TIN TỨC

Phan Thị Thanh Nhàn nửa thế kỷ vấn vương “Hương Thầm”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-06-23 10:39:47
mail facebook google pos stwis
3080 lượt xem

Lê Thiếu Nhơn

 Tên tuổi thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn gắn liền với bài thơ “Hương thầm” phổ nhạc thành một ca khúc nổi tiếng. Bài thơ “Hương thầm” được thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn sáng tác năm 1969, đến nay đã tròn nửa thế kỷ. Nhiều thế hệ đã hát “Hương thầm” với niềm mến mộ dành cho thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn. Thế nhưng, công bằng mà nói, thơ Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ có “Hương thầm”!

Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn

Bây giờ, gặp thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn ngoài đời, ít ai nghĩ rằng chị đã qua tuổi “cổ lai hy” từ lâu. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn có nét vui vẻ, hòa đồng, trẻ trung và điệu đà của riêng chị. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn sinh năm 1943 tại mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi mà tuổi 30 chị đã viết bài thơ dài “Thành phố tôi yêu” với những nghẹn ngào về cuộc sống thơ ấu bên Đê La Thành “Lá cải già mẹ không nỡ bỏ đi/ Vại dưa mặn suốt thời thơ bé/ Guốc không có, chân lau vào chổi rễ/ Chị lớn rồi, áo chật vá nhường em” và những câu hăng say cổ vũ phát triển đô thị “Tay Hà Nội vươn dài theo quy hoạch/ Nao nức nghĩ về thành phố tương lai”. Sau khi tốt nghiệp Khoa Báo chí – Trường Tuyên giáo Trung ương, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn từng làm phóng viên báo Hà Nội Mới rồi chuyển sang làm Phó Tổng Biên tập báo Người Hà Nội. Nói chung, về sự cống hiến và sự thành đạt giữa đời thường, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn không hề thua kém ai. Thế nhưng, điều tạo ra đột phá trong số phận của chị, vừa nâng đỡ lại vừa bất trắc, chính là thơ.

Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn bắt đầu xuất hiện trong làng thơ bằng ấn tượng ở cuộc thi thơ năm 1969 – 1970 của báo Văn Nghệ. Với hai bài “Hương thầm” và “Xóm đê”, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn đã giành được giải nhì cùng với Vương Anh và Bế Kiến Quốc (giải nhất thuộc về Phạm Tiến Duật). Cùng sánh vai nhau thuở khởi nghiệp của thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn, nhưng những câu thơ trong bài thơ “Xóm đê” như “Chuyện cũ xóm đê để lại nếp nhăn trên trán mẹ/ Nhưng chúng tôi lớp trẻ vô tư/ Cứ lớn lên rộn rã ước mơ/ Có lúc quên ngoái nhìn quá khứ” không được mấy ai nhớ như bài thơ “Hương thầm”. Mang bóng dáng một câu chuyện lãng mạn, bài thơ “Hương thầm” miên man kỷ niệm: “Cửa sổ hai nhà cuối phố/ Không hiểu vì sao không khép bao giờ/ Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp/ Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa/ Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay/ Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm/ Bên ấy có người ngày mai ra trận/ Họ ngồi im không biết nói năng chi/ Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi/ Nào ai đã một lần dám nói/ Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối/ Anh không dám xin/ Cô gái chẳng dám trao/ Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao/ Không dấu được cứ bay dịu nhẹ/ Cô gái như chùm hoa lặng lẽ/ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu/ (Anh vô tình anh chẳng biết điều/ Tôi đã đến với anh rồi đấy…)/ Rồi theo từng hơi thở của anh/ Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực/ Anh lên đường/ Hương thơm sẽ theo đi khắp/ Họ chia tay/ Vẫn chẳng nói điều gì/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi”.

