TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình

Chính Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-01-03 15:05:10
mail facebook google pos stwis
491 lượt xem

Đọc ĐƯỜNG SÁNG của Nguyễn Văn Mạnh là đọc lại một hành trình đời người nhiều bão tố nhưng không khuất phục. Từ người lính trận, nhà báo, luật gia đến nhà thơ, nhà văn, Nguyễn Văn Mạnh đã tự viết nên số phận mình bằng dấn thân và trung thực. Văn chương TP. HCM trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Phạm Trung Tín – người bạn học, bạn đồng hương – mang đến một cái nhìn gần gũi, tin cậy và giàu xúc cảm về cuốn tiểu thuyết mới này.
 

PHẠM TRUNG TÍN

Những ngày cuối năm 2025, tôi đọc tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG của luật gia, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Văn Mạnh. Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính tự thuật tái hiện cuộc sống hơn nửa thế kỷ qua của chính tác giả. Khi gấp sách lại, trong tâm thức của tôi bao nhiêu kỉ niệm lại ùa về sau chặng đường hơn 60 năm tôi và Mạnh cùng trải nghiệm và suy ngẫm.

Chúng tôi sinh ra trên mảnh đất Hiệp Hoà khó nghèo heo hút. Là xã cuối cùng trong bản đồ dư địa chí của thành phố Hải Phòng. Chúng tôi cùng tuổi Bính Thân, cùng học chung một lớp từ cấp 1 đến hết cấp 2 phổ thông tại trường xã và học chung cấp 3 trường huyện. Có thể nói tuổi thơ, tuổi học trò của chúng tôi đã có sự gắn bó sẻ chia với bao kỉ niệm vui buồn không thể nào lãng quên dù năm tháng đã phủ một lớp bụi mờ trên ký ức.

Quê chúng tôi là một vùng quê chiêm trũng đói nghèo lạc hậu. Thời chiến tranh loạn lạc, máy bay Mỹ quần thảo bắn phá suốt đêm ngày, thanh niên trai tráng trong làng lần lượt lên đường tòng quân chiến đấu, chỉ còn những người già, phụ nữ và trẻ em ở tuổi học sinh ở lại hậu phương. Mùa hè nóng nực, mùa đông giá rét, chúng tôi vừa đi học vừa phụ giúp gia đình chăn trâu cắt cỏ, mót khoai hôi cá để vượt qua nạn đói nghèo luôn rình rập quanh năm. Mạnh thuở ấn niên ốm đau còi cọc, dáng người gày gò bé nhỏ lụp xụp trong bộ áo quần nhuộm nâu nhưng đôi mắt sáng tinh nhanh và nụ cười hiền luôn thường trực trên khuôn mặt thánh thiện của tuổi học trò. Lớp học của chúng tôi được đào âm sâu vào lòng đất, trên đắp tường dày cả thước, mái nhà được bện rơm để tránh mảnh bom. Tôi và Mạnh đều là học sinh thông minh hiếu học, có ý chi tự lập và không chịu đầu hàng số phận. Hoàn cảnh nhà Mạnh còn khó khăn nghèo đói hơn cả nhà tôi do bố Mạnh mất sớm. Trong hoàn cảnh mồ côi, mấy anh chị em yếm thế vì bị đối xử phân biệt do ông bố của Mạnh thời Pháp thuộc làm chức sắc trong thôn xóm, bị Cách mạng quy địa chủ cường hào, bị tịch thu gia sản ruộng vườn. Sau này, được hạ thành phần là địa chủ kháng chiến, nhưng lúc đó đã mất hết nhà cửa, phải dựng túp nhà tranh nhỏ bé ở góc làng trú thân qua mưa nắng. Mẹ của Mạnh là người phụ nữ đoan trang, hiền hậu, khuôn mặt hằn nét chịu đựng vất vả truân chuyên của cuộc đời. Tôi đã nhiều đêm ngủ cùng Mạnh trong ổ rơm ngay cạnh bếp vừa nấu cơm vừa nấu cám lợn cho đỡ rét. Hồi đó chính quyền địa phương và cả nhà trường còn coi nặng thành phần giai cấp xuất thân, dù chỉ phụ thuộc nhưng tạo ra những áp lực nặng nề cho các học sinh là con em các gia đình có vấn đề về lý lịch.  Dù học giỏi thì lớn lên cũng chỉ cày ruộng không dám mơ đi học đại học hoặc làm các ngành nghề thoát ly đồng ruộng. Ngay từ khi học xong lớp 7/10, ở lứa tuổi 14 – 15, chúng tôi đã nung nấu ý chí phải thoát ly khỏi luỹ tre làng bằng con đường tình nguyện đi bộ đội. Dù biết rằng là người lính chiến đấu ở chiến trường (hoặc là xanh cỏ hoặc là đỏ ngực). Chủ nghĩa lý lịch còn được duy trì ngay cả trong quân ngũ, giữa chiến trường ác liệt đạn bom nhưng con đường phấn đấu kết nạp Đảng, đào tạo sĩ quan cũng bị phân biệt bởi có ông cha dính dáng phục vụ chế độ cũ…

Trong chương I và chương II của tiểu thuyết, Nguyễn Văn Mạnh đã cho chúng ta biết hoàn cảnh chính trị, điều kiện xuất thân và gia thế của mình. Nhưng với tính khiêm nhường, kiệm lời vốn có, tiểu thuyết chỉ khắc hoạ một phần cuộc sống mà tác giả đã trải qua. Thật chạnh lòng khi ghi lại một đoạn tự sự của Mạnh: “Số phận đã đóng dấu cho mình là con địa chủ thì mình sẽ xoá dấu ấy bằng máu và long trung thành trên chiến trường”.

Những năm giặc Mỹ tái đánh phá ra miền Bắc, máy bay B52 ném bom huỷ diệt, tôi và Mạnh cùng học cấp 3 của trường huyện nhưng khác lớp. Trường phải phân học sinh sơ tán về các xã.  Lớp học ấn dưới luỹ tre xanh của các xóm nhỏ ven sông. Ngồi học trong lớp nhưng tâm trí chúng tôi không thể tập trung bởi tiếng bom gào, máy bay gầm thét, bởi dòng suy nghĩ luôn hướng đến việc lên đường tòng quân cầm súng giết giặc. Tháng 2/1973 tôi tình nguyện đi bộ đội khi đang học lớp 9/10. Đến tháng 5/1974 đến lượt Nguyễn Văn Mạnh cũng tình nguyện viết đơn bằng máu và vinh dự được nhập ngũ. Trải qua rèn luyện chiến đấu tại chiến trường Nam bộ, gian khổ hy sinh do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường, lằn rành sinh tử đã đào luyện chúng tôi trở thành những người lính dạn dày gan dạ, không sợ hiểm nguy, như những cánh chim đã trưởng thành trong bão tố và máu lửa. Theo chính sách của quân đội, những quân nhân nào không đủ tiêu chuẩn phục vụ lâu dài sẽ được chuyển ngành hoặc xuất ngũ về địa phương. Năm 1979 từ mặt trận biên giới Tây Nam tôi được chuyển ngành về bộ Công nghiệp nhẹ tại thành phố Hồ Chí Minh, còn Nguyễn Văn Mạnh năm 1980 được chuyển ngành về công tác tại báo Minh Hải… Đường đời cứ thế trôi đi, biết bao gian nan vất vả khi mỗi người phải tự đương đầu với hoàn cảnh công tác và thực tế cuộc sống khó khăn thiếu thốn của một thời bao cấp…

