TIN TỨC

“Di sản” từ trái tim Cường “béo”

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-03-31 05:53:50
mail facebook google pos stwis
2004 lượt xem

BÀI DỰ THI BÚT KÝ “NHỮNG HY SINH THẦM LẶNG”

HẢI VĂN

Nhà chưa có để ở, tiền học phí của con thiếu trước hụt sau, nhưng chứng kiến bao mảnh đời khó khăn cơ cực hơn mình, anh Vũ Quốc Cường (SN 1975, ngụ phường Bến Nghé, quận 1, TPHCM - còn gọi là Cường “béo”) dốc hết số tiền ít ỏi trong nhà mở quán cơm chay từ thiện. Quán cơm nhỏ nằm khép mình trong con hẻm hai chiếc xe máy tránh nhau không lọt là cột mốc đánh dấu hành trình thiện nguyện đến hơi thở cuối cùng của anh.
 


Quán cơm chay Cường “béo” là địa chỉ quen thuộc của sinh viên và người lao động nghèo.

Lúi húi chuẩn bị cơm trưa cho sinh viên và người lao động nghèo, chị Nguyễn Thị Tuyết Lan (SN 1975, vợ anh Cường “béo”) bộc bạch: “Hôm nay có cái ăn, cái mặc là tốt rồi, trước đây, vợ chồng tôi khổ lắm! Không nhà cửa, không của ăn của để, vợ chồng tôi lang bạt làm thuê làm mướn đủ công việc nuôi nhau”.

Phát tâm từ những ngày tháng cơ cực


Lúc sinh thời, anh Cường “béo” luôn hăng hái làm từ thiện (ảnh FBNV).

Sinh con ra, gia đình chị càng thêm túng thiếu. Dẫu vậy, anh luôn động viên chị: mình còn sức khỏe, còn đôi tay thì mình phải cố gắng gồng gánh cho tương lai chứ đừng làm phiền đến ai. Để có tiền nuôi vợ con, thời gian này anh phải “cày” gấp bội. Hết nhận làm thuê chỗ này, anh lại “chạy sô” làm mướn chỗ khác, ai gọi gì anh làm nấy, anh không từ nan bất cứ chuyện gì, miễn là có tiền và không vi phạm pháp luật. Cuộc sống tuy vất vả nhưng trong nhà lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười, chưa bao giờ anh nặng nhẹ với vợ con, cũng chưa bao giờ anh than vãn lấy nửa lời.

Con gái út của anh chị chập chững biết đi, chị chuyển sang buôn trái cây, bán mì xào, nui xào… ở lề đường. Anh vẫn cần mẫn với công việc làm thuê làm mướn. Nhờ siêng năng chịu khó, kinh tế gia đình anh dần dần ổn định. Có cái ăn, cái mặc, anh nhìn sang những người xung quanh và thấy ở ngoài kia có biết bao mảnh đời khổ cực hơn mình cần được giúp đỡ. Hình ảnh của họ khiến anh nhớ lại những ngày tháng cơ hàn vợ chồng đèo nhau trên chiếc xe máy cà tàng rong ruổi khắp các con hẻm tìm quán cơm 2.000 - 2.500 đồng ăn cho qua bữa. Hôm nào còn đói, vợ chồng anh uống thêm nước cho no chứ không dám ăn sang. Từ những dĩa cơm nghĩa tình này, anh ấp ủ mở quán cơm chay từ thiện như một cách để anh cảm ơn đời đã giúp mình qua những ngày cơ cực.

Anh bàn với vợ: “Lúc trước mình nghèo, nhờ những bữa cơm giá rẻ mà mình tiết kiệm được chút đỉnh. Giờ mình khá hơn một chút, thấy người ta bữa đói, bữa no anh cầm lòng không đặng. Mình hãy phát tâm mở quán cơm chay giúp đỡ người khó khăn để họ không còn rong ruổi kiếm miếng ăn như vợ chồng mình trước đây”. Nghe anh nói mở quán cơm chay từ thiện, chị thoáng giật mình. Chị nghĩ: vợ chồng làm thuê làm mướn nuôi 4 đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn còn chật vật, học phí của con thiếu trước hụt sau, lấy đâu ra tiền mở quán cơm? Nhưng thấy chồng trăn trở trước những mảnh đời cùng khổ và ấp ủ tâm nguyện làm từ thiện nên chị gật đầu.

Nói là làm, căn nhà rộng chừng 20m2 được anh chuyển đổi công năng: đêm là nhà cho 7 người nằm ngủ, ngày là quán cho 30 khách ngồi ăn. Lúc mở quán, vợ chồng anh vét sạch trong túi chỉ còn đúng 1 triệu đồng. Nhiều người bảo anh bị hâm, nhưng anh quả quyết: người ta làm được thì mình cũng làm được, và thế là anh mở quán. Thấy việc làm của anh có ý nghĩa, nhiều người xung quanh cũng xắn tay giúp đỡ. Người góp bao gạo, người góp chai dầu ăn, người cho bịch hạt nêm, người thêm củi lửa… Của ít lòng nhiều, “lá lành đùm lá rách” giúp đỡ lẫn nhau. Một triệu đồng tiền vốn anh dành đi chợ mua rau, củ, quả… Buổi sáng anh dậy sớm chạy xe ra chợ đầu mối Bình Điền mua thức ăn cho rẻ. Chị cân đo, đong đếm từng lon gạo, bó rau. Dần dần quán được dựng lên và được nhiều người biết đến. Nhiều nhất là giới sinh viên, người lao động nghèo, người đạp xích lô, bán vé số…

Để có thêm tiền chợ búa, lúc đầu vợ chồng anh bán mỗi dĩa cơm 5.000 đồng. Về sau thấy nhiều người khổ quá, anh bỏ tấm bảng ghi giá cơm, thay vào đó là chiếc thùng nhỏ để khi vào ăn, mọi người bỏ tiền tùy tâm, người không có tiền cũng cứ việc đến ăn no. Chị bảo, tới hôm nay quán cơm này đã tồn tại được mười mấy năm. Vợ chồng tui mở quán cơm mà lấy tiền như người ta thì giờ này tui đã có xe hơi, nhà lầu, đất đai mấy miếng rồi chứ đâu phải ở nhờ nhà người quen, đâu phải chạy ăn từng bữa.

Làm từ thiện đến hơi thở cuối cùng

Quán cơm mở ra có nhiều người ủng hộ, nhưng cũng không ít kẻ dèm pha. Có người giễu cợt, Cường “béo” trông vậy thôi nhưng “giàu ngầm”. Có người nói vợ chồng anh mở quán cơm được là nhờ có đại gia đứng sau “chống lưng”. Cũng có không ít người cay nghiệt, vợ chồng anh nghèo cơm không đủ ăn, nhà không có ở mà bày đặt làm từ thiện. Người ngoài chửi đã đành, không ít người thân cũng không hài lòng về việc anh làm. Nhưng bản thân anh vốn xuề xòa, ai nói gì mặc kệ, anh cười cho qua chuyện rồi lại lầm lũi làm. Anh quan niệm “thương người như thể thương thân”, mình làm từ thiện là từ lương tâm, từ đáy lòng chứ không phải làm màu để đánh bóng tên tuổi hay lợi dụng để tư túi cá nhân. Mình sống thế nào, trước sau gì người ta cũng biết nên không cần thanh minh hay tranh luận hơn thua. Họ nói lời cay nghiệt, nhưng họ đâu biết rằng để quán cơm đỏ lửa mỗi ngày, vợ chồng anh phải xoay xở đủ bề, hết xin chỗ này lại nợ chỗ kia. Lúc hụt vốn, vợ chồng anh phải đi làm thuê, làm mướn bù đắp vô.


Việc làm thiện nguyện của anh Cường như những bông hoa sen sẽ tiếp tục tỏa hương thơm cho đời (ảnh FBNV).

Quán cơm dần ổn định, anh Cường để cho vợ quán xuyến rồi anh xuôi ngược với những chuyến từ thiện dài ngày. Có nhiều chuyến anh đi cả tháng, thậm chí vài tháng. Được bao nhiêu tiền anh cũng đem đi làm từ thiện hết. Anh cần mẫn giúp người khuyết tật có xe lăn, trẻ em nghèo có xe đạp, người nghèo có cơm ăn, nhà ở, vùng khó khăn có cầu, đường để đi… Anh còn nhận hỗ trợ cho nhiều cháu tới năm 18 tuổi…

Trên hành trình thiện nguyện, ngày 16-8-2021 anh không may anh bị nhiễm SARS-COV-2. Sau đó, chị Lan và nhiều người khác trong gia đình anh cũng dương tính với con vi rút này. Nằm trong khu cách ly, dẫu rất mệt nhưng anh không than vãn nửa lời. Anh dặn vợ con tiếp tục thay anh giúp đỡ những người nghèo đói hơn mình, tiếp tục đưa những ổ bánh mì ngon, những hộp cơm nóng đến lực lượng tuyến đầu chống dịch. Sau một tuần nhiễm Covid-19, anh Cường mất vào ngày 22-8-2021, để lại bao sự tiếc nuối khôn nguôi.

Chị Lan tâm sự: “Từ ngày mặc bộ đồ lam và xách cái tay nải đi làm từ thiện cho đến lúc xa lìa cõi tạm, anh luôn canh cánh làm sao cho người nghèo có cơm ăn, áo mặc, trẻ em nghèo được đến trường. Nhiều lần tôi hỏi sao anh không giữ lại một chút gì cho bản thân? Anh chỉ cười bảo, ngày trước lúc đói cơm, thiếu áo, anh nhận được sự sẻ chia của nhiều người, bây giờ có cái ăn, cái mặc rồi, anh sẽ dốc sức giúp đỡ cho những mảnh đời nghèo khổ. “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”, đời giúp mình thì mình giúp người, có qua có lại mới trọn đạo lý. Anh ra đi với hai bàn tay trắng, không nhà, không xe, không của cải vật chất, gia tài anh để lại chỉ là những tấm bằng khen, thư cảm ơn của nhiều tổ chức, cá nhân và một tâm nguyện còn dang dở”.

 Tiếp nối truyền thống của cha mẹ, các con anh cũng hăng hái làm từ thiện theo sức của mình. Vợ chồng cô con gái đầu hàng tháng phụ mẹ lo tiền điện, nước cho bếp ăn. Nguyễn Vũ Kim Như, cô con gái thứ hai xông pha tuyến đầu chống dịch. Cô thứ ba và cô con út thì giúp các bạn ôn lại bài vở. Dù đã ra đi, nhưng tấm lòng nhân ái và những cống hiến của anh cho xã hội đã truyền cảm hứng tích cực, thấm đẫm sự yêu thương đùm bọc nhau trong đại dịch.

Hay tin anh Cường qua đời vì Covid-19, ngày 28-8-2021, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi thư bày tỏ sự tiếc thương và chia buồn đến chị Lan và gia đình. Thư Chủ tịch nước có đoạn: “Những việc làm thiện nguyện cao đẹp của anh Cường như những bông hoa sen sẽ tiếp tục tỏa hương thơm, nhắc nhở và khơi dậy hơn nữa những trái tim nhân ái, những lẽ sống cao đẹp, cống hiến vì cộng đồng và xã hội. Với lẽ đó tôi mong chị cùng với các cháu và gia đình ta lúc này hãy mạnh mẽ như cách sống, niềm tin và tinh thần thiện nguyện của anh Vũ Quốc Cường. Xin nén đau thương và hãy tự hào về người chồng, người cha, người con, người bạn của mình”.

Ngày 4-9-2021, anh Cường được Thủ tướng Chính phủ truy tặng Bằng khen cùng với 17 cá nhân tại TPHCM có thành tích và đóng góp trong công tác phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố.

Khó khăn duy trì quán cơm


Chị Lan cho biết, khó nhất bây giờ là nguồn kinh phí để duy trì quán cơm.

Thực hiện di nguyện của chồng, điều trị xong Covid-19, chị Lan trở lại con hẻm nhỏ tìm cách đỏ lửa quán cơm chay. Chị lụi cụi dậy từ 4 giờ sáng nhóm lửa, bắc cơm, nhặt rau, lên món rồi làm liên tù tì cho đến 9, 10 giờ đêm. Khi mệt, chị mắc chiếc võng cạnh góc bếp nằm nghỉ ngơi, lúc nào khỏe, chị lại dậy lúi húi nấu nướng. Chị bảo, mấy bữa nay nấu ít chứ hồi dịch bùng phát, mỗi ngày chị nấu cả ngàn suất cơm để anh đi phát cho mọi người trong các khu cách ly, khu phong tỏa. Thứ bảy, chủ nhật, chị lại đi nấu từ thiện cho các trại trẻ mồ côi, chùa chiền, bệnh viện…

Thời điểm trước dịch, túi tiền của người dân còn khá, họ ít vào quán chị ăn. Bây giờ dịch giã hoành hành, kinh tế khó khăn, người vào ăn ngày càng đông và đa dạng. Bên cạnh sinh viên, người lao động phổ thông còn có công chức, viên chức… Trước đây, mỗi ngày chị nấu 30-40 ký gạo, còn bây giờ mỗi ngày chị nấu 50 - 60 ký gạo. Lúc còn sống, anh Cường lo mọi thứ, từ điện, nước, than củi, nguyên liệu đầu vào cho đến chợ búa, phát cơm, chị chỉ việc đứng nấu. Anh mất rồi, chị phải gồng gánh gấp đôi. Chị tìm mọi cách xoay xở, tằn tiện từng cọng rau, lon gạo. Những quán cơm khác, người ta có nhà hảo tâm tài trợ, giá cả lên xuống đã có người đỡ đần, còn quán chị, chỉ có mỗi mình chị làm nên rất khó khăn, chật vật.

Cái khó nhất của quán bây giờ là kinh phí hoạt động. Quán của chị là quán cơm chay xã hội, mọi người vào ăn trả tiền tùy tâm. Trong khi vật giá ngày một “leo thang”, nhiều lúc tiền cơm không đủ tiền chợ. Để duy trì được quán, nhiều bữa chị phải mua thiếu dầu ăn, rau ráng, còn gạo cơm thì nợ “gối đầu” thường xuyên. Đợt nào thiếu nhiều quá thì chị phải đi làm thêm, dọn dẹp nhà cửa cho người ta kiếm tiền hôm sau đi chợ. Chị nói, bây giờ mình còn sức khỏe, mình ráng làm để duy trì quán được ngày nào hay ngày đó.

Để giúp sức cho quán cơm chay xã hội Cường “béo” tiếp tục có kinh phí hoạt động, rất cần sự chung tay giúp sức của quý bạn đọc gần xa. Mọi sự giúp đỡ xin gửi về địa chỉ 151/4Tôn Thất Đạm (phường Bến Nghé, quận 1, TPHCM); chị Lan, số điện thoại: 0977881774.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Trường Sa và những khoảnh khắc bình yên nơi đảo xa
Vẻ đẹp Trường Sa và tinh thần Trường Sa, không dễ nói hết trong một sớm một chiều. Nhân dịp tham gia Đoàn công tác số 14 đến với quần đảo Trường Sa, chúng tôi chọn lựa 14 khoảnh khắc đáng nhớ, để chia sẻ cùng bạn đọc về một Trường Sa xanh mát và kiêu hãnh hôm nay.
Xem thêm
Giữa Trường Sa, tiếng hát hòa vào tiếng sóng
Bảy ngày giữa biển không chỉ để đi qua những hòn đảo, những nhà giàn nơi đầu sóng. Đó còn là hành trình để hiểu thêm về những người lính biển, về sự hy sinh lặng thầm và về cách Trường Sa đi vào trái tim mỗi người.
Xem thêm
Ai mà chẳng biết… Tùy bút Nguyễn Đông Nhật
Nếu hơn 1300 năm trước, một hôm trên bước đường tiêu dao hay giữa một cơn say rượu túy lúy càn khôn nào đó, Lý Bạch đã thốt lên lời cảm khái: Xử thế ngược đại mộng/ Hồ vi lao kỳ sinh (*) thì cũng từ lâu lắm, người bình dân Việt đã từng trải nghiệm, rằng: Sự đời như giấc chiêm bao… Hoặc nếu từ 2400 năm trước ở Hy Lạp cổ đại, lời dặn của triết gia Socrates (về sau được khắc vào đá ở đền thờ Delphi), rằng Connais-toi, toi-même (Know thyself - Hãy tự hiểu chính mình), thì tại phương Đông, mấy mươi năm sau sinh thời của Socrates, nhà quân sự Tôn Võ Tử cũng đã ghi vào binh pháp điều mà bất cứ người cầm quân nào cũng không được quên, là: Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi/ Bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ/ Bất tri bỉ bất tri kỷ, mỗi chiến tất đãi (tức là: Biết mình biết người, trăm trận đánh không thua. Không biết người mà biết mình, một thắng một thua, Không biết người không biết mình, mỗi lần đánh ắt thua).
Xem thêm
Dư âm mùa hạ – Tản văn Đinh Thu Huế
Có lẽ, những mùa hạ oi nồng nhất lại là những năm tháng xa mẹ. Nắng hanh vàng nơi phố thị đôi khi khiến lòng tôi chùng xuống bởi khoảng trống cô đơn. Bỗng dưng nhớ da diết cảm giác thức dậy ở quê nhà, lắng nghe tiếng bước chân mẹ tảo tần lúc tờ mờ sáng, tiếng đàn gà lục cục dưới gốc khế già, hay tiếng gàu nước va vào thành giếng đánh thức cả một vùng thanh âm trong trẻo. Bao rung cảm bình dị ấy cứ vang vọng, để khi đi xa mới nghẹn lòng nhận ra: đó chính là khoảng trời chân phương nhất mà mình thuộc về. Chẳng có bóng râm nào xanh mát và chở che hơn đôi cánh tay của mẹ.
Xem thêm
Cõng hàng về căn cứ - Bút ký của Ngọc Tấn
Tôi đi như đếm từng bước, như trong vô thức, nhưng cứ đi, đến lúc nào đôi chân không sai khiến được nữa mới dừng lại nghỉ. Cho đến chiều ngày hôm sau tôi bỗng nghe lao xao tiếng người. Địch hay ta đây? Tim như thắt lại vì hồi hộp, tôi bí mật tiến lại gần quan sát. Không phải địch, một đơn vị bộ đội đang hành quân ngang qua! “Trời cho mình được sống lại rồi!” - nỗi vui sướng quá đỗi khiến nước mắt tôi ứa ra... Nghe tôi kể lại đầu đuôi, chỉ huy đơn vị đồng ý cho tôi đi theo. Tôi theo các anh được một tuần thì gặp ông chú trên Gia Lai xuống. Ông khuyên tôi về quê tạm lánh, khi nào gặp người trên cứ xuống thì hẵng theo lên, không thể tay không đi một mình lên cứ được...
Xem thêm
Theo những dấu chân hoài niệm
Gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010) phối hợp với Bảo Tàng Mỹ thuật Đà Nẵng và Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp. Hồ Chí Minh tổ chức hai cuộc triển lãm: tại Đà Nẵng (09/05/2026 – 16/05/2026) và Tp. Hồ Chí Minh (25/05/2026 – 31/05/2026 trong tháng 5 năm 2026). Triển lãm mang ý nghĩa hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn, con trai và gia đình cố họa sĩ Nguyễn Phan thực hiện, đồng thời giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật và bạn bè, người thân của họa sĩ tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm” (Nxb Hội nhà văn), cũng là tên của cuộc triển lãm.
Xem thêm
Đưa “Tình deagu” về Cánh đồng 41
Kỳ lạ thay, những ngày sau Tết, tôi bị thôi thúc mãnh liệt được trở về thăm Cánh đồng 41, nơi mấy mươi năm trước tôi được chị Út Một - Hội trưởng Hội Phụ nữ xã Tân Hòa - đích thân lái chiếc tắc ráng về ấp Tây, xã Tân Hòa tìm lại những nhân chứng còn sống sót sau trận thảm sát ngày 19/6/1967 (nhằm ngày 22 tháng 5 Đinh Mùi) cho quyển sách Lịch sử Phụ nữ tỉnh Long An.
Xem thêm
Nhị vị tiền bối - Ghi chép của Trần Thế Tuyển
Từ những cuộc gặp gỡ tưởng như tình cờ, bài viết dưới đây của Đại tá nhà thơ Trần Thế Tuyển mở ra một không gian ký ức giàu xúc cảm về những con người đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa và lịch sử một thời.
Xem thêm
Làng không thể mất trong tâm khảm người Việt – Tùy bút Việt Thắng
Ký ức tuổi thơ, bắt đầu từ cái cổng rêu phong đứng lặng ở đầu làng trên con đường đất lát gạch nghiêng. Đi qua cổng làng là thấy mình thuộc về một nơi chốn rất riêng, nơi mà mỗi gốc cây, mỗi bờ rào đều có thể gọi tên. Ao làng nằm đó, phẳng lặng như một tấm gương, in bóng mây trời và tuổi thơ chúng tôi. Những buổi trưa hè, lũ trẻ con trốn nắng, tụm năm tụm bảy bên bờ ao dưới gốc đa, tiếng cười rơi xuống mặt nước rồi lan ra thành những vòng tròn ký ức, thời gian có trôi đi vẫn còn gợn sóng trong tâm.
Xem thêm
Về bến K15 nghe gió thầm kể chuyện - Bút ký Nguyễn Thị Việt Nga
Đồ Sơn là địa danh có lẽ đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích văn hóa. Nhắc đến Đồ Sơn, người ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ mảnh đất này...Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15.
Xem thêm
Diều trên cồn gió – Tản văn Ngọc Tuyết
Sự rũ bỏ mang một vẻ đẹp tàn nhẫn của sự giải thoát. Giải thoát cho một thứ đã khao khát bầu trời đến độ sẵn sàng quay lưng phản bội lại người tạo ra nó; và đồng thời, giải thoát cho chính cái tôi đầy vết xước khỏi sự cầm tù của những hy vọng hão huyền. Con diều khi đứt dây, dù cuối cùng số phận nó có vắt vẻo rách nát trên một ngọn cây khô cằn nào đó, hay bị vùi dập tơi tả dưới một cơn mưa rào mùa hạ, thì ít nhất, nó đã đổi lấy được một khoảnh khắc ngắn ngủi làm vua của bầu trời. Nó đã có một sát-na được là chính nó: trọn vẹn, hoang dại, và không thuộc về ai.
Xem thêm
Bản tráng ca bên dòng Vàm Cỏ - Bút ký của Nguyễn Vũ Điền
Tròn nửa thế kỷ sau ngày lá cờ cách mạng tung bay trên nóc trụ sở chính quyền ngụy tại thị xã Tân An (tỉnh Long An), hôm nay, thành phố bên bờ Vàm Cỏ Tây lại rợp sắc đỏ trong một buổi sáng tháng Tư thiêng liêng và xúc động.
Xem thêm
Nằm trên biển – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Nằm trên bờ mép cát và sóng. Sóng lùa cát, cát tan vào sóng, rồi cát-sóng phủ quanh thân thể. Như kéo đi, như giữ lại, mơn man xì xào. Có lúc xoay người thử soi mình trên nước. Nhưng khác với sông với suối, biển không mang hình bóng theo dòng nước cuốn trôi mà xóa nhòa ngay tức khắc. Biển là sự hòa tan; biển không là sự trôi cuốn. Biển nhận tất cả vào lòng. Để làm nên sự chuyển dịch bất tận là sóng. Thầm gọi sóng, sóng ơi! Và ngay lập tức nhận ra sai lầm: tại sao lại dại khờ tạo ra một sóng nhỏ nhoi vô nghĩa trong khi điều duy nhất nên làm là buông thả hoàn toàn trong lòng sóng bằng sự yên lặng đón chờ (?)
Xem thêm
Thăm làng Thổ Hà - Bút ký Phan Anh
Thổ Hà là một ngôi làng nhỏ, cổ kính nằm bên sông Cầu “nước chảy lơ thơ” nổi tiếng ở miền quan họ. Cũng giống như nhiều làng quan họ khác của xứ Kinh Bắc, làng Thổ Hà được biết đến là một trong những trung tâm của quan họ, không những thế nơi đây còn có nghệ thuật hát tuồng khá độc đáo của đất Kinh Bắc, nhất là trong mỗi dịp hội làng, tổ chức vào khoảng gần cuối tháng Giêng hàng năm. Xong đến làng Thổ Hà rồi mới hay, có lẽ tất cả những nghệ thuật trứ danh kia, dù vẫn còn đang thịnh hành nhưng vẫn không thể nào làm cho ngôi làng bên sông ấy nổi tiếng bằng một nghề gần như đã bị thất truyền, chỉ còn trong ký ức, nghề làm gốm.
Xem thêm
Chân mây 4 - Tùy văn Nguyễn Linh Khiếu
Buổi sớm đầu xuân hai vợ chồng lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào tết. Chúng mình đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lắm. Khu vườn sau hoa bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế những cành những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn tươi thắm hơn. Cứ thế chúng mình đi từ khu vườn này sang khu vườn khác. Từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác. Từ miền hoa này sang miền hoa khác.
Xem thêm
Mùa hoa Dẻ - Tản văn Chu Phương Thảo
Tôi không biết rồi những mùa hoa sau này sẽ đưa chúng tôi đi về đâu. Chỉ thấy trong lòng mình hôm nay có một niềm vui rất đẹp. Như thể sau bao năm, hương hoa dẻ không chỉ dẫn tôi quay về một miền ký ức cũ, mà còn âm thầm mở ra một đoạn duyên mới. Với tôi hoa dẻ không chỉ là kỷ niệm, có thể đó còn là một thứ duyên lành vẫn đang tiếp tục nở, lặng lẽ trong lòng tôi.
Xem thêm
Mai – Tùy bút Nguyễn Đức Hải
Tôi vẫn nhớ như in tiếng sên xe đạp lạch cạch trên con đường đất đỏ năm nào. Con đường ấy không chỉ dẫn tôi đến trường, mà còn đưa tôi đi qua thời tuổi thơ trong veo của tình bạn. Nơi có Mai, có những tháng ngày nghèo khó nhưng ấm áp đến lạ. Với tôi, Mai không chỉ là một người bạn, mà là một phần ký ức không thể tách rời. Cho tôi học được yêu thương, hy sinh và cách nương tựa vào nhau để cùng đi qua những chông chênh của cuộc đời.
Xem thêm
​Ao làng mùa hạ trong ký ức tuổi thơ tôi - Tạp bút Nguyễn Thị Hải
Ở mỗi làng quê Việt xưa kia thường có rất nhiều ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, mương, máng..., và đó chính là những chốn mà trẻ con thường tụ tập để tắm táp, bơi lội “giải nhiệt” mỗi khi hè tới. Ở thành các phố, các khu đô thị lớn thì còn có bể bơi, các trung tâm bơi lội, chứ ở quê thì chỉ có những chốn chứa nước nôi ấy mới làm cho bọn trẻ thỏa chí vẫy vùng để xua đi cái oi nồng nóng bức.
Xem thêm
Một đêm trà đạo – Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Không có lối đi trải sỏi dẫn vào trà thất. Không đủ những quy thức cần thiết cho một buổi trà đạo “chính hiệu”. Bởi tôi và Phan Văn Cẩm chỉ đến thăm-chơi ngôi chùa nơi thầy Thông Nhã ngụ. Dự buổi trà đạo trong cái đêm trăng khi mờ khi tỏ ấy, thái độ của chúng tôi chỉ là ghé ngựa lướt hoa. Riêng hai cái “bởi” ấy, đã không tạo nên tâm thái tạm-dừng-lại những xao động bên trong, yếu tố cần thiết khi đặt bước chân đầu tiên lên con đường dẫn đến sự tham dự buổi trà đạo. Nhưng khi nhìn cái dáng ngồi nghiêng theo kiểu Nhật Bản của Ly - cô sinh viên đến từ Hà Nội, nhân vật chính trong buổi uống trà - với tấm khăn màu đỏ tươi cài bên hông (một trong những vật dụng cần thiết của trà nhân) nổi rõ trên nền vải màu trắng-vàng trong trang phục của Ly, cảm giác về sự đối sắc ấy dường như gợi lên tính đối nghịch vốn có trong mọi sự vật để dẫn đến nhận thức về sự điều hòa những yếu tố cực đoan. Và không hiểu sao, khuôn mặt trẻ con-thiếu phụ của Ly lại gợi liên tưởng đến nhân vật nữ trong tác phẩm “Ngàn cánh hạc” của nhà văn người Nhật Kawabata Yasunari, khuôn mặt biểu trưng cho những giằng xé-khát khao lặng thầm của đời sống tâm thức?
Xem thêm
Những con đường ký ức - Tản văn Nguyễn Đông Nhật
Những con đường của Hội An là những sợi máu trong tôi. Chúng đã đi qua thời gian, chịu đựng bao thác ghềnh, nhiều lúc ngỡ tan biến như những bào ảnh của lãng quên để rồi cuối cùng vẫn lặng lẽ cất lên tiếng nói mơ hồ của ký ức, nhắc rằng đó là một phần không thể thiếu trong tôi.
Xem thêm