Tuyển tập Phan Thị Thanh Nhàn

Năm 1984, tức là 15 năm sau khi bài thơ “Hương thầm” ra mắt, nhạc sĩ Vũ Hoàng đã phổ nhạc thành một ca khúc cùng tên. Phải thừa nhận, nhạc sĩ Vũ Hoàng đã sử dụng hầu hết những câu thơ quan trọng của bài thơ để làm ca khúc, nhưng lại vô tình tạo nên một…sự lệch lạc so với nguyên tác. Bài thơ “Hương thầm” viết “cửa số hai nhà cuối phố, không hiểu vì sao không khép bao giờ”, còn ca khúc thì “khung cửa sổ hai nhà cuối phố, chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ”. Có thể do phục vụ giai điệu và tiết tấu, phải thêm chữ “khung”, nhưng ngẫm nghĩ thì thấy rất buồn cười. Cửa sổ mới có khả năng khép hoặc mở, còn cái khung của cửa sổ thì phải cố định. Đã là “khung cửa sổ” thì vĩnh viễn “không khép bao giờ”, chứ đừng thắc mắc “vì sao”. Vậy mà, kỳ lạ thay, “khung cửa sổ” vẫn hát véo von suốt 35 năm qua.
Dù muốn dù không, vẫn có thể khẳng định, chỉ cần bài thơ “Hương thầm” cũng đủ lưu danh thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn vào lòng công chúng. Thế nhưng, thơ cũng có duyên có kiếp như người, có những bài thơ hay nhưng không thể vang dội bằng bài thơ được phổ nhạc. Ở trường hợp thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn xin lấy ví dụ bài thơ “Con đường” mà chị viết năm 20 tuổi: “Nếu anh đi với người yêu/ Chỉ mong anh nhớ một điều nhỏ thôi/ Con đường ta đã dạo chơi/ Xin đừng đi với một người khác em/ Hàng cây nay đã lớn lên/ Vươn cành để lá êm đềm chạm nhau/ Hai ta không biết vì đâu/ Hai con đường rẽ ra xa nhau hoài/ Nếu cùng người mới dạo chơi/ Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu”. Thần thái của bài thơ “Con đường” nằm hết ở bốn câu đầu, nhưng nếu không có sự bâng quơ lý giải ở sáu câu sau thì lại mất đi cái tính ương gàn nhiễu sự của tuổi trẻ và tính đa đoan nũng nịu của thiếu nữ. Cũng với kiểu suy tư bất trắc ấy, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn cũng có hai câu thơ khiến nhiều người vội vàng hẹn hò và sốt ruột kết hôn bỗng dưng giật mình: “Người tôi yêu đã đi xa/ Người yêu tôi lại ở nhà, chán ghê!”.

Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn từng có những ngày vợ chồng ấm áp trong căn hộ tập thể trên cao mỗi ngày mơ màng nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm với thi sĩ Thi Nhị. Đáng tiếc, hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Năm 1979, khi thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn đi thực tế sáng tác ở Nha Trang thì thi sĩ Thi Nhị mất đột ngột ở Hà Nội. Thời ấy, máy bay đâu có dễ dàng như hôm nay, khi người vợ trở về nhà thì thân nhân đã đưa người chồng ra nghĩa trang. Nỗi đau giống như một vết thương trong lòng thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn, thỉnh thoảng lại cồn cào trên trang thơ: “Ước gì gặp lại anh/ Dù chỉ trong phút cuối/ Để nói một lời thôi/ Em đã yêu anh nhất/ Ước gì giọt nước mắt/ Thấm được vào môi anh/ Để trong giờ phút cuối/ Anh biết em ở gần”. Sự bơ vơ ở thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ qua cảm nhận “Bữa ăn vắng một người/ Tìm đâu ra mùi vị/ Khói cơm cay mắt thế/ Bây giờ em mới hay/ Hun hút hai hàng cây/ Gió thổi dài ngơ ngác/ Thành phố vắng một người/ Đường không ai dạo chơi” mà còn qua hành động “Một mình tìm đến cùng anh/ Nghĩa trang chiều muộn lặng thinh gót giày/ Khói nhang nhè nhẹ thẳng bay/ Nối em vào cõi khói mây nhạt nhòa”.