Tôi không tin vào sự huyễn hoặc của số phận nhưng ở lứa tuổi chúng tôi cái tuổi Bính Thân 1956 gặp rất nhiều hoàn cảnh long đong về sinh kế, trắc trở về đường công thành danh toại và lận đận bước tình duyên. Chẳng thế mà người đời có câu: “Người ta tuổi ngọ tuổi mùi/ Tôi nay ngậm ngùi lận đận tuổi thân”. Nhưng ông bà lại dạy “đức năng thắng số”, chỉ có nỗ lực vượt khó, chỉ có khát vọng vươn lên để tự thay đổi vận mạng cuộc đời mình thì mới có cơ hội nhập hoà cuộc sống để ổn định phát triển, tiến tới tính chuyện “ an cư lạc nghiệp”.

Trong tiểu thuyết ĐƯỜNG SÁNG, chương III và chương IV, Nguyễn Văn Mạnh đã tái hiện những thăng trầm trong cuộc chiến đấu khi là người lính trực tiếp bảo vệ tổ quốc hay trên cương vị một phóng viên khi đã chuyển ngành công tác tại báo Minh Hải. Với khí chất cương thường của người con đất cảng Hải Phòng, với cách sống trung thực tận tuỵ, cách viết đầy tính hiện thực, không phô trương bóp méo sự thật, anh không dễ dàng hoà nhập với tập thể có nhiều người kèn cựa ganh ghét dèm pha. Và rồi như mặc định một cánh chim bão bùng giông tố, anh không khuất phục nghịch cảnh, không chấp nhận số phận nghiệt ngã để quyết tâm đứng vững trước mọi thử thách truân chuyên. Anh chuyển công tác qua toà án Minh Hải rồi lại ra toà án tỉnh Khánh Hoà. Mỗi bước di chuyển là một sự vùng vẫy thoát ra trong nghịch cảnh khó khăn trong sự đa đoan trách nhiệm phục dưỡng mẹ già, nuôi vợ dại con thơ.

Đầu thập kỉ 90 Mạnh chuyển về báo Công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh cũng là lúc tôi gặp lại Mạnh sau gần 20 năm xa cách bặt tin nhau. Từ đó đến nay đã 30 năm tôi và Mạnh luôn có dịp gặp gỡ chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống và trong công viêc, trong đam mê sáng tác văn chương. Trong lớp bạn bè cùng học ở quê chỉ có tôi và Mạnh còn tham gia hoạt động xã hội, ở tuổi 70, dù đã nghỉ hưu nhưng chúng tôi luôn bận rộn với các công việc sáng tác và tham dự các hoạt động báo chí văn chương.

Tôi cho rằng Nguyễn Văn Mạnh là người có ý chí, bản lãnh phi thường để duy trì ổn định cuộc sống bình thường. Hơn 50 năm qua Mạnh đã dấn thân chiến đấu và phấn đấu không ngừng nghĩ, không thối chí, chấp nhận những khó khăn thách thức số phận. Chấp nhận những đổi thay dù vất vả rủi ro để mong tạo cơ hội thay đổi cuộc sống, để tiếp cận các vận hội, phụng sự xã hội và mưu cầu hạnh phúc chính cuộc đời mình. Lúc ra Bắc, lúc vào Nam, lúc ở tận cùng đất Mũi lại có lúc trụ lại giữa rừng núi Khánh Sơn của tỉnh khánh Hoà đèo heo hút gió giữa vùng sơn cước. Có lẽ hoàn cảnh đẩy đưa đã tôi luyện cho Mạnh sức chịu đựng dẻo dai, bản lĩnh chiến đấu hơn người để vươn lên làm chủ vận mệnh của mình. Bên cạnh những lo toan về công việc anh còn đau đáu nỗi niềm thương cảm đứa em ruột thịt đã hy sinh tại biên giới phía Bắc từ năm 1979 đến nay cũng chưa tìm kiếm được hài cốt.

Đôi bạn đồng hương - các nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh và Phạm Trung Tín (phải).

Tôi nhớ lại câu thơ: “Ví thử đường đời bằng phẳng cả/ Anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Câu thơ như vận vào cuộc đời của Mạnh, va vào nghịch cảnh và duyên phận, phổ vào chức nghiệp và sự dấn thân bằng tất cả tâm huyết của mình. Sự thành công nào cũng phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, thậm chí bằng cả máu của mình. Từ một thanh niên thoát ly luỹ tre làng với lý lịch nặng nề vì bị quy chụp thành phần “địa chủ” Mạnh đã nhẫn nhịn chịu đựng và dấn thân tận hiến trong chiến đấu. Lấy máu của mình để xoá dấu ấn xuất thân, lấy khát vọng của mình để đạt các bước trưởng thành trong cuộc sống. Hơn nửa thế kỉ bôn ba, Mạnh đã thành công, thành danh và thành nhân

 Là người lính xông pha trận mặc, là nhà báo dũng cảm đấu tranh với cái ác bảo vệ những giá trị chân chính, là một luật gia luôn đứng về lẽ phải mang lại niềm tin cho người yếu thế, là một nhà thơ luôn có cái nhìn sâu sắc bản thể hướng tới chân thiên mỹ. Trong hoàn cảnh nào Mạnh cũng tự tin ngẩng cao đầu mang dấu ấn ứng xử tiết tháo cương thường của người đất Cảng không đầu hàng số phận. Ở chương V và VI trong tiểu thuyết mang yếu tố tự thuật về cuộc đời chiến đấu không ngừng nghỉ của mình, Mạnh có bước ngoặt vô cùng ngoạn mục, trải qua thử thách trải nghiệm tài năng đức độ của một nhà báo, nhà văn được những bậc đàn anh đàn chị quý mến tin tưởng giao cho trọng trách là người biên tập chính của Diễn đàn văn nghệ, một phụ thương của Thời báo văn học - nghệ thuật Việt Nam. Đên nay đã phát hành 43 số báo với nội dung phong phú đủ các thể loại, tập hợp các bài viết của các tác giả là các nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu khoa học có uy tín trên văn đàn nước Việt.

Năng khiếu văn chương có từ thời học sinh cấp 2, 3 được hun đúc qua chặng đường nửa thế kỉ tu luyện đã bùng cháy soi sáng con đường văn nghiệp. Chỉ trong 4 năm, Mạnh xuất bản 2 tập thơ, 1 tập tản văn và 1 tiểu thuyết. Nhớ lại chuyện cách đây 7- 8 năm, tôi và Mạnh cùng tham gia sinh hoạt với các anh em quê Vĩnh Bảo trong câu lạc bộ thơ Vĩnh Bảo trời Nam do tôi sáng lập và làm chủ nhiệm nhưng người cộng tác tận tuỵ hiệu quả là Mạnh. Tôi có nói Mạnh tập hợp các bài thơ của mình để in các tác phẩm, đăng kí vào Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Mạnh đã âm thầm sáng tác, khí phách và nội lực văn chương phát tiết thật phong phú, sung sức, chất lượng văn chương khẳng định tầm nhận thức và sức biểu cảm của một người thơ giàu nghị lực và khát vọng. Lộc văn chương phát tiết rực rỡ khi Mạnh trở thành hội viên hội nhà văn Thành phố Hải Phòng năm 2023 và trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam năm 2024.

Vĩnh Bảo quê hương của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một danh nhân văn hoá lỗi lạc của dân tộc trong thế kỉ XVI. Truyền thống tinh hoa văn học đã hun đúc lên các thế hệ nhà văn Việt Nam người Vĩnh Bảo thế kỉ XX, XXI. Đến nay các nhà văn người Vĩnh Bảo là một tập hợp những người cầm viết có tâm và có tầm trên văn đàn Việt vàcó lịch sử cống hiến rất đáng trân trọng. Trong số 21 nhà văn góp mặt trong tập sách Nhà văn Việt Nam huyện Vĩnh Bảo mới phát hành năm 2025, người ta đọc thấy các tên tuổi: Khái Hưng, Trần Bảng, Thi Hoàng, Kim Chuông, Tô Ngọc Thạch, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn Bình Minh, v.v cùng góp mặt trong tên tuổi các nhà văn Việt Nam còn có Phạm Trung Tín, Nguyễn Văn Mạnh và các anh chị em đã tận hiến cho sự nghiệp văn chương.

Tôi rất tâm đắc với tên ĐƯỜNG SÁNG là tựa đề cho cuốn tiểu thuyết của luật gia, nhà báo nhà thơ Nguyễn Văn Mạnh được PGS.TS nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng viết lời tựa và đặt lại tên cho tác phẩm. Nhưng tôi khẳng định rằng chính tác giả Nguyễn Văn Mạnh đã tự làm sáng con đường dấn thân phụng sự văn nghiệp của mình.

TP. HCM, ngày 1/1/2026

P.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm
Bài ca thế kỷ 21
Trước hết tôi xin được thưa: tôi không phải “nhà thơ”, tuy lúc nhỏ, thời học lớp đệ tứ ở một thị trấn nhỏ, tuy có làm thơ tình vì con tim dậy thì lúc ấy đã bắt đầu biết rung động trước một bóng hồng.
Xem thêm
Thơ 1-2-3, vẻ đẹp của sự đương đại
Trên phương diện văn học Việt Nam, thơ 1-2-3 dù mới phát triển trong một thời gian gần đây nhưng đã chuyển tải được những giá trị vừa duy mỹ vừa tất yếu, như một làn gió lạ thổi qua giữa nền thơ ca ngàn năm truyền thống. Thơ 1-2-3 xuất hiện trên văn đàn một cách độc lập, khác biệt về phương diện ngôn ngữ, câu tứ, niêm luật, góp phần tạo ra điểm mới của bức tranh thơ ca, tạo thêm màu sắc trong phong trào thơ mới.​
Xem thêm
Đọc văn chương trong thời “hậu thông tin”
Có một thời, người ta than phiền người Việt Nam đọc ít sách quá bởi cuộc sống và công việc nhiều áp lực, bận rộn khiến ta bắt buộc phải lao theo guồng quay đồng tiền. Thế nhưng thời ấy đã qua rồi. Có lẽ năm 2025 cũng đang đánh dấu một thời khác trong sự đọc văn chương của xã hội.
Xem thêm
Không chỉ vọng âm… họ còn bằng xương bằng thịt
Có những cuốn tiểu thuyết khép lại ở trang cuối, nhưng câu chuyện thì không khép. Vọng âm là cuốn sách như thế.
Xem thêm
Câu thơ buồn như tiếng rao đêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa đã theo con đường thi ca đủ lâu, để không còn hoài nghi về sự chọn lựa sáng tạo. Và chị cũng không còn ngỡ ngàng trước mọi đánh giá yêu ghét từ phía công chúng tiếp nhận.
Xem thêm
Nguyễn Tuân – tài hoa và cá tính
Trong một buổi giảng cho sinh viên ngữ văn trước đây, cố PGS.TS Trần Hữu Tá (từng là Trưởng khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) nói về Nguyễn Tuân như sau: “Đối với Nguyễn Tuân, nghề cầm bút là một nghề đầy vất vả và cực kì nghiêm túc. Điều đó thể hiện qua cách viết rất cẩn thận của ông. Khi viết xong một trang văn, tác giả Vang bóng một thời dừng lại, ông dùng miệng đọc lên để nghe âm vang của từ ngữ, lấy tay sờ lên mặt giấy xem còn chỗ nào gồ ghề hay không. Thậm chí, cố nhiên là cường điệu, Nguyễn Tuân còn dùng lưỡi của mình để nếm xem vị đã vừa chưa hay còn chua còn chát…”.
Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm