi cứu sống một con người đã là kỳ tích, nhưng giúp họ tự tay nâng một ly nước, tự bước đi bằng đôi chân mình và sống một cuộc đời độc lập — đó mới là sự hoàn thiện trọn vẹn nhất của y đức.
Xem thêm
Lớn khôn bên cửa từ bi
Bài đăng Văn nghệ Gia Lai
Xem thêm
Mảnh vườn bên suối – Tản văn Nguyễn Hồng Quang
Năm nào cũng vậy, khi những đợt gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về rét nhẹ cũng là lúc mẹ tôi cẩn thận lấy từ gác bếp xuống những ống nứa đựng hạt giống. Đó là những hạt cải thìa tròn lẳn, màu nâu bóng được chọn lựa kỹ càng từ những cây cải to nhất, khỏe nhất mùa trước. Khác với hoa cải bẹ hay cải nương có màu vàng tươi, hoa cải thìa lại mang màu trắng tinh khôi, dịu dàng như những vệt mây nhỏ đọng lại giữa vườn chiều. Khi những quả cải nhỏ như quả đỗ xanh chuyển từ màu xanh sang sắc vàng hanh, mẹ cắt cả chùm mang về bó lại, treo bên hiên nhà mươi hôm cho khô rồi mới vò lấy hạt phơi đem cất.
Xem thêm
Bỉ ngạn, một mùa hoa, một đời người – Tùy bút Nguyễn Thị Việt Nga
Bỉ ngạn theo tiếng Hán có nghĩa là bờ bên kia (bỉ: bên kia, ngạn: bờ). Trong cách giải thích của Phật giáo, đối diện với bỉ ngạn là “thử ngạn” bờ bên này. Bờ bên này là thế giới con người đang sống, nơi còn sinh tử, phiền não và mê lầm. Bờ bên kia là cảnh giới vượt thoát khỏi những ràng buộc ấy, là bờ giác ngộ. Trong truyền thống Tịnh Độ tông Nhật Bản, “bỉ ngạn” còn được dùng để chỉ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Bởi vậy, nếu chỉ hiểu bỉ ngạn là “cõi chết” thì có lẽ chúng ta đã làm nghèo đi ý nghĩa của hai chữ ấy.
Xem thêm
Lửa ơi! – Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Trở lại với “đời thường”, thì lửa là phương tiện thân thuộc khi đem đến cho con người cuộc sống dễ chịu hơn, sau thời kỳ sống trong dằng dặc đêm dài tăm tối của thời mông muội. Nói nôm na, thì lửa cho ánh sáng khi tối trời, để nấu ăn, xua đuổi các loài động vật-côn trùng, tạo các tín hiệu liên lạc từ xa… Lửa còn là ngôn ngữ của tình cảm, từ người bình dân Việt…
Xem thêm
Bồng bềnh trên mây – Tản văn Kỳ Nam
Tôi tình cờ “phát hiện” ra chị trong một lần lang thang tác nghiệp với chiếc Cub 50 cà tàng từ thời sinh viên và máy ảnh treo trước ngực. Chiếc xe dành để đi thực địa hôm đó giở chứng lần thứ chín mươi chín - cho đến khi một người xa lạ ngồi lên đạp cần khởi động nó mới chịu nổ máy.
Xem thêm
Đánh mất – Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có những sự phụ bạc không đi kèm tiếng cãi vã, không có kẻ thứ ba hay những cú tát nảy lửa trong một chiều giông bão. Sự phụ bạc tàn nhẫn nhất là khi một người tự nguyện đem trọn tuổi trẻ, xương máu và lòng tin của mình để kê chân cho người kia bước lên đài cao, để rồi khi đứng trên đỉnh vinh quang, kẻ ấy nhẹ nhàng buông tay như gạt đi một giọt sương đọng trên vạt áo...
Xem thêm
Một hải trình để những bến bờ xa gần lại
Khi tàu KN 491 đã cập bến Lữ đoàn 125 sau 8 ngày đi biển, tôi vẫn có cảm giác mình còn lênh đênh trên sóng. Sóng không còn dưới chân, nhưng tiếng sóng vẫn ở trong lòng. Những hòn đảo đã lùi lại phía sau, nhưng từng gương mặt, từng cái bắt tay, từng màu áo lính, từng ngọn đèn trên biển vẫn hiện lên rõ ràng như mới vừa đây thôi.
Xem thêm
Muộn màng - Tản văn của Nguyễn Đúp Sật
Có một kiểu âm thanh mà chỉ khi đi qua phân nửa đời người, người ta mới bắt đầu thấy sợ. Đó không phải là tiếng còi xe cấp cứu xé màn đêm, cũng chẳng phải tiếng sấm sét đùng đùng trước cơn giông. Đó là tiếng cái gậy mây gõ tốc... tốc... xuống nền gạch tàu cũ kỹ vào mỗi năm giờ sáng.
Xem thêm
Thương nhớ những mùa trăng – Tản văn Trà Bình
- Ai trong đời cũng có một tuổi thơ hồn nhiên gắn liền với những mùa trăng thật đẹp. Tôi cũng vậy, ánh trăng của những mùa Tết Trung thu năm xưa luôn là miền ký ức dịu dàng, trong trẻo. Bây giờ, dù đã trưởng thành, tôi vẫn giữ nguyên thói quen mong đợi đêm rằm – khoảnh khắc khiến lòng lại ngập tràn niềm vui như thuở bé.
Xem thêm
Bão tháng 9 - Tản văn của Vũ Minh Phúc
Trong tất cả những điều này – như sự nổi giận của nhiên nhiên, bầu không khí an nhiên và trong lành bị nghiêng ngả bởi làn gió thổi liên hoàn không biết từ đẩu từ đâu, mặt trời bị biến dạng, không còn xuất hiện nữa, bức tranh cuộc sống đầy tiếng thở dài nặng nhọc, thậm chí chẳng ai có thể làm nổi việc nữa, mọi thứ đều phải dừng lại – nhưng việc người ta có thể làm trong lúc này là ngồi chờ đợi trong nhà và ước gì bão sẽ qua đi.
Xem thêm
Những ngọn đèn đứng gác trong đêm – Tản văn của Vũ Minh Phúc
Suốt đêm dài, họ không ngủ và như thể còn trong giấc ngủ chập chờn, tôi nói chuyện với họ, về công việc, gia đình, con gái, luôn trong trạng thái lo lắng; và sau một hồi tiếp nhận đủ các thông tin từ trung tâm báo về, họ ngập đầu trong các ca trực, nghe điện thoại, ghi chép nhật ký lịch trình thời gian tàu chạy, giải quyết ùn tắc ở ngã tư và đóng barie chắn ngang, tôi mới hiểu tại sao trong mọi tình huống giao thông nguy hiểm người gác chắn lại trở nên quan trọng hơn đối với tất cả mọi người.
Xem thêm
Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ - Tản văn Nguyễn Đại Duẫn
Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường như cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ; tiếng ồn ào xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè vừa muốn tìm hiểu làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.
Xem thêm
Từ mùa thu 1945 đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Trong không gian phát triển mới đầy thách thức và cơ hội đó, mục tiêu chiến lược của Đảng vì con người được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt và mang tầm vóc đột phá. Trước hết, đó là quyết tâm chính trị cao độ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền để tinh thần không ai bị bỏ lại phía sau trở thành hiện thực sinh động trong từng cộng đồng dân cư.
Xem thêm
Tiếng chim trong vườn bà – Tản văn của Trà Bình
Tôi trở về ngôi nhà cũ của bà vào một buổi chiều mùa hạ. Ngôi nhà cấp bốn nằm nép mình trong xóm nhỏ giờ im lìm, cửa đóng then cài, mái ngói phủ rêu xanh. Tôi chậm rãi bước ra khu vườn trước nhà. Đứng bên gốc vải già còn sót lại vài quả cuối vụ, tôi chợt nghe tiếng chim lảnh lót từ vòm cây vọng xuống, như đánh thức miền ký ức tuổi thơ.
Xem thêm