Mất chồng, một mình nuôi con, một mình dựng nhà, một mình làm thơ, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn dựa vào trái tim yếu mềm mà đi qua những ngày âm u. Góa bụa ở tuổi 36 là một cảm giác kinh khủng, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn hiểu như vậy, và không khép cửa bao nhiêu tơ vương đến với mình tình cờ hoặc toan tính: “Bất ngờ ai bỗng gọi em/ Cho tôi bối rối lặng im mỉm cười”. Thậm chí, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn bẽ bàng “Rồi có thể vợ và con ríu rít/ Anh nhẹ nhàng quên hết chuyện đôi ta/ Anh hối hả đón cuộc đời hạnh phúc/ Tôi bàng hoàng mãi chẳng hiểu ra” rồi chấp nhận “Và bây giờ người ấy đã ra đi/ Tôi bỗng thấy đàn ông xa lạ quá/ Hình như họ có chút gì hoang dã/ Có chút gì tàn nhẫn vô tâm”. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn lấy sự hồn nhiên để an ủi sự cam chịu. Chị dùng đôi mắt độ lượng để tạm biệt những cái cũ, từ tạm biệt “Người yêu cũ” quay lưng: “Như giếng cạn giấu sao trời dưới đáy/ Anh mãi là kỷ niệm thuở ngây thơ/ Hãy thơm phức như trái cây chờ hái/ Đừng bắt em uống cạn chén trà thô”, đến tạm biệt “Những bài thơ cũ” ngậm ngùi: “Với tôi thuở ấy thiêng liêng/ Câu thơ đập giữa nhịp tim bất ngờ/ Nay còn ai được như xưa/ Còn ai xứng với bài thơ tôi cầm” và tạm biệt cả “Nhà cũ” bồi hồi ký ức: “Căn nhà đã nhốt/ Những ngày trong veo/ Mùa xuân còn mãi/ Nơi mình buông neo”. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn bộc bạch: “Tôi là người chỉ nhìn cái đẹp, cái đáng yêu của đời sống và mỗi con người. Trong tình yêu, tôi thường nói là tôi làm thơ thất tình là chính. Nhưng chính những người mà tôi đã từng yêu và đã từng thất vọng, tôi vẫn giữ những kỷ niệm đẹp khi họ chưa bị lộ những điểm yếu mà sau này mình mới biết, đã khiến mình chán nản và từ bỏ. Nhưng cái gì đẹp thì tôi còn lưu giữ mãi. Tôi cảm ơn tất cả các chàng đã có lúc khiến tôi xúc động làm được thơ ghi lại tình cảm chân thành của tôi dành cho họ. Tôi đã có những bài thơ được bạn bè và người đọc chia sẻ, yêu thích. Đó là nhờ tôi đã… yêu nhầm khi nghĩ là họ đáng yêu. Thế là quá “lãi” với tôi rồi!”.

Tuy nhiên, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ có thơ tình. Thơ về sản xuất hoặc thơ về thời sự cũng được chị viết khá khéo léo. Chị nhờ hai câu lục bát cứu bài thơ “Hội cấy mùa xuân” khỏi không khí thơ phong trào “Đừng khen làm cuống chân em/ Đừng khen kẻo mạ cắm nghiêng bây giờ”. Chị nhờ bốn câu kết mà cứu bài thơ “Chân dung người chiến thắng” viết về ngày 30-4-1975 khỏi không khí minh họa “Tôi trở về nhà với ngọn đèn con/ Viết lại xóa bài thơ không đủ ý/ Đành ghi chép vào sổ tay thầm nghĩ/ Những ngày này tự nó đã là thơ”. Do đó, khi day dứt, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn cũng có những câu thơ nhức nhối: “Có đôi lúc buồ/ Tôi đã định tự tử/ Sống làm chi khi bè bạn bon chen/ Cơ quan quanh năm đấu đá/ Sống làm chi khi người yêu thành người lạ/ Ngày như đêm một mình/ Sống làm chi lương ba cọc ba đồng/ Viết báo làm thơ kiếm từng xu vẫn loay hoay không đủ/ Sống làm chi khi mọi tượng thần đều sụp đổ/ Người ta tin yêu lại hóa tầm thường/ Vậy mà tôi vẫn sống nhơn nhơn/ Vẫn cười nói họp hành trưng diện/ Vẫn hy vọng kiếm được một ông chồng đáng mến (một người đã thông minh lại giàu)/ Và tôi hiểu ra trong thăm thẳm niềm đau/ Tôi vẫn còn yêu đời quá”.

Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn được trao Giải thưởng Nhà nước năm 2007. Chị được độc giả chào đón khắp nơi với bài thơ “Hương thầm”, nhưng chị cũng gửi cho họ những băn khoăn của một người làm thơ biết đắn đo ân nghĩa, khi đến “Lam Kinh” nhìn ngắm di tích: “Thăm đất cũ một lần thôi, chợt thức/ Ai bây giờ xứng đáng với vua Lê?” và khi viết hộ người xa xứ về ấn tượng “Tổ quốc” sâu bền: “Mẹ Việt Nam gầy bé/ Mẹ Việt Nam kiên cường/ Suốt một đời lận đận/ Mà con giờ tha hương”./.

L.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm