TIN TỨC

Chân dung đẹp từ nét vẽ của thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-08-22 08:22:08
mail facebook google pos stwis
1911 lượt xem

Thời báo Văn học Nghệ thuật số 34, ngày 22/8/2024

PHAN NGỌC QUANG

Nguyên Hùng là một nhà khoa học nhưng lại yêu thơ đến say lòng. Không chỉ in thơ, anh còn cho ra mắt những tác phẩm độc, lạ khi tạo thêm mối duyên tơ giữa âm nhạc và văn chương, giữa thi sĩ và nhạc sĩ mà bằng chứng là tuyển tập “Trăm khúc hát một chữ duyên”. Chưa dừng lại đó, với 81 chân dung văn học anh còn cho ra đời cuốn “Ký họa thơ” trình làng để không ngoài mục đích chuyển tải di sản thơ ca đến với độc giả được gần hơn.

Rõ ràng không chỉ yêu thơ, anh còn là người tìm mọi cách để cho thơ được chắp thêm đôi cánh bay giữa khoảng trời văn chương bao la. Cũng vì yêu thơ mà anh yêu cả thi sĩ, những chủ nhân đã làm nên bài ca cuộc đời từ vần điệu, ngôn từ và thể loại. Cầm cuốn “Ký họa thơ” trên tay, bỗng nhiên ký ức tôi lại quay về với thời gian trước đây khi đọc 102 mảnh ghép nhân văn của nhà thơ quê xứ Nghệ. Để có một bài thơ chuẩn xác về một thi sĩ, nhất là thi sĩ lớn là điều không hề dễ. Trước hết đòi hỏi phải có kiến thức đầy đủ về thân thế và đặc biệt là sự nghiệp của họ. Nhưng đó chỉ là cái nền cơ bản để người viết bắt tay vào công việc không hề đơn giản là phác họa chân dung tác giả bằng chính sản phẩm mà họ đã từng làm ra. Nguyên Hùng đã dày công đào xới vào đống tư liệu ngổn ngang của từng con người, mỗi số phận để dựng nên một bức tượng tác giả bằng thơ. Bức tượng đó vừa có hình khối cuộc đời nhưng lại phải có xương thịt của tác phẩm mà các nhà thơ, nhà văn để lại cho hậu thế.

Thực ra sự lắp ghép tên tác phẩm lại với nhau là công việc nhẹ nhàng nhưng để có một bài thơ với những tên tác phẩm được liệt kê có ý nghĩa thì lại là một công việc khác. Đó là điều anh đã làm được. Phải thật hiểu, thật yêu từng đồng nghiệp thì Nguyên Hùng mới phác thảo lên được những bức ký họa mà mỗi khuôn mặt thi nhân đều rất riêng, không bị nhạt nhòa và chẳng lẫn vào đâu được. Dù được xếp sắp theo thứ tự an-pha-bê nhưng tôi vẫn chọn tìm những tác giả quen thuộc để ngắm trước. Tất nhiên không thiếu Tố Hữu, Chính Hữu, Nguyễn Bính, Vũ Cao, Huy Cận, Quang Dũng, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Viễn Phương, Nguyễn Đình Thi… những cánh chim đầu đàn của nền thơ cách mạng. Một lần nữa, bạn đọc lại được chiêm ngưỡng các khuôn mặt cây đa, cây đề trong làng văn chương kháng chiến ở một góc nhìn và tâm thế mới. Đó còn là một thế hệ nhà thơ trẻ tiếp nối cha anh trong thời kỳ chống Mỹ mà tiêu biểu là Trần Đăng Khoa, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Bế Kiến Quốc, Phạm Ngọc Cảnh … với 1 giọng điệu riêng trong dàn đồng ca lớn. Bên cạnh các nhà thơ quen thuộc, càng tò mò hơn khi bạn đọc được ngắm các nhà văn trong thời đại mới ở các địa phương khác nhau dù trên 3 miền nhưng đều có chỗ đứng vững vàng trong ngôi nhà thơ cả nước: Lê Thiếu Nhơn, Lê Quốc Hán, Nguyễn Bình Phương, Trần Văn Tuấn, Kao Sơn, Bùi Anh Tấn…

Mỗi bài thơ anh viết chính là bản lý lịch trích ngang về thành tựu văn chương mà họ đã gặt hái được trên mỗi chặng đường đời. Bản lý lịch đó được in trên trang bên trái, không ghi chép các thông tin từ trang bên phải mang tính chất thông tấn mà được đắp xây lên bởi những vật liệu văn chương thú vị. Khi tên tác phẩm được anh đưa vào thơ thì dường như nó được sinh ra lần nữa trong bối cảnh và không gian mới để cho mỗi câu thơ đều có ý nghĩa trọn vẹn. Đó chính là công sức lao động và tài năng của đôi bàn tay người viết. Hình như đây cũng là sở trường và cả đam mê của nhà thơ họ Nguyễn. Còn nhớ, mỗi khi đồng nghiệp ra sách, Nguyên Hùng đều có một bản tổng kết bằng thơ dù nói ít nhưng lại chứa được nhiều thông tin trong đó. Tác giả thì cảm ơn anh, người nghe như lòng mình được nói hộ. Tôi nhớ không nhầm, hầu hết các thi hữu từ quen đến lạ đều có một lý lịch văn chương trích ngang, một tờ giấy khai sinh tác phẩm mà do Nguyên Hùng phác thảo. Đó được coi là tấm "danh thiếp văn nghiệp" của bạn bè quanh anh. Từng chân dung hiện lên đẹp bằng nét vẽ đa sắc của ngôn từ, vần điệu.

Có người cho rằng, thơ nay ít người đọc, người ta chán thơ. Nhưng với “Ký họa thơ” thì không thế. Bởi đây là một thư viện nhỏ có thể cầm được trên tay về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của những nhà văn lớn. Rất cần cho những ai yêu thơ, yêu văn chương để tra cứu, để đến gần hơn với những gì mà mình đã từng trân quý trong quãng đời đi học và lúc trưởng thành. Đối với các sĩ tử, thần dân văn chương có thể coi đây là cuốn cẩm nang cần thiết, là bác Google không cần máy tính, điện thoại mà vẫn tra cứu được lại có kết quả nhanh. Nhiều nhà văn tiền bối đã không còn nữa nhưng chắc họ cũng mát lòng khi biết hôm nay cuốn sách ra đời trong diện mạo khác. Nếu sách đến tay thân nhân của họ thì điều đó lại càng quý hơn vì gia đình, dòng tộc các nhà văn lại có thêm bộ sưu tập quý giá trong gia phả văn chương của ông bà mình. Xin cảm ơn tâm người viết.

Mùa Vu lan 2024
P.N.Q


Bài viết liên quan

Